1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THÀNH LẬP DOANH
NGHIỆP VÀ ĐĂNG KÍ KINH DOANH
buộc và cho phép xác lập tư cách pháp lí của chủ thể kinh doanh( tức là xác định tư
cách pháp lí của doanh nghiệp)
1.2 Ý nghĩa pháp lí của việc thành lập doanh nghiệp
- Đối với nhà nước, việc quy định về TLDN và ĐKKD là thể hiện sự bảo hộ của
nhà nước bằng pháp luật đối với các chủ thể hoạt động kinh doanh nói chung và các
chủ doanh nghiệp nói riêng. Đồng thời, nhà nước thực hiện chức năng quản lí cơ
cấu các thành phần kinh tế xã hội, kiểm soát các hoạt động kinh doanh theo đường
lối đã vạch ra. ĐKKD giúp cho cơ quan quản lí nhà nước nắm bắt được các yếu tố
mới trong kinh doanh để từ đó có những chủ trương, chính sách, biện pháp khuyến
khích hoặc han chế phù hợp, giúp nhà nước có thể can thiệp một cách kịp thời và có
mức độ vào nền kinh tế. Bảo đảm có được một nền kinh tế hiên đại nhưng không xa
rời chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đã đề ra.
- Đối với chủ thể ĐKKD : Sau khi được cấp giấy phép TLDN và ĐKKD, doanh
nghiệp đựợc thừa nhận về mặt pháp lí, có quyền tiến hành các hoạt động kinh doanh
như đã đăng kí dưới sự bảo hộ của pháp luật. TLDN cũng là cơ sở pháp li chắc chắn
nhất để 1 doanh nghiệp yêu cầu ác cơ quan nhà nước bảo vệ các quyền, lợi ích và
tài ssản hợp pháp của mình cũng như bảo đảm tính pháp lí đối với các hoạt động
của mình trong quá trình doanh nghệp tiến hành hoạt động kinh doanh.
- Về mặt xã hội: ĐKKD còn nhằm công khai hoá các hoạt động của doanh nghiệp
trước công chúng. Xã hội có được các thông tin và các đảm bảo về tư cách pháp lí
của doanh nghiệp. Va nó tạo ra niền tin ở các ban hàng khi thực hiện các giao dịch.
Đó cũng là điều kiện tiên quyết để 1 doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển .
- Về mặt kinh tế: Khi bước vào hoạt động kinh doanh, doanh nghệp với tư cách là
một thành viên trong cơ cấu các thành phần kinh tế, các hoạt động của doanh
nghiệp còn góp phần tác động vào sự phát triển kinh tế của toàn xã hội.
Như vậy, việc thành lập doanh nghệp không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với
3
việc bảo đảm quyền lợi cho bản thân các doanh nghiẹp mà còn có ý nghĩa đối với
việc bảo đảm trật tự quản lí nhà nước và bảo vệ lưọi ích cho các chủ thể khác trong
cho. Việc quy định cơ chế này là rào cản của quá trình tự do kinh doanh mà biểu
hiện trước hết là quyền tự do thành lập doanh nghiệp .
- Quy định của pháp luật về việc cấp giấy phép còn rất tản mạn và phân tán.Chỉ
riêng việc cấp giấy phép có 2 loại:cấp giấy phép thành lập được thực hiện đối với
doanh nghiêp tư nhân và các công ty, cấp giấy phép hoạt động được thực hiện đối
với các tổ chức tín dụng. Thẩm quyền cấp giấy phép cũng rất phân tán: Giấy phép
thành lập công ty do Chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương cấp, đối với một số ngành nghề nằm trong danh mục của điều 11 Luật công ty
quy định có cấp giấy phép hay không lại thuộc về Thủ tướng chính phủ.
- Thủ tục cấp giấy phép và hình thức cấp giấy phép chưa ổn định, thường bị thay
4
đổi. Luật do Quốc hội ban hành đã có hiệu lực nhưng chưa có văn bản hướng dẫn,
do đó, các địa phương phải ra văn bản để tạm thời hướng dẫn. Khi Chính phủ, các
bộ, ngành có văn bản hướng chính thức thì địa phương phải sửa đổi văn bản của
mình cho phù hợp với quy định của trung ương. Do đó, làm cho người kinh doanh
mất nhiều thời gian công sức cho việc hợp thức hoá công việc kinh doanh của
mình, gây tâm lí không tin tưởng vào tính ổn định, nhất quán trong chính sách pháp
luật của nhà nước ta.Vấn đề nổi cộm trong 6 tháng áp dụng Luật công ty là vốn
pháp định. Vốn pháp định quy định trọng nghị định 221_ HĐBT VÀ 222_HĐBT là
quá sơ sài, chỉ gồm 18 ngành nghề, như vậy là quá ít so với yêu cầu thực tiễn. mức
vốn pháp định quy định tại 2 nghi định này là quá thấp, không phù hợp với thực tế,
do đó, không đủ để thực hiện sự đảm bảo tối thiểu về tài sản của chủ doanh nghiệp
đối với khách hang.
- Về thủ tục ĐKKD: Việc nhà nước ban hành Luật công ty trong đó quy định thống
nhất thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan ĐKKD là một sự đổi mới trong quá trình
sắp sếp lại các doanh nghiệp. Từ đó đến nay, công tác ĐKKD tập trung vào một cơ
quan là trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố, sau khi Luật công ty được sủa đổi tháng 6/
1994 thì là sở kế hoạch , đầu tư. chế định ĐKKD mới đã tạo thuận lợi cho việc làm
thủ tục khai sinh cho các doanh nghiệp đồng thời, giúp nhà nước quản lí đối với
+ Phòng đăng kí kinh doanh thuộc Uỷ ban nhân dân huyện.
* Thủ tục thực hiện đăng kí kinh doanh:
Trình tự, thủ tục ĐKKD được pháp luật quy định cụ thể tại điều 12 LDN 1999 và
cụ thể hoá tại điều 8 nghi định 02/2000/NĐ-CP của chính phủ ngày 3/2/2000 về
ĐKKD gồm các bước: nộp hồ sơ ĐKKD, tiếp nhận hồ sơ ĐKKD, cấp giấy chứng
nhận đăng kí kinh doanh.
Tóm lại, những quy định về ĐKKD trong LDN 1999 có những đặc thù sau:
- Quy định thống nhất một thủ tục thành lập, ĐKKD cho các doanh nghiệp như:
công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn công ty hợp danh, doanh nghiệp tư
nhân.
- Thực hiện các chủ trương, cải cách hành chính mạnh mẽ với các doanh nghiệp
mới về thành lập doanh nghiệp như: bãi bỏ thủ tục “xin, cho”, quy định vốn pháp
định, đơn giản, tiêu chuẩn hoá về hồ sơ thành lập doanh nghiệp.
- Song song với LDN 1999 thì các quy định về thành lập doanh nghệp nhà nước
được ghi nhân trong văn bản luật riêng là Luật doanh nghiệp nhà nước( 1995 và
2005) và các quy định về cấp giấy phép đầu tư cho nhà đầu tư nước ngoài.
2.3. Quy định cơ bản về thanh lập doanh nghiệp trong Luật doanh nghiệp 2005
Trước sự phát triển manh mẽ của nền kinh tế thị trường , ngày 29/11/2005 Quốc
Hội khoá XI kì họp thứ 8 đã thông qua LDN 2005, việ ban hành luật doanh nghiệp
2005 đã đáp ứng yêu cầu nội tại, khách quan về hoàn thiện thể chế kinh tế thị
trường vầ định hướng XHCN, khai thác mạnh mẽ mọi nguồn lực và khơi dậy tính
năng động sang tạo của các doanh nghiệp. quy định về thành lập doanh nhgiệp
trong LDN 2005 có một số điểm nổi bật sau:
- Quy định về thành lập doanh nghiệp áp dụng thống nhất cho mọi loại hình doanh
nghiệp trong nền kinh tế bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp thuộc
sở hữu tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Diiêù này đã góp phần đáp
ứng yêu cầu bình đẳng, không phân biệt đối xử trong nền kinh tế.
- Tiếp tục hoàn thiện cơ chế hậu kiểm đã được quy định trong LDN 1999
- Tiếp tục thể chế hoá tốt hơn quyền tự do kinh doanh đã được hiến pháp 1992 thừa
nhận như mở rộng thêm về đối tượng có quyền thành lập doanh nghiệp.
d) Cán bộ lãnh đạo, quản lí nghiệp vụ trong các doanh nghiệp 100% vốn sở hữu
của Nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo uỷ quyền để quản lí
phần vốn góp của nhà nước tại doanh nghiệp khác;
đ) Người chua thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất
năng lực hành vi dân sự;
e) Người đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị tào án cấm hành nghề kinh
doanh;
g) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản.”
Sự quy định rõ ràng, cụ thể các điều kiện trên đã góp phần làm minh bạch hoá
pháp luật về ĐKKD, giúp các nhà đầu tư tự nhận thức được quyền năng của mình
để tiến hành ĐKKD một cách đúng pháp luật. Tuy nhiên, đối với mỗi loại hình
doanh nghiệp cụ thể cần có một số quy định riềng về điều kiện thành lập và quản lí
doanh nghiệp.
1.2. Điều kiện về vốn:
Vốn của doanh nghiệp là cơ sở vật chất, tài chính quan trọng nhất, là công cụ
để chủ doanh nghiệp triển khai các hoạt động kinh doanh cụ thể của doanh nghiệp.
Vốn có thể bằng tiền Việt Nam, ngoại tệ hoặc các tài sản khác. Việc quy định về
vốn pháp định là giúp doanh nghiệp sau khi ra đời có thể hoạt đọng được đồng thời
là cơ sở đảm bảo các khoản vay vốn ngân hàng và các khoản thanh toán với các chủ
nợ khác. Song về cơ sở khoa học của vấn đề vốn pháp định lại chưa được làm rõ,
chẳng hạn như lấy căn cứ nào để xác định mức vốn pháp định? Công cụ và cơ chế
nào có thể được sử dụng để đảm bảo chác chắn rằng mức vốn thực có của công ty
7
luôn duy trì ở mức không thấp hơn mức vốn pháp định. Trên thực tế thi hành pháp
luật, quy định về vốn pháp định không những không phát huy được tác dụng của nó
mầ còn nhiều điểm bất cập, nhiều vấn đề đáng được đặt ra như:
- Qua áp dụng điều kiện về vốn pháp định, cho thấy không có căn cứ xác đáng để
xác định mức vốn pháp định đối với tất cả các ngành nghề kinh doanh.
- Quy định phải có vốn tối thiểu bằng vốn pháp định mới có đủ điều kiện thành lập
ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, ngành, nghề kinh doanh phải có vốn pháp định,
ngành nghề kinh doanh phải có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề.
* Các ngành nghề bị cấm kinh doanh theo quy đinh của pháp luật hiện hành:
- Kinh doanh vũ khĩ, đạn dược, quân trang,quân dụng và phương tiện kĩ thuật chuyên
dùng trong các lực lượng vũ trang.
- Kinh doanh chất nổ, chất phóng xạ, chất độc
8
- Kinh doanh mại dâm, dịch vụ tổ chức mại dâm, buôn bán phụ nữ, trẻ em.
- Kinh doanh tổ chức gá bạc, đánh bạc.
- Kinh doanh hoá chất có tính nguy hại mạnh.
- Kinh doanh các hiên vật thuộc di tich lich sử văn hoá, bảo tang.
- Kinh doanh các sản phẩm văn hoá, đồi truỵ, mê tín, dị đoan hoặc có nguy hại đến
giáo dục nhân cách.
- Kinh doanh các loại pháo.
- Kinh doanh thực vất, động vật hoang dã, thuộc danh mục điều ước quốc tế mà Việt
Nam đã kí kết hoặc tham gia quy định và các loại động thực vật quý hiếm khác cần
được bảo vệ.
- Kinh doanh đồ chơi có hại cho giáo dục nhân cách, sức khoẻ của trẻ em hoặc ảnh
hưởng đến an toàn trật tự xã hội.
* Nghành nghề kinh doanh có điều kiên:
Đây là những ngành nghề kinh doạnh mà ít nhiều cũng đe doạ đến lợi ích của
người tiêu dùng, nhà nước và cộng đồng. Theo dó, các DN phải đáp ứng các điều kiện
kinh doanh nhất định, đó là giâý phép ĐKDK do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp
hoặc không có giấy phép nhưng phải đáp ứng các quy định về tiêu chuẩn vệ sinh môi
trường,vệ sinh an toàn thực phẩm, quy định về phòng cháy, chữa cháy, trật tự an toàn
giao thông.
*Ngành nghề kinh doanh phải có chứng chỉ hành nghề:
Chứng chỉ hành nghề là văn bản được cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc hội
nghề nghiệp cấp cho các cá nhân, có đủ những trình độ chuyên môn về một nghành
4. Chứng chỉ hành nghề của Giám đốc và cá nhân khác đối với doanh nghiệp kinh
doanh ngành, nghề mà theo quy định của pháp luật phải có chứng chỉ hành nghề.”
* Hồ sơ ĐKKD của công ty hợp danh ( Diều 17 LDN 2005):
“1. Giấy đề nghị đăng ký kinh doanh theo mẫu thống nhất do cơ quan đăng ký kinh
doanh có thẩm quyền quy định.
2.Dự thảo Điều lệ công ty.
3. Danh sách thành viên, bản sao Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng
thực cá nhân hợp pháp khác của mỗi thành viên.
4. Văn bản xác nhận vốn pháp định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đối với công
ty hợp danh kinh doanh ngành, nghề mà theo quy định của pháp luật phải có vốn
pháp định.
5. Chứng chỉ hành nghề của thành viên hợp danh và cá nhân khác đối với công ty hợp
danh kinh doanh ngành, nghề mà theo quy định của pháp luật phải có chứng chỉ hành
nghề.”
* Hồ sơ ĐKKD của công ty trách nhiệm hữu hạn (điều 18 LDN 2005):
. “1. Giấy đề nghị đăng ký kinh doanh theo mẫu thống nhất do cơ quan đăng ký kinh
doanh c óthẩm quyền quy định.
2.Dự thảo Điều lệ côn gty
.3.Danh sách thành viên và các giấy tờ kèm theo sau đây:
a) Đối với thành viên là cá nhân: bản sao Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu
hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác;
b) Đối với thành viên là tổ chức: bản sao quyết định thành lập, Giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh hoặc tài liệu tương đương khác của tổ chức; văn bản uỷ quyền, Giấy
chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của người
đại diện theo uỷ quyền.
Đối với thành viên là tổ chức nước ngoài thì bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh phải có chứng thực của cơ quan nơi tổ chức đó đã đăng ký không quá ba tháng
trước ngày nộp hồ sơ đăng ký kinh doanh.
4. Văn bản xác nhận vốn pháp định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đối với công
ty kinh doanh ngành, nghề mà theo quy định của pháp luật phải có vốn pháp định.
LDN. Theo đó, trụ sở của DN phải là một địa điểm có thực trên bản đồ hành chính
Việt Nam.
- Điều kiện về tên DN:tên của DN phải được đặt theo đúng quy định tại các điều 31
quy đinh về: “tên DN”, điều 32 quy định về : “ những điều cấm trong đặt tên DN”,
điều 33 quy định về : “ tên DN viết bằng tiếng nước ngoài và tên viết tắt của DN”,
điều 34 quy định về “tên trùng và tên gây nhầm lẫn” của LDN 2005.
- Điều kiện về lệ phí đăng kí kinh doanh: DN muốn được cấp giấy chứng nhân
ĐKKD thì phải “ nộp đủ lệ phí ĐKKD theo quy đinh của pháp luật. Lệ phí ĐKKD
đươc xác định căn cứ vào số lượng ngành, nghề ĐKKD; mức lệ phí cụ thể do Chính
phủ quy định.
2. Trình tự, thủ tục đăng kí kinh doanh.
Trình tự, thủ tục ĐKKD được pháp luật quy định tại điều 15 Luật doanh nghiệp
trong đó việc ĐKKD được tiến hành tại sơ quan đăng kí kinh doanh(phòng đăng kí
kinh doanh cấp tỉnh) qua các bước sau:
- Nộp hồ sơ ĐKKD: “người thành lập doanh nghiệp nộp đủ hồ sơ ĐKKD theo quy
định của Luật này tại cơ quan ĐKKD có thẩm quyền và phải chịu trách nhiệm về tính
trung thực, chính xác của nội dung hồ sơ ĐKKD”
11
- Tiếp nhận hồ sơ ĐKKD: được thực hiện bằng việc cơ quan ĐKKD ghi vào sổ tiếp
nhận hồ sơ ĐKKD của cơ quan mình đồng thời trao giấy biên nhận về việc nhận hồ sơ
cho người nộp hồ sơ.
- Cấp giấy chứng nhận ĐKKD : cơ quan ĐKKD cấp giấy chứng nhận ĐKKD cho
doanh nghiệp nếu:
+ Ngành nghề kinh doanh không thuộc lĩnh vực cấm ĐKKD.
+ Tên của doanh nghiệp được đặt theo đúng quy định của pháp luật.
+ Có trụ sở chính theo quy định của pháp luật
+ Có hồ sơ ĐKKD hợp lệ theo quy định của pháp luật
+ Nộp đủ lệ phí ĐKKD theo quy định của pháp luật
Sau khi được cấp giấy chứng nhận ĐKKD, doanh nghiệp sẽ được cấp con dấu và
được sử dụng con dấu của mình, được quyền thực hiện các hoạt động kinh tế theo
12
bình từ 5 trăm trở nên trong 2 năm gần nhất.
Bên cạnh đó, việc quy định thẩm quyền ĐKKD cho các doanh nghiệp thuộc về
nhiều cơ quan khác nhau có thể dẫn đến sự không thống nhất trong việc áp dụng pháp
luật và gây ra những khó khăn nhất định cho công tác quản lý nhà nước về ĐKKD,
đặc biệt là công tác tổng hợp, nắm bắt, theo dõi hoạt động của các chủ thể kinh doanh
trên phạm vi toàn quốc
Nhiệm vụ của các cơ quan ĐKKD là tiếp nhận hồ sơ, xem xét và cấp giấy chứng
nhận ĐKKD cho các doanh nghiệp. Ngoài ra theo điều 163 Luật doanh nghiệp thì cơ
quan này còn có nhiệm vụ quyền hạn sau: “Cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn
của cơ quan đăng ký kinh doanh
1. Cơ quan đăng ký kinh doanh có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
a) Giải quyết việc đăng ký kinh doanh và cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh theo quy định của pháp luật
;b) Xây dựng, quản lý hệ thống thông tin doanh nghiệp; cung cấp thông tin cho cơ
quan nhà nước, tổ chức và cá nhân có yêu cầu theo quy định của pháp luật;
c) Yêu cầu doanh nghiệp báo cáo về tình hình kinh doanh của doanh nghiệp khi xét
thấy cần thiết cho việc thực hiện các quy định của Luật này; đôn đốc việc thực hiện
chế độ báo cáo của doanh nghiệp;
d) Trực tiếp hoặc đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra doanh nghiệp
theo những nội dung trong hồ sơ đăng ký kinh doanh;
đ) Xử lý vi phạm các quy định về đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật; thu
hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và yêu cầu doanh nghiệp làm thủ tục giải
thể theo quy định của Luậ tnày;
e) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về những vi phạm trong việc đăng ký kinh doanh;
g) Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của Luật này và pháp
luật có liên quan.
2. Cơ cấu tổ chức của cơ quan đăng ký kinh doanh do Chính phủ quy định.”
Tóm lại, việc quy định nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan đăng kí kinh doanh như
trên là hợp lí bởi trong cơ chế mới không còn sự kiểm soát chặt chẽ ở khâu vào như
4.3 Dự án đầu tư phải thực hiện thủ tục thẩm tra đầu tư.
- Loại dự án thẩm tra: dự án có quy mô vốn đầu tư 300 tỉ đồng Việt Nam trở lên và
không thuộc danh mục dự án đầu tư co điều kiện; dự án thuộc danh mục dự án đầu tư
có điều kiện
- Hồ sơ thẩm tra: chủ đầu tư phải lập hồ sơ thẩm tra dự án đàu tư trình cơ quan nhà
nước có thẩm quyền thẩm tra. Đối với mỗi nhóm dự án đầu tư thì yêu cầu về hồ sơ
thẩm tra có khác nhau.
+ Đối với dự án có quy mô vốn đầu tư từ 300 tỉ đồng trở lên hoặc không thuộc mục dự
án đầu tư có điều kiện:
- Văn bản đề nghị cấp giấy chứng nhận đầu tư .
- Văn bản xác nhận tư cách pháp lí của nhà đầu tư.
- Báo cáo năng lực tài chính của nhà đầu tư.
- Giải trình kinh tế kĩ thuật.
Đối với nhà đầu tư nước ngoài còn gồm hợp đồng liên doanh hoặc hợp đồng hợp tác
liên doanh, điều lệ doanh nghiệp(nếu có).
+ Đối với các dự án thuộc danh mục dự án ddaaauf tư có điều kiện:
- Dự án có quy mô vốn dưới 300 tỉ đồng, hồ sơ gồm: giải trình điều kiện nhà đầu tư
cần đáp ứng, các yếu tố khác như hồ sơ đăng kí đàu tư.
- Nếu dự án có quy mô tư 300 tỉ Việt Nam đổng trở lên, hồ sơ thẩm tra gồm: giải trình
các điều kiện mà nhà đầu tư phải đáp ứng, các giải trình khác như hồ sơ thẩm tra đầu
tư có quy mô vốn đầu tư từ 300 tỉ đồng Việt Nam và không thuộc danh mục dự án đầu
tư có điều kiện.
Như vậy, cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đầu tư là cơ quan cấp tỉnh,
cơ quan này thực hiện cấp giấy chứng nhận đầu tư cho các nhà đầu tư trong nước và
nhà đầu tư nước ngoài.
14
III. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP
Luật doanh nghiệp ra đời thực sự là một bước đột phá,tạo nhiều điều kiện thuận lợi
cũng cần quy định rõ ràng cơ chế phối hợp giữa cơ quan có thẩm quyền đăng kí kinh
doanh với các cơ quan nhà nước khác trong việc đang kí kinh doanh cũng như công
tác điều tra giám sát hoạt động của doanh nghiệp sau khi đăng kí kinh doanh.
- Thứ tư, cần hoàn thiện các quy định pháp luật về ngành nghề kinh doanh. Hiện nay,
có nhiều ngành nghề mới ra đời nhưng chưa được bổ sung kịp thời. Nhiều lại giấp
phép có thể không còn cần thiết nhưng vẫn chưa bị loại bỏ. Việc nhà nước quy định về
đăng kí kinh doanh không hoàn toàn phụ thuộc vào ý thức chấp hành pháp luật của cơ
quan đăng kí kinh doanh, chủ thể kinh doanh mà còn do nhưng thiếu sót của chính các
quy định đó đem lại, cụ thể là:
15
+ Đối với các ngành nghề kinh doanh đòi hỏi phải có giấy phép kinh, chứng chỉ hành
nghề: thực tế tê cho thấy, hiệu quả của việc quản lí bằng giấp phép kinh doanh không
cao thậm chí có rất nhiều giấy phép chỉ mang tính hình thức. Vì vầy, cần kiên quyết
bãi bỏ những giấy phép không còn tác dụng trong thự tiễn. Các ơ quan nhà nước có
thẩm quyền cần ban hành quy chế về cấp chứng chỉ hành nghề. Quy đinh về điều kiện
kinh doanh đối với nhưng ngành nghề đó một cách chặt chẽ
+ Đối với các ngành nghề kinh doanh có điều kiện cần được quy định cụ thể, rõ ràng,
đồng thời phải có quy định chi tiết về đăng kí kinh doanh các ngành nghề đó. Nên tập
chung hợp lại trong một văn bản pháp luật cho thống nhất để tra cứu và đẽ áp dụng.
Việc quy định ngành nghề kinh doanh có đăng kí phải đúng và đủ trên cơ sở bảo vệ lợi
ihcs của số đông cộng đồng chứ không được xuất phát từ lợi ích của một nhóm các
chủ thể. Đồng thời, việc quy định về đăng kí kinh doanh ngành nghề đó phải cụ thể, rõ
ràng, phù hợp với ngành nghề thiết thực.
-Thứ năm, việc xác đinh trùng tên doanh nghệp phải tiến hành trên pham vi toàn
quốc chứ không phải trên phạm vi mỗi tinh như hiện nay.
- thứ sáu, sở kế hoạch và đầu tư cần phối hợp với Cục thuế và các cơ quan liên quan
tăng cường công tác rà soát thông tin doanh nghiệp, hoàn thiện mạng thông tin doanh
nghiệp thống nhất trên địa bàn lãnh thổ quản lí.
- Thứ bảy, cần tạo ra một cơ quan đầu mối để doanh nghiệp có thể thực hiện đăng kí
kinh doanh, thành lập doanh nghiệp ( cho dù thủ tục đăng kí doanh nghiệp có gồm bao