So sánh tên họ Tây
Phương với tên họ Trung
Hoa và Việt Nam
Vì nhiều tên họ Việt giống tên họ Trung Quốc nên khi so
sánh là ta đối chiếu một bên là Âu Mỹ, bên kia là Trung
Quốc và Việt Nam. Ta sẽ xét điểm tương đồng và dị biệt.
Những điểm tương đồng
Một cách tổng quát, tên họ Âu Mỹ hầu như hoàn toàn tương
ứng về mọi phương diện với tên họ Trung Quốc và Việt
Nam. Sau đây xin trưng ra một số ví dụ để chứng minh cho
kết luận này:
1. Tên Liên Quan Đến Địa Danh Và Khu Vực Địa
Lý: Bao gồm tên nước, tên làng, tên thành, phương hướng,
đồi núi, cây cối, súc vật.
a. Tên nước: Nếu Âu Mỹ có các họ French, English, Scott,
Walsh, Flemming là tên các nước Pháp, Anh, Tô Cách Lan,
xứ Wale, Flander, thì Trung Quốc và Việt Nam có các họ
Tần, Tề, Ngô, Việt, Sở, Trần, Thái, Trịnh, Ngụy, Hàn v.v…
là tên các nước thời Xuân Thu-Chiến Quốc.
b. Tên làng: Nếu Trung Quốc và Việt Nam có các họ Hác,
Hồng, Bi, là các tên làng, thì Âu Mỹ có các họ Avery do tên
a. Nghề nghiệp: Nếu Trung Quốc và Việt Nam có các họ
Ngư, Tiều, Canh, Mục, thì Âu Mỹ có các họ: Fisher (ngư),
Forester, Woodman (tiều), Plowman, Arkerman (canh),
Sheepherd, Shipman, Berger (mục).
b. Chức vụ công quyền: Âu Mỹ có họ King (vua), Govern
(thống đốc), Mayor, Meyers (thị trưởng). Trung Quốc và Việt
Nam có họ Hoàng, Vương, Tư Mã.
c. Chức vụ tôn giáo: Trung Quốc có họ Vu và Hích lo việc tế
tự đồng bóng. Âu Mỹ có các họ Pope ( giáo hoàng), Bishop
(giám mục), Abbot (bề trên tu viện).
d. Tên tước: Nếu Trung Quốc và Việt Nam có các họ Công,
Hầu, Bá, Tử, Nam, Vương Tôn, Công Tôn, Tôn Thất, thì tây
phương có các họ Prince, Leroy, Roy, Marquis, Lecomte,
Graft v.v…
3. Tên Liên Quan Đến Đặc Điểm Trên Cơ Thể:
a. Về vóc dáng: Âu Mỹ có các họ: Grand, Tall, Biggs (to),
Flanky (gầy). Trung Quốc Việt Nam có họ Đại, Tiểu.
b. Về màu sắc: Nếu Âu Mỹ có các họ Blanc, Leblanc, White
(trắng), Brown, Brun (nâu), Blake (đen), thì Trung Quốc và
Việt Nam có họ Huỳnh, Hoàng, Bạch. Hắc.
4. Tên Liên Quan Đến Thân Tộc: Nếu tại Âu Mỹ, người con
có thể lấy tên chính của cha làm tên họ như Johnson (con ông
không bị ai ép buộc phải đổi tên họ. Nếu tên họ khó đọc, khó
viết, hoặc tên họ có ý nghĩa xấu như họ Cochon tức con heo
chẳng hạn, họ có quyền thay đổi. Sự thay đổi đó hoàn toàn tự
nguyện và chỉ cần tòa án ra phán quyết cho các viên chức hộ
tịch thi hành.
Ngược lại, tên họ người Việt Nam là một di sản của dòng họ,
cho nên nếu không vì lý do gì đặc biệt, họ không bao giờ tự
nguyện đổi họ. Tuy nhiên, đôi khi họ lại bị bắt buộc đổi họ
để tránh phạm húy. Trước đây, người Trung Quốc cũng như
Việt Nam, khi đổi họ, không cần qua thủ tục tư pháp nào.
Ngày nay, tình hình đã thay đổi. Nếu muốn đổi họ, người ta
phải qua một thủ tục pháp lý như người Âu Châu.
4. Về Số Lượng Tên Họ : Số tên họ của người Âu Mỹ vượt
xa rất nhiều so với tên họ người Trung Quốc và Việt Nam.
Lý do là từ một họ có thể sinh ra nhiều họ dưới hình thức
khác nhau. Hơn nữa, người tây phương hầu như lấy hết các
địa danh nơi mình cư ngụ làm tên họ. Số tên họ thuộc địa
danh nhiều đến nỗi có những từ điển nói về tên họ xuất phát
từ địa danh Ví dụ Giáo sư A.H. Smith viết English Place
N[87]ame Element. Christina Blakie viết Dictionary of Place
Names.
Tại Trung Quốc và Việt Nam, tên địa danh biến thành tên họ
cũng rất ít, chỉ một số tên nước thời Chiến Quốc và một số
tên Châu, Huyện, Làng, Ấp.
Về tên nghề nghiệp biến thành tên họ: Tên nghề nghiệp nào
của Âu Châu thời Trung Cổ cũng biến thành tên họ. Trong
khi đó, tên nghề nghiệp của người Trung Quốc biến thành tên