BÁO CÁO NCKH SINH VIÊN
2010
ĐÀM VĂN TÀI – NGUYỄN NHƯ SƠN - NGUYỄN VĂN QUYẾT
Page
1
PHẦN MỘT
MỞ ĐẦU
A. TÊN ĐỀ TÀI
“ĐIỂN HÌNH HÓA SƠ ĐỒ MẠNG TIẾN ĐỘ THI CÔNG TRONG THI CÔNG PHẦN
NGẦM BẰNG CÔNG NGHỆ TOP – DOWN”
B. LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI
Quá trình phát triển đô thị hóa mạnh mẽ ở Việt Nam trong những năm gần đây, vấn
đề bãi đỗ xe trong các thành phố đông đúc chật hẹp trở nên rất cần thiết. Hơn nữa, đối
với các công trình nhà cao tầng vấn đề khống chế cao độ luôn được đặt ra. Vì vậy việc
xây dựng tầng hầm trong các công trình cao tầng thể hiện được tính hiệu quả về mặt
công năng sử dụng, kinh tế cũng như quy hoạch của thành phố. Đi cùng với phương
pháp thi công truyền thống Bottom - Up, một phương pháp rất hiện đại đang được sử
dụng rộng rãi trong thi công tầng hầm các nhà cao tầng, đó là phương pháp thi công
Top – Down. Điều này có thể có thể thấy rõ qua số liệu thống kê các công trình áp dụng
phương pháp thi công này. Bên cạnh đó là sự hỗ trợ đắc lực của các phần mềm tin học
về quản lý như Microsoft Project. Do đó, việc nắm vững công nghệ; biện pháp – kỹ
thuật thi công của phương pháp này và một số phần mềm quản lý là rất cần thiết cho
việc lập và quản lý tiến độ thi công.
Chính những lý do trên nên chúng em lựa chọn đề tài:
“Điển hình hóa sơ đồ mạng lưới tiến độ thi công trong thi công phần ngầm bằng công
nghệ Top - Down”
BÁO CÁO NCKH SINH VIÊN
2010
ĐÀM VĂN TÀI – NGUYỄN NHƯ SƠN - NGUYỄN VĂN QUYẾT
Page
3
PHẦN HAI
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
KHÁI NIỆM VÀ CÔNG NGHỆ THI CÔNG THEO PP
“TOP-DOWN”
ĐÀM VĂN TÀI – NGUYỄN NHƯ SƠN - NGUYỄN VĂN QUYẾT
Page
4
Phương pháp “Top-Down” có một số nhược điểm sau:
Việc đào một khối lượng rất lớn đất chỉ thông qua một số lỗ mở bé: như lồng thang máy,
hay đường ô tô xuống hầm, do đó việc đào và đưa đất lên là hết sức khó khăn.
Kết cấu cột tầng hầm phức tạp.
Liên kết giữa dầm sàn và cột tường khó thi công.
Thi công đất trong không gian kín khó thực hiện cơ giới hoá.
Thi công trong tầng hầm kín ảnh hưởng đến sức khoẻ người lao động.
Phải lắp đặt hệ thống thông gió và chiếu sáng nhân tạo.
Hiện nay công nghê thi công Top-Down kết hợp với tường vây Barrette đã được ứng
dụng nhiều trong xây dựng các công trình ở Việt Nam. Công nghệ Top-down đã vào Việt
Nam được hơn mười năm. Công trình đầu tiên là Harbourview - Nguyễn Huệ (1993-1994 -
Bachy Solatance), công trình thứ 2 là Saigon Center rồi nhiều công trình khác nữa.
Như ở Hà Nội có các công trình tiêu biểu như:
Tòa tháp đôi Vincom, 191 Bà Triệu: tường Barrette: 2 tầng hầm.
Khách sạn Hoàn Kiếm Hà Nội, phố Phan Chu Trinh: 2 tầng hầm.
Everfortune, 83 Lý Thường Kiệt: tường Barrette: 5 tầng hầm.
Ở Hồ Chí Minh có những công trình tiêu biểu:
Cao ốc văn phòng Phú Mỹ Hưng: 2 tầng hầm.
Harbour View Tower, 35 Nguyễn Huệ: 2 tầng hầm.
Sài Gòn Centre, 65 Lê Lợi, quận 1: 3 tầng hầm.
Sun Way Tower: tường Barrette, 2 tầng hầm.
Vincom Center: 6 tầng hầm
Cäc nhåi
§ µo
Têng
Cäc nhåi
Cäc nhåi
Trong ®Êt
Têng
Trong ®Êt
§ æ bª t«ng cét tÇng e2
Giai ®o¹n 5 : §µo ®Êt tÇng hÇm c2
Giai ®o¹n 3 : § µo ®Êt tÇng ngÇm c1
vµ têng trong ®Êt
Giai ®o¹n 1 : T hi c«ng cäc nhåi
Các giai đoạn thi công Top-down bằng hình vẽ với nhà nhiều tầng có 2 tầng hầm. BÁO CÁO NCKH SINH VIÊN
2010
ĐÀM VĂN TÀI – NGUYỄN NHƯ SƠN - NGUYỄN VĂN QUYẾT
Page
6
Trong công nghệ Top-down, các tầng hầm được mở đầu thi công bằng quá trình thi công
phần tường vây xung quanh nhà (sau này phần trên đỉnh của tường vây dùng làm tường
bao của toàn bộ các tầng hầm) và hệ cọc khoan nhồi (nằm dưới chân các móng cột) bên
trong mặt bằng nhà. Tường vây thi công theo công nghệ cọc nhồi bê tông tới cốt không
(cốt nền ngay trên mặt đất) (không tính phần bê tông chất lượng kém trên đỉnh vào trong
thành phần tường). Riêng các cọc khoan nhồi bê tông nằm dưới móng cột ở phía trong mặt
bằng nhà thì không thi công tới mặt đất mà chỉ tới ngang cốt móng (không tính phần bê
Tóm lại, quá trình thi công theo phương pháp top-down thường đi theo trình tự từng bước
như sau:
BÁO CÁO NCKH SINH VIÊN
2010
ĐÀM VĂN TÀI – NGUYỄN NHƯ SƠN - NGUYỄN VĂN QUYẾT
Page
7
Giai đoạn I: Thi công phần cột chống tạm bằng thép hình
Phương án chống tạm theo phương đứng là dùng các cột chống tạm bằng thép hình cắm
trước vào các cọc khoan nhồi ở đúng vị trí các cột suốt chiều cao từ mặt đất đến cọc nhồi.
Các cột này được thi công ngay trong giai đoạn thi công cọc khoan nhồi
Giai đoạn II: Thi công phần kết cấu ngay trên mặt đất ( tầng 1 cốt 0.00m )
Đào một phần đất để tạo chiều cao cho thi công dầm sàn tầng 1
Ghép ván khuôn thi công tầng 1
Đặt cốt thép thi công bê tông dầm - sàn tầng 1
Chờ cho bê tông có phụ gia đủ 90% cường độ yêu cầu
Giai đoạn III : Thi công tầng hầm thứ nhất
Tháo ván khuôn dầm - sàn tầng 1
Bóc đất đến cao trinh yêu cầu
Ghép ván khuôn thi công tầng ngầm thứ nhất
Đặt cốt thép và đổ bê tông dầm - sàn tầng ngầm thứ nhất
Ghép ván khuôn thi công cột – tương từ tầng hầm thứ nhất đến tầng 1
Chờ 10 ngày cho bê tông có phụ gia đủ 90% cường độ yêu cầu
Giai đoạn IV: Thi công tầng hầm dưới cùng
Đào đất đến cốt mặt dưới của đài cọc
Chống thấm cho phần móng
Thi công đài cọc
Thi công chống thấm sàn tầng hầm
Thi công cốt thép bê tông sàn tầng hầm dưới cùng
trình này do có hai tầng ngầm hố móng rất sâu và cần có tường bao nên hai phương pháp
đầu không phù hợp. Phương pháp tường trong đất có hiệu quả hơn vì trong quá trình đào
đất nó là vách giữ thành hố sau đó được giữ lại làm tường chắn tầng hầm. Với những lý do
trên ta chọn phương pháp tường trong đất để giữ thành hố đào.
BÁO CÁO NCKH SINH VIÊN
2010
ĐÀM VĂN TÀI – NGUYỄN NHƯ SƠN - NGUYỄN VĂN QUYẾT
Page
9
Thi công tường trong đất gồm các giai đoạn sau:
Công tác chuẩn bị.
Định vị trí tim tường.
Xây dựng theo trục tương lai các tường định vị.
Đào từng đốt hào trong vữa sét.
Xác nhận độ sâu hố đào và nạo vét đáy hố.
Đặt vào hào các khung cốt thép và thiết bị chặn đầu của đốt hào.
Xử lý cặn lắng đáy hố đào.
Đổ bê tông tường bằng phương pháp đổ bê tông trong nước.
1.2. Công tác chuẩn bị:
a. Tổ chức mặt bằng thi công:
Để việc thi công tường vây trong đất có kết quả tốt cần thực hiện nghiêm chỉnh
và kỹ lưỡng những khâu chuẩn bị sau:
Nghiên cứu kỹ bản vẽ thiết kế tường, tài liệu địa chất thuỷ văn của công trình, các
yêu cầu kỷ thuật của tường trong đất, các yêu cầu riêng của người thiết kế.
Lập phương án kỹ thuật thi công.
mặt nên không cần thiết phải làm sạch liên tục vữa sét. Kinh nghiệm thi công
chứng tỏ lượng tiêu hao vữa sét giảm đáng kể và khi đào thì lượng đất đào ra rơi
trở lại hào ít hơn khi dùng thiết bị khoan cắt. Thiết bị đổ bê tông: thiết bị đổ bê tông được dùng những ống thép có khớp tháo
nhanh nối với phễu, có thiết bị nâng ống, tháo đi từng khâu. Ta dùng ống đổ
Tremie với đường kính 200, khoảng cách giữa hai ống là 3m, dùng hai ống cho
mỗi đốt đào và dùng xe tự trộn vận chuyển bê tông từ nhà máy đến công trường đổ
trực tiếp vào phễu
Ống bao chứa dung dịch Bentonite: là ống bằng thép cắm sâu xuống đất 0.4m.
BÁO CÁO NCKH SINH VIÊN
2010
ĐÀM VĂN TÀI – NGUYỄN NHƯ SƠN - NGUYỄN VĂN QUYẾT
Page
11
Cẩu phục vụ đào đất và đổ bê tông:
Các thiết bị khác: gầu vét, tấm tôn lót đường cho máy chở bê tông, tấm thép cho
máy đào đứng, bàn kẹp phểu, clê xích tháo lắp ống đổ bê tông.
Dụng cụ gia công thép, máy hàn, máy uốn thép, máy cắt thép.
Thiết bị đo đạc, máy kinh vĩ, thước đo.
c. Vật liệu
Bê tông:
Yêu cầu về thành phần cấp phối :
+ Bê tông dùng cho cọc là bê tông thương phẩm với mác thiết là 300.
Mối nối thép đai dùng mối nối hàn điện một bên, chiều dài đường hàn 15d
Thép đai gia cường được hàn với thép chịu lực .
BÁO CÁO NCKH SINH VIÊN
2010
ĐÀM VĂN TÀI – NGUYỄN NHƯ SƠN - NGUYỄN VĂN QUYẾT
Page
12
Cự li mép mép giữa các cốt chủ phải lớn hơn 3 lần đường kính hạt cốt liệu thô
của bê tông.
Đai tăng cường nên đặt ở mép ngoài cốt chủ, cốt chủ không có uốn móc, móc làm
theo yêu cầu công nghệ thi công không được thò vào bên trong làm ảnh hưởng đến
hoạt động của ống dẫn bê tông.
Đường kính trong của lồng thép phải lớn hơn 100mm so với đường kính ngoài ở
chỗ đầu nối ống dẫn bê tông.
Để đảm bảo độ dày của lớp bê tông bảo vệ cần đặt các định vị trên thanh cốt chủ
cho từng mặt cắt theo chiều sâu của cọc. Dung dịch Bentonite :
Trong thi công cọc Barrette dung dịch Bentonite có ảnh hưởng lớn tới chất lượng
cọc:
+ Cao trình của dung dịch thấp, cung cấp không đủ, Bentonite bị loãng, tách
nước dễ dẫn đến dễ sập thành hố khoan, đứt cọc bê tông.
+ Dung dịch quá đặc, hàm lượng cát nhiều dẫn đến khó đổ bê tông, tắc ống đổ,
lượng cát lớn lắng ở mũi cọc sẽ làm giảm sức chịu tải của cọc .
Tác dụng của dung dịch Bentonite:
+ Làm cho thành hố đào không bị sập nhờ dung dịch chui sâu vào các khe cát ,
khe nứt , quyện với cát rời dễ sụp lở để giữ cho cát và các vật thể vụn không bị
rơi và tạo thành một màng đàn hồi bọc quanh thành vách hố giữ cho nước
Lựa chọn chiều dài các đốt đào cũng là một
vấn đề quan trọng. Khi có nhiều mối nối
quá sẽ hạn chế sự chống thấm và ảnh
hưởng đến tiến độ thi công.
b) Chọn và xác định mối nối giữa các đốt
hào:
Trong thi công tường chắn đất để đảm bảo
được khả năng chông thấm của tường thì
các panen tường phải được liên kết với
nhau và phải có hệ thống chống thấm giữa
các chỗ liên kết.
Đã có nhiều nhà sản xuất pháp triển các hệ
thông khớp nối giữa các tấm pa nel tường
riêng của mình: ở đây ta trình bày hệ khớp
nối CWS của hãng BACHY đã được coi là
hiệu quả hơn cả.
Nguyên tắc của khớp nối CWS: Khớp nối CWS là một tấm chắn sườn có thể rút ra sau
khi đào panel kế bên cho phép thi công các khớp nối kín nước giữa các panel tường
một cách dễ dàng.
Lắp dưng và tháo dỡ khớp nối CWS: Trước khi luôn chuyển dung dịch bentonit, các
khớp nối CWS đựoc lắp dựng taị đầu các panel đã đào xong. Các panel khởi đầu có
khớp nối ở 2 đầu, các panel tiếp
chỉ có khớp nối tại một đầu và
các panel đóng không có khớp
nối.
Các thuận lợi khi dùng khớp nối
CWS:
+ Tháo dỡ tấm chắn dễ dàng
không phụ thuộc vào công tác
sâu hố khoan. Có thể nối ống đổ bê tông theo hai cơ chế, bằng ren và bằng cáp. Chổ
nối thường có gioăng cao su để ngăn dung dịch Bentonite thâm nhập vào ống đổ và
được bôi mỡ để cho việc tháo lắp ống đổ bê tông được dễ dàng.
Ống được lắp dần từ dưới lên. Đáy dưới ống đổ bê tông đặt cách đáy hố khoan 20
cm để tránh mùn khoan, đất đá vào gây tắc ống. Sau khi lắp xong ống Tremie thì
tiến hành lắp phần trên. Phần trên này có hai cửa: một cửa đưa ống khí nén có
đường kính 45, một cửa nối với ống dẫn 150 thu hồi dung dịch Bentonite về
máy lọc.
1.9. Xử lí cặn lắng đáy hố đào
Vệ sinh đáy hào là một giai đoạn công nghệ quan trọng để đảm bảo phần
chân tường không có lớp đất bùn nhằm phát huy khả năng chịu tải của tường (tránh
hiện tượng lún do chiều dầy bùn quá nhiều so với quy định). Vệ sinh đáy hào bằng
phương pháp thổi rữa dùng khí nén.
Khí nén được thổi qua đường ống 45 nằm bên trong ống đổ bê tông với áp
lực và được giữ liên tục cho đến khi hút hết đất bùn. Khí nén ra khỏi ống 45 quay
lại thoát lên trên ống để tạo thành áp lực hút ở đáy ống để đưa dung dịch Bentonite
và bùn, cát lắng theo ống bê tông đến máy lọc dung dịch. Trong quá trình thổi rữa
đáy hào phải liên tục cấp bù dung dịch Bentonite để đảm bảo cao trình dung dịch
Bentonite không thay đổi.
BÁO CÁO NCKH SINH VIÊN
2010
ĐÀM VĂN TÀI – NGUYỄN NHƯ SƠN - NGUYỄN VĂN QUYẾT
Page
15
Thổi rữa theo phương pháp dùng khí nén trong khoảng 20-30 phút thì ngừng cấp khí
nén, thả dây đo độ sâu.
1.10. Đổ bê tông
Thu hồi ống thổi khí nén, lắp ống thu dung dịch Bentonite dẫn về bể lọc (lượng
dung dịch bị đẩy lên do bê tông chiếm chỗ). Lắp ống phểu đổ bê tông vào miệng BÁO CÁO NCKH SINH VIÊN
2010
ĐÀM VĂN TÀI – NGUYỄN NHƯ SƠN - NGUYỄN VĂN QUYẾT
Page
16
THI CÔNG CỌC KHOAN NHỒI
2.1. Biện pháp thi công cọc khoan nhồi
Trước khi đi vào thi công cụ thể cọc khoan nhồi chúng ta tìm hiểu một vài vấn
đề về ưu và nhược điểm về thi công của cọc nhồi để từ đó trong quá trình thi công ta
sẽ tìm các biện pháp để tận dụng triệt để ưu điểm của nó cũng như hạn chế tới mức
tối thiểu những hạn chế của nó.
Ưu điểm chính của cọc nhồi :
+ Hạn chế được ảnh hưởng đối với các công trình lân cận .
+ Hạn chế được tiếng ồn với mổi trường xung quanh so với cọc đóng .
+ Có thể đặt móng tới chiều sâu lớn khi gặp các trường hợp địa chất xen kẹp
phức tạp và lớp đất tốt ở khá sâu .
+ Khả năng chịu tải của cọc nhồi là tương đối lớn nếu việc thi công đảm bảo
được chất lượng .
Nhược điểm chính của cọc nhồi :
+ Đòi hỏi phải có máy móc thiết bị tốt và chuyên gia có nhiều kinh nghiệm .
+ Chi phí cho việc thi công cọc khoan nhồi là tương đối tốn kém .
+ Khó kiểm tra chất lượng cọc khoan nhồi cho nên trong quá trình thi công phải
tuân thủ quy trình kỹ thuật một cách chặt chẽ .
+ Thi công cọc khoan nhồi làm mất vệ sinh môi trường do gây ra nhiều bùn bẩn .
2.2. Công nghệ thi công cọc nhồi
trường và được cấp liên tục đảm bảo yêu cầu. Lượng bentonite thu hồi được đưa vào
máy lọc cát và được sử dụng lại.
Đặt thép
Gia công các lồng thép tại hiện trường, căn cứ vào thiết kế cọc ta gia công 3 lồng thép
dài 11.7 m, còn thiếu bao nhiêu thì nối thêm. Ngoài ra còn có 4 thanh Φ25 để làm
thép neo giữ lồng thép không bị tuột khi hạ cốt thép.
Dùng phương pháp hàn để nối các lồng thép.
Định vị lồng thép: sau khi lắp các lớp bảo vệ bê tông vào lồng thép ta thả lồng thép
vào sao cho tim lồng thép trùng với tim ống dẫn hướng .
Đổ bê tông:
Việc đổ bê tông cho cọc nhồi : Dùng xe chuyên chở bê
tông đổ vào hệ thống ống đổ bê tông đặt trước vào
cọc .
Việc kiểm tra chất lượng cọc khoan nhồi dùng phương
pháp siêu âm, mỗi cọc được lắp 3 ống Φ60 siêu âm . BÁO CÁO NCKH SINH VIÊN
2010
ĐÀM VĂN TÀI – NGUYỄN NHƯ SƠN - NGUYỄN VĂN QUYẾT
Page
18
2.3. Xác định thứ tự thi công các cọc trên mặt bằng
Quá tình tiến hành khoan cọc được thực hiện theo TCVN 326-2004.
Cụ thể:
Với đặc điểm công trình là khoan vào các lớp đất bão hòa nước với khoảng cách giữa
các mép cọc lớn hơn 1.5 m do đó khi thi công ta không cần chú ý đến trình tự khoan
cọc và có thể khoan các cọc liên tiếp nhau. Tuy nhiên để thuận tiện cho thi công và
tiến độ được đẩy nhanh ta tiến hành khoan các cọc liên tiếp theo phương ngang nhà,
nhồi như sau:
Định vị tim cọc.
Khoan dẫn lỗ đặt ống định vị (ống vách).
Hạ ống định vị.
Bơm dung dịch giữ thành.
Khoan tiết diện cọc và đo độ sâu.
Làm sạch đáy lỗ khoan, đo cặn lắng.
Đưa lồng cốt thép vào lỗ cọc.
Đưa ống rót bê tông vào.
Làm sạch cặn lắng lần thứ 2.
Đổ bê tông.
Rút ống định vị lên.
Hoàn thiện việc thi công cọc nhồi.
BÁO CÁO NCKH SINH VIÊN
2010
ĐÀM VĂN TÀI – NGUYỄN NHƯ SƠN - NGUYỄN VĂN QUYẾT
Page
20
Quy trình thi công được tóm tắt trong bảng dưới đây:
1. Định vị vị trí tim cọc:
Căn cứ vào bản đồ định vị công trình do văn phòng kiến trúc sư trưởng hoặc cơ quan
tương đương cấp, lập mốc giới công trình, các mốc này phải được cơ quan có thẩm
quyền kiểm tra và chấp nhận.
Từ mặt bằng định vị móng cọc của nhà thiết kế, lập hệ thống định vị và lưới khống chế
cho công trình theo hệ toạ độ Oxy. Các lưới định vị này được chuyển dời và cố định
vào các công trình lân cận, hoặc lập thành các
tháo dỡ ống đổ bê tông.
+ Ống vách được thu hồi lại sau khi đổ bê tông cọc nhồi xong.
Phương pháp hạ ống: sử dụng máy khoan với gàu có lắp thêm đai sắt để mở rộng
đường kính, khoan sẵn một lỗ đến độ sâu của ống vách. Sử dụng cần cẩu đưa ống
vách vào vị trí, hạ ống xuống đúng cao trình thiết kế. Sau đó chèn chặt ống vách bằng
đất sét và nêm chặt, cố định không cho ống vách dịch chuyển trong quá trình khoan.
3. Công tác khoan tạo lỗ:
a. Công tác chuẩn bị:
Lắp tấm tôn dày 2cm để kê máy khoan đảm bảo máy khoan ổn định trong suốt quá
trình thi công.
Đưa máy khoan vào vị trí thi công, điều chỉnh cho máy thăng bằng, thẳng đứng.
Trong quá trình thi công có hai máy kinh vĩ để kiểm tra độ thẳng đứng của cần khoan.
Kiểm tra lượng dung dịch Bentônite, đường cấp Bentônite, đường thu hồi dung dịch
Bentônite, máy bơm bùn, máy lọc, các máy dự phòng và đặt thêm ống bao để tăng
cao trình và áp lực của dung dịch Bentônite nếu cần thiết.
b. Công tác khoan :
Công tác khoan được bắt đầu khi đã thực hiện xong các công việc chuẩn bị. Công tác
khoan được thực hiện bằng máy khoan xoay.
Dùng thùng khoan để lấy đất trong hố khoan đối với khu vực địa chất không phức tạp.
Nếu tại vị trí khoan gặp dị vật hoặc khi xuống lớp cuội sỏi thì thay đổi mũi khoan cho
phù hợp.
Hạ mũi khoan vào đúng tâm cọc, kiểm tra và cho máy hoạt động.
BÁO CÁO NCKH SINH VIÊN
2010
ĐÀM VĂN TÀI – NGUYỄN NHƯ SƠN - NGUYỄN VĂN QUYẾT
Page
22
Đối với đất cát, cát pha tốc độ quay gầu khoan 20 30 vòng/phút; đối với đất sét, sét
pha: 20 22 vòng/ phút. Khi gầu khoan đầy đất, gầu sẽ được kéo lên từ từ với tốc độ
2010
ĐÀM VĂN TÀI – NGUYỄN NHƯ SƠN - NGUYỄN VĂN QUYẾT
Page
23
kế mà chỉ cần khoan thoã mãn điều kiện mũi cọc đặt sâu vào lớp cuội sỏi 2m.
Sau khi đạt độ sâu yêu cầu, ghi chép đầy đủ cao trình mũi cọc thực tế, kể cả ảnh
chụp mẫu khoan làm tư liệu. Sau đó dừng khoan, dùng gầu vét để vét sạch đất đá rơi
trong đáy hố khoan. Đo chiều sâu hố khoan chính xác bằng quả dọi.
3. Hạ cốt thép:
a. Gia công cốt thép:
Cốt thép được sử dụng đúng chủng loại, mẫu mã quy định trong thiết kế đã được
phê duyệt. Cốt thép phải có đủ chứng chỉ của nhà máy sản xuất và kết quả thí
nghiệm từ phòng thí nghiệm có tư cách pháp nhân.
Cốt thép được gia công, buộc sẵn thành lồng dài 11,7 m .Các lồng được nối với
nhau bằng nối buộc. Đường kính trong của lồng thép là 860.
Để đảm bảo cẩu lắp không bị biến dạng, đặt các cốt đai tăng cường 20, khoảng
cách 2m. Để đảm bảo lồng thép đặt đúng vị trí giữa lỗ khoan, xung quanh lồng thép
hàn các thép tấm gia công, nhô ra từ mép lồng thép là 500mm.
b. Hạ lồng thép:
Sau khi kiểm tra lớp bùn, cát lắng dưới đáy hố khoan không quá 10 cm thì tiến hành
hạ, lắp đặt cốt thép. Cốt thép được hạ xuống từng lồng một, sau đó các lồng được nối
với nhau bằng nối buộc, dùng bu lông = 14 để nối. Các lồng thép hạ trước được neo
giữ tạm thời trên miệng ống vách bằng cách dùng thanh thép hoặc gỗ ngáng qua đai
gia cường buộc sẵn cách đầu lồng khoảng 1,5 m. Dùng cẩu đưa lồng thép tiếp theo tới
nối vào và tiếp tục hạ đến khi hạ xong.
Chiều dài nối chồng thép chủ là 660 mm.
Để tránh hiện tượng đẩy nổi lồng thép trong quá trình đổ bê tông thì ta hàn 3 thanh
thép hình vào lồng thép rồi hàn vào ống vách để cố định lồng thép.
Khi hạ lồng thép phải điều chỉnh cho thẳng đứng, hạ từ từ tránh va chạm với thành hố
rửa phải liên tục cấp bù dung dịch Bentônite cho cọc để đảm bảo cao trình Bentônite
không thay đổi.
Thời gian thổi rửa thường kéo dài 20 30 phút. Sau đó ngừng cấp khí nén, dùng
thước đo độ sâu. nếu độ sâu được đảm bảo, cặn lắng nhỏ hơn 10 cm thì kiểm tra dung
dịch Bentônite lấy ra từ đáy lỗ khoan.
6. Đổ bê tông
Sau khi thổi rửa hố khoan cần tiến hành đổ bê tông ngay vì để lâu bùn đất sẽ tiếp tục
lắng. Bê tông cọc dùng bê tông thương phẩm có độ sụt: 18 2 cm.
Việc đổ bê tông trong dung dịch Bentônite được thi công bằng phương pháp rút ống.
Trước khi đổ bê tông đặt một nút bấc vào ống đổ để ngăn cách bê tông và dung dịch
Bentônite trong ống đổ, sau này nút bấc đó sẽ nổi lên và được thu hồi. Trong quá trình
đổ bê tông ống đổ bê tông được rút dần lên bằng cách cắt dần từng đoạn ống sao cho
đảm bảo đầu ống đổ luôn ngập trong bê tông tối thiểu là 2 m. Để tránh hiện tượng tắc
BÁO CÁO NCKH SINH VIÊN
2010
ĐÀM VĂN TÀI – NGUYỄN NHƯ SƠN - NGUYỄN VĂN QUYẾT
Page
25
ống khi chờ bê tông cho phép nâng lên hạ xuống ống đổ bê tông trong hố khoan
nhưng phải đảm bảo đầu ống luôn ngập trong bê tông.
Khi đổ bê tông vào hố khoan thì dung dịch Bentônite sẽ trào ra lỗ khoan, do đó phải
thu hồi Bentônite liên tục sao cho dung dịch không chảy ra quanh chỗ thi công.
Khối lượng bê tông một cọc được tính toán cho sự hao hụt 1,05 1,1 %.
Quá trình đổ bê tông được khống chế trong vòng 4 giờ. Để kết thúc quá trình đổ bê
tông cần xác định cao trình cuối cùng của bê tông. Do phần trên của bê tông thường
lẫn vào bùn đất nên chất lượng xấu cần đập bỏ sau này, do đó cần xác định cao trình
thật của bê tông chất lượng tốt trừ đi khoảng 1 m phía trên. Ngoài ra phải tính toán tới
việc khi rút ống vách bê tông sẽ bị tụt xuống do đường kính ống vách to hơn lỗ khoan.
Nếu bê tông cọc cuối cùng thấp hơn cao trình thiết kế phải tiến hành nối cọc. Ngược