99 tình huống và tư vấn pháp luật về thừa kế nhà và sử dụng đất - Pdf 11

Luật s- Tiến sĩ Phan Thị Hơng Thủy
99 Tình huống và t vấn pháp luật
về thừa kế nhà và quyền sử dụng đất
(Có áp dụng những văn bản mới ban hành
về giải quyết các tranh chấp liên quan đến thừa kế)
Nhà xuất bản t pháp
Hà Nội - 2005
Lời nói đầu
Chế định quyền thừa kế là một trong những chế định pháp luật chiếm vị trí quan
trọng của luật dân sự Việt Nam, bao gồm các quy phạm pháp luật quy định về trình tự,
thủ tục chuyển dịch tài sản của ngời chết sang cho ngời thừa kế. Theo quy định của Bộ
luật dân sự Việt Nam (năm 1995 và năm 2005) thì di sản thừa kế bao gồm tài sản riêng
của ngời chết, phần tài sản của ngời chết trong khối tài sản chung với ngời khác. Quyền
sử dụng đất cũng đợc coi là di sản thừa kế đặc biệt và đợc để lại thừa kế theo quy định
của Bộ luật dân sự và pháp luật về đất đai. Sở dĩ việc thừa kế di sản là quyền sử dụng đất,
tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất phải tuân theo pháp luật đất đai vì theo quy định
của Hiến pháp năm 1992 đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nớc thống nhất quản lý.
Theo các quy định pháp luật ban hành trớc năm 1992 (Luật hôn nhân và gia đình năm
1959, Luật hôn nhân và gia đình năm 1986, Luật đất đai năm 1987 ) thì đất đai thuộc
quyền sở hữu toàn dân, do đó quyền sử dụng đất đợc giao không phải là quyền sở hữu về
tài sản của công dân nên không thể trở thành di sản khi công dân chết.
Theo quy định của pháp luật thì một trong những căn cứ xác lập quyền sử dụng
đất của cá nhân là thông qua việc nhận chuyển quyền sử dụng đất thông qua thừa kế.
Thừa kế quyền sử dụng đất là việc chuyển quyền sử dụng đất của ngời chết sang ngời
còn sống (ngời thừa kế) theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Trong các loại di sản thừa kế thì quyền sử dụng đất và quyền sử dụng đất gắn liền
với tài sản trên đó (nhà cửa, công trình, cây lâu năm ) là loại di sản thừa kế mà điều
kiện để lại thừa kế và nhận thừa kế phải tuân theo những quy định pháp luật riêng khác
với loại di sản thừa kế là động sản. Điểm khác nhau giữa di sản thừa kế là quyền sử dụng
đất hoặc quyền sử dụng đất có tài sản gắn liền với đất với các tài sản khác chính là ngoài
áp dụng các quy định về thừa kế của Bộ luật dân sự còn phải áp dụng các quy định của

hữu, thời hiệu thừa kế đợc áp dụng thống nhất cho các loại đất theo pháp luật dân sự và
đất đai.
Một trong những vấn đề chủ yếu cần làm rõ khi xác lập quyền thừa kế là phải xác
định tài sản để lại thừa kế là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của ngời chết. Khi có tranh
chấp đối với di sản thừa kế thì việc xác định những ngời thuộc hàng thừa kế theo pháp
luật (đối với trờng hợp không có di chúc) là rất quan trọng.
Những vụ án liên quan đến thừa kế mà có yếu tố nớc ngoài sẽ đợc áp dụng pháp
luật pháp luật Việt Nam trong trờng hợp các điều ớc quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc
tham gia không có quy định, pháp luật nớc ngoài không đợc viện dẫn hoặc thoả thuận áp
dụng mà việc thoả thuận này không trái với quy định của pháp luật Việt Nam. "Quan hệ
dân sự có yếu tố nớc ngoài" đợc quy định rõ hơn trong Bộ luật dân sự năm 2005 nh sau:
Quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nớc
ngoài, ngời Việt Nam định c ở nớc ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham
gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó
theo pháp luật nớc ngoài, phát sinh tại nớc ngoài, hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở
nớc ngoài.
Đối với các yêu cầu khởi kiện liên quan đến tranh chấp tài sản thừa kế thì toà án
giải quyết nếu còn thời hiệu và theo quy định của pháp luật dân sự thời hiệu yêu cầu toà
án chia thừa kế là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế. Đối với di sản là quyền sử dụng
đất thì toà án giải quyết theo quy định của luật dân sự và luật đất đai.
Qua thực tế cho thấy nhiều trờng hợp công dân bị mất quyền yêu cầu tòa án chia
thừa kế theo quy định pháp luật do hết thời hiệu chỉ vì ngời thừa kế không nắm đợc các
quy định pháp luật về thừa kế (ví dụ quyền khởi kiện liên quan đến quyền thừa kế). Có
những trờng hợp những ngời thừa kế đã định đoạt di sản thừa kế nhng vì không tuân thủ
các quy định về hình thức nên không có căn cứ để chứng minh quyền sở hữu của mình
trong khối tài sản thuộc sở hữu chung (ví dụ không đăng ký quyền sở hữu đối với bất
động sản khi đợc thừa kế, tặng cho).
Luật đất đai năm 2003 (có hiệu lực từ 1/7/2004) đã bắt đầu đi vào cuộc sống với
những quy định cụ thể về điều kiện thủ tục để lại thừa kế quyền sử dụng đất nh: Đăng ký
quyền sử dụng đất trong trờng hợp đợc để lại thừa kế; cấp giấy chứng nhận quyền sử

Hà Nội, ngày 30 tháng 6 năm 2005.
Luật s, tiến sĩ
Phan Thị Hơng Thủy
Trởng Văn phòng luật s Hoàng Long
Thông tin tác giả
- Tác giả: Phan Thị Hơng Thủy
- Sinh năm: 1959
- Tại: Hà Nội
- Quê quán: Thừa Thiên Huế
- Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp quốc gia Lômônôxốp (tại Mátxcơva- Liên Xô cũ)
- Học vị: Tiến sĩ luật học
- Luật s thuộc Đoàn luật s Hà Nội
- Giám đốc Công ty luật Hoàng Long
- Trởng Văn phòng luật s Hoàng Long
- Trởng Chi nhánh Văn phòng luật s Hoàng Long tại Đông Anh.
- Chi hội trởng Chi hội luật gia Văn phòng luật s Hoàng Long
- Địa chỉ: số 768 Minh Khai, Hai Bà Trng, Hà Nội
- Điện thoại: 04.9712632 - 04.9871778
- Fax: 04.9871778
- Di động: 0903.454699
- Email: /
- Website:http//www.lawvietnam.com.vn
3
Phần thứ nhất
Những vấn đề cơ bản về pháp luật thừa kế của Việt nam
Điều 58 Hiến pháp năm 1992 quy định: Nhà nớc bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp
và quyền thừa kế của công dân. Quyền thừa kế là một quyền Hiến định của công dân và
đợc Nhà nớc bảo đảm bằng việc nhiều văn bản pháp luật nh Pháp lệnh thừa kế năm 1990,
Bộ luật dân sự năm 1995, Luật đất đai năm 2003, Bộ luật dân sự năm 2005
1.Quyền thừa kế:

Con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi đợc thừa kế di sản của nhau. Ngoài ra, con nuôi
còn đợc thừa kế về phía cha, mẹ đẻ của mình theo di chúc hoặc theo quy định của pháp
luật.
- Trờng hợp ngời thừa kế không phải là cá nhân: Cơ quan, tổ chức đợc xác định là
ngời thừa kế theo di chúc với điều kiện là đang tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
Cá nhân đợc hởng di sản thừa kế có thể là ngời đã thành niên hoặc cha thành niên,
ngời có nhợc điểm về thể chất hoặc tâm thần, ngời đang bị giam giữ, ngời đang phải thi
hành án hình sự, ngời vắng mặt, ngời đang ở nớc ngoài trừ các trờng hợp pháp luật quy
định nh:
4
- Ngời bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi
ngợc đãi nghiêm trọng, hành hạ ngời để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự,
nhân phẩm của ngời đó;
- Ngời vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dỡng ngời để lại di sản;
- Ngời bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng ngời thừa kế khác nhằm h-
ởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà ngời thừa kế đó có quyền hởng;
- Ngời có hành vi lừa dối, cỡng ép hoặc ngăn cản ngời để lại di sản trong việc lập
di chúc, sửa chữa di chúc, huỷ di chúc nhằm hởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với
ý chí của ngời để lại di sản.
Tuy nhiên những ngời này vẫn đợc hởng di sản, nếu ngời để lại di sản đã biết hành
vi của ngời đó, nhng vẫn cho họ hởng di sản theo di chúc.
Ngoài ra, pháp luật cũng quy định trờng hợp những ngời có quyền thừa kế di sản
của nhau đều chết trong cùng một thời điểm hoặc đợc coi là chết trong cùng một thời
điểm do không thể xác định đợc ngời nào chết trớc, thì họ không đợc thừa kế di sản của
nhau và di sản của mỗi ngời do ngời thừa kế của ngời đó hởng (trừ trờng hợp thừa kế thế
vị- đây là 1 điểm mới của Bộ luật dân sự 2005).
Bên cạnh đó, có những ngời thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc nh:
con cha thành niên hoặc đã thành niên mà không có khả năng lao động, cha, mẹ, vợ,
chồng của ngời đó. Những ngời này sẽ đợc hởng phần di sản bằng 2/3 suất của một ngời
thừa kế theo pháp luật nếu nh di sản đợc chia theo pháp luật, trong trờng hợp họ không

5
Phần tài sản của ngời để lại thừa kế trong khối tài sản chung với ngời khác là phần
tài sản thuộc sở hữu chung của ngời chết với những chủ thể khác nh: phần vốn góp trong
công ty cổ phần, phần nhà đất cùng chung mua với ngời khác
Quyền về tài sản theo quy định của Bộ luật dân sự cũng đợc coi là tài sản. Quyền
tài sản là quyền trị giá đợc bằng tiền và có thể chuyển giao trong quan hệ dân sự nh:
quyền đòi nợ, đòi tài sản cho thuê cho mợn, đòi bồi thờng thiệt hại
Quyền sử dụng đất cũng thuộc di sản thừa kế nhng vì đây là một loại tài sản đặc
biệt nên theo quy định của pháp luật đất đai thì ngời sử dụng đất chỉ đợc thực hiện quyền
thừa kế khi có các điều kiện nh: có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đất không có
tranh chấp, quyền sử dụng đất không bị kê biên để đảm bảo thi hành án, trong thời hạn
sử dụng đất. Theo Bộ luật dân sự năm 2005 chỉ quy định về di sản thừa kế nói chung còn
di sản là quyền sử dụng đất đợc quy định cụ thể trong Luật đất đai năm 2003.
Theo quy định tại Nghị quyết số 02 của Hội đồng thẩm phán Toà án Nhân dân tối
cao ban hành ngày 10/8/2004 thì quyền sử dụng đất đợc xác định là di sản thừa kế trong
những trờng hợp sau:
- Đối với đất do ngời chết để lại (không phân biệt có tài sản hay không có tài sản
gắn liền với quyền sử dụng đất) mà ngời đó đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
theo Luật đất đai năm 1987, Luật đất đai năm 1993, Luật đất đai năm 2003 thì quyền sử
dụng đất đó là di sản.
- Đối với trờng hợp đất do ngời chết để lại mà ngời đó có 1 trong các loại giấy tờ
quy định tại các khoản 1, 2 và 5 điều 50 Luật đất đai năm 2003 (có 8 loại giấy tờ), thì kể
từ ngày 1/7/2004 quyền sử dụng đất đó cũng là di sản, không phụ thuộc vào thời điểm
mở thừa kế.
Trong các quy định của pháp luật thừa kế có những quy định cụ thể về di sản dùng
vào việc thờ cúng. Đây là sự định đoạt của ngời chết dành 1 phần tài sản của mình để
đảm bảo cho việc thờ cúng mình và thờ cúng tổ tiên. Phần di sản thờ cúng chỉ dùng vào
việc thờ cúng mà không đợc chia cho những ngời thừa kế và ngời lập di chúc sẽ chỉ định
ngời đợc giao quản lý, sử dụng. Ngời đợc giao quản lý di sản thờ cúng chỉ có quyền sử
dụng, thu lợi của tài sản để thực hiện việc thờ cúng chứ không có quyền sở hữu đối với

những ngời thừa kế mới có các quyền và nghĩa vụ tài sản do ngời chết để lại. Địa điểm
mở thừa kế là nơi c trú cuối cùng của ngời để lại di sản hoặc nếu không xác định đợc nơi
c trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ hoặc có phần lớn di sản.
Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế là thời hạn mà ngời thừa kế đợc quyền khởi
kiện để yêu cầu toà án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm nếu thời hạn đó kết
thúc thì mất quyền khởi kiện. Pháp lệnh thừa kế và Bộ luật dân sự đều quy định thời hiệu
khởi kiện về quyền thừa kế là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế. Thời hiệu khởi kiện về
quyền thừa kế là một chế định pháp lý quan trong theo đó thì trong thời hạn 10 năm này,
ngời thừa kế có thể thực hiện quyền thừa kế của mình bằng việc khởi kiện tại toà án để
yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của ng-
ời khác. Quyền thừa kế bị chấm dứt khi hết thời hạn khởi kiện mà pháp luật quy định. Bộ
luật dân sự năm 2005 còn quy định thời hiệu khởi kiện để yêu cầu ngời thừa kế thực hiện
nghĩa vụ về tài sản của ngời chết để lại là 3 năm kể từ thời điểm mở thừa kế (điều 645).
Thoả thuận là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, nên trong
một số trờng hợp không cần tính đến thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế đó là khi di
sản thừa kế chuyển thành tài sản thuộc sở hữu chung. Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP
của Hội đồng thẩm phán Toà án Nhân dân tối cao ngày 10/8/2004 hớng dẫn áp dụng
pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình đa ra các trờng
hợp nh sau:
+ Trờng hợp trong thời hạn mời năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa
kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế
hoặc sau khi kết thúc thời hạn mời năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về
hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do ngời chết để lại cha chia thì di sản đó chuyển
thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và có yêu cầu Toà án giải quyết
thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế mà áp dụng các quy định của
pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết. Cụ thể:
- Nếu có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận việc chia
tài sản sẽ đợc thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản
chung đó đợc thực hiện theo di chúc.
- Nếu không có di chúc mà các đồng thừa kế thoả thuận về phần mỗi ngời đợc h-

hơn Bộ luật dân sự năm 1995 nh sau: Trong thời hạn 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế
ngời thừa kế có quyền khởi kiện để chia di sản thừa kế; xác nhận quyền thừa kế của
mình; bác bỏ quyền thừa kế của ngời khác. Đồng thời ngời thừa kế cũng phải thực hiện
nghĩa vụ về tài sản do ngời chết để lại trong 3 năm kể từ thời điểm mở thừa kế theo yêu
cầu của ngời có quyền.
Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp về thừa kế tài sản thuộc thẩm quyền giải
quyết của Toà án Nhân dân theo quy định tại khoản 5 điều 25 Bộ luật tố tụng dân sự năm
2004.
Đối với di sản thừa kế là quyền sử dụng đất thì thẩm quyền giải quyết đợc xác
định nh sau:
- Trờng hợp đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại
giấy tờ quy định tại khoản 1, 2 và 5 điều 50 Luật đất đai và tranh chấp về tài sản gắn liền
với đất thì do Toà án nhân dân giải quyết.
-Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối
cao ngày 10/8/2004 quy định về trờng hợp ngời chết để lại quyền sử dụng đất mà đất đó
không có 1 trong các loại giấy tờ đợc hớng dẫn tại tiểu mục 1.1 và tiểu mục 1.2 mục 1
này nhng có di sản là nhà ở, vật kiến trúc khác (nh: nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh, giếng
nớc, nhà để ô tô, nhà thờ, tờng xây làm hàng rào gắn liền với nhà ở, các công trình xây
dựng trên đất đợc giao để sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh nh nhà xởng, kho
tàng, hệ thống tới, tiêu nớc, chuồng trại chăn nuôi hay vật kiến trúc khác hoặc trên đất đó
có các tài sản khác nh cây lấy gỗ, cây lấy lá, cây ăn quả, cây công nghiệp hay các cây
lâu năm khác) gắn liền với quyền sử dụng đất đó mà có yêu cầu chia di sản thừa kế thì
phân biệt các trờng hợp sau:
- Trong trờng hợp đơng sự có văn bản của UBND cấp có thẩm quyền xác nhận
việc sử dụng đất đó là hợp pháp, nhng cha kịp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
thì Toà án giải quyết yêu cầu chia di sản là tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất và
quyền sử dụng đất đó.
- Trong trờng hợp đơng sự không có văn bản của UBND cấp có thẩm quyền xác
nhận việc sử dụng đất đó là hợp pháp, nhng có văn bản của UBND cấp có thẩm quyền
cho biết rõ là việc sử dụng đất đó không vi phạm quy hoạch và có thể đợc xem xét để

mình; ngời cha thành niên từ đủ 15 tuổi nhng cha đủ 18 tuổi có thể lập di chúc nếu đợc
cha, mẹ hoặc ngời giám hộ đồng ý. Vợ, chồng cũng có thể lập di chúc chung để định
đoạt tài sản chung của vợ chồng.
Ngời lập di chúc có quyền chỉ định hoặc truất quyền hởng di sản đối với ngời thừa
kế; xác định phần di sản cho từng ngời thừa kế; dành 1 phần tài sản trong khối di sản để
di tặng, thờ cúng; giao nghĩa vụ cho ngời thừa kế trong phạm vi di sản của mình và chỉ
định ngời giữ di chúc, ngời quản lý, ngời phân chia di sản.
Theo quy định của pháp luật ngời để lại di chúc có thể bằng miệng hoặc bằng văn
bản.
Đối với di chúc miệng là di chúc đợc lập trong trờng hợp tính mạng một ngời bị
cái chết đe doạ do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác (bị tai nạn, thơng tật ) mà không
thể lập di chúc bằng văn bản. Tuy nhiên, di chúc miệng chỉ hợp pháp khi ngời để di chúc
miệng thể hiện ý chí cuối cùng của họ trớc mặt ít nhất hai ngời làm chứng và ngay sau
đó những ngời này phải ghi chép lại và cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Sau 3 tháng kể từ thời
điểm để di chúc miệng mà ngời di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng
bị hủy bỏ.
Đối với di chúc bằng văn bản chỉ đợc coi là hợp pháp khi có đủ các điều kiện nh:
Về ý chí: Ngời lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị
lừa dối, đe doạ hoặc cỡng ép.
Về nội dung: những định đoạt của ngời lập di chúc không đợc trái pháp luật, đạo
đức xã hội.
Về hình thức: Ngời lập di chúc tự tay mình viết và ký vào di chúc mà không cần
có ngời làm chứng.
Di chúc của ngời từ đủ 15 tuổi đến cha đủ 18 tuổi phải đợc lập thành văn bản và
phải đợc cha, mẹ hoặc ngời giám hộ của ngời đó đồng ý.
Nếu trờng hợp ngời lập di chúc không thể tự mình viết di chúc thì có thể nhờ ngời
khác viết nhng phải có ít nhất hai ngời làm chứng. Ngời lập di chúc phải ký hoặc điểm
chỉ trớc mặt những ngời làm chứng và những ngời làm chứng này phải xác nhận chữ ký,
điểm chỉ của ngời lập di chúc và ký vào di chúc.
9

chúc bằng di chúc mới thì di chúc trớc bị huỷ bỏ. Di chúc chung của vợ, chồng cũng có
thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ bất cứ lúc nào. Khi vợ hoặc chồng muốn sửa đổi,
bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung thì phải đợc sự đồng ý của ngời kia; nếu một ng-
ời đã chết thì ngời kia chỉ có thể sửa đổi, bổ sung di chúc liên quan đến phần tài sản của
mình.
Nhìn chung, một bản di chúc đợc thực hiện trên thực tế phải là di chúc có hiệu lực
pháp luật. Nói đến hiệu lực pháp luật của di chúc là nói đến tính bắt buộc phải thi hành,
phải tuân theo di chúc.
Di chúc có hiệu lực pháp luật là các di chúc đảm bảo các điều kiện của một di
chúc hợp pháp nh đã nêu và có hiệu lực kể từ thời điểm mở thừa kế.
Di chúc không có hiệu lực pháp luật có thể là không có hiệu lực pháp luật toàn bộ
hoặc không có hiệu lực một phần khi: Ngời thừa kế theo di chúc chết trớc hoặc chết cùng
thời điểm với ngời lập di chúc; cơ quan, tổ chức đợc chỉ định là ngời thừa kế không còn
vào thời điểm mở thừa kế. Nếu có nhiều ngời thừa kế mà có ngời chết trớc hoặc chết
cùng thời điểm với ngời lập di chúc, một trong nhiều cơ quan, tổ chức đợc chỉ định hởng
thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di chúc có liên
quan đến ngời chết trớc hoặc cùng thời điểm, đến cơ quan, tổ chức không còn đó là
không có hiệu lực pháp luật.
10
Di chúc cũng không có hiệu lực pháp luật nếu di sản thừa kế không còn vào thời
điểm mở thừa kế, nếu di sản để lại cho ngời thừa kế chỉ còn 1 phần thì phần di chúc về
phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực.
Nếu di chúc có phần không hợp pháp mà phần đó không ảnh hởng đến hiệu lực
của các phần khác thì chỉ phần không hợp pháp là không có hiệu lực pháp luật.
Khi một ngời để lại nhiều bản di chúc đối với một di sản thì chỉ bản di chúc sau
cùng mới có hiệu lực pháp luật. Riêng với trờng hợp vợ, chồng lập di chúc chung mà một
ngời chết trớc thì chỉ phần di sản của ngời chết trong tài sản chung có hiệu lực pháp luật.
Còn nếu vợ, chồng có thoả thuận trong di chúc về thời điểm có hiệu lực của di chúc là
thời điểm ngời sau cùng chết thì di sản này chỉ đợc phân chia từ thời điểm đó. Bộ luật
dân sự năm 2005 quy định di chúc chung của vợ, chồng có hiệu lực từ thời điểm ngời sau

Để đảm bảo quyền lợi của những ngời thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ hai, thứ ba
đợc nhận phần thừa kế di sản của ngời ở hàng thừa kế trớc đã chết, pháp luật thừa kế quy
định trờng hợp thừa kế thế vị. Đó là trờng hợp nếu con của ngời để lại di sản chết trớc
ngời này thì phần di sản đáng lẽ ngời con đó đợc hởng nếu còn sống sẽ do con của họ
(tức cháu của ngời để lại di sản) đợc hởng. Bộ luật dân sự năm 2005 quy định cả trờng
hợp con của ngời để lại di sản chết cùng thời điểm với ngời này cũng đợc hởng theo quy
định trên. Trờng hợp nếu cháu cũng chết trớc ngời để lại di sản thì con của cháu (tức là
chắt của ngời để lại di sản) đợc hởng phần di sản mà đáng lẽ cha hoặc mẹ của chắt đợc
hởng nếu còn sống. Bộ luật dân sự năm 2005 quy định cả trờng hợp cháu chết cùng thời
điểm với ngời này thì cũng đợc hởng thừa kế.
11
Trong quan hệ thừa kế theo pháp luật cũng có trờng hợp ngời không có quan hệ
huyết thống với ngời chết mà chỉ có quan hệ nuôi dỡng cũng có quyền hởng thừa kế. Đó
là quan hệ giữa con riêng với bố dợng, mẹ kế. Cũng nh quan hệ giữa con nuôi với cha,
mẹ nuôi, pháp luật quy định về điều kiện để những ngời không có quan hệ huyết thống
với ngời để lại di sản là giữa họ phải có sự chăm sóc, nuôi dỡng nhau nh cha con, mẹ
con. Ngoài đợc hởng thừa kế di sản của nhau, họ còn đợc thừa kế di sản theo quy định
pháp luật nh đã nêu ở trên. Đối với quan hệ giữa con riêng và bố dợng, mẹ kế, về mặt
luật thực định, tuy có quy định cho họ đợc thừa kế di sản của nhau, nhng điều 679 Bộ
luật dân sự (điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005) không xếp họ vào hàng thừa kế nào nên
việc phân chia di sản thừa kế cho họ theo pháp luật là rất khó. Đó cũng là điểm bất cập
của pháp luật về thừa kế hiện hành trong khi quan hệ giữa con con nuôi với cha mẹ nuôi
tuy không phải là quan hệ huyết thống nhng vẫn đợc xác định thuộc hàng thừa kế thứ
nhất.
5.Thanh toán và phân chia di sản:
Một trong những vấn đề thờng gây tranh chấp trong các vụ tranh chấp về thừa kế
di sản là phân chia di sản thừa kế và đây cũng là vấn đề trung tâm các tranh chấp thừa kế,
nhất là đối với loại tài sản đặc biệt nh nhà và quyền sử dụng đất.
Pháp luật quy định sau khi có thông báo về việc mở thừa kế (tức là khi ngời để lại
di sản chết) hoặc công bố di chúc thì những ngời thừa kế có thể họp mặt để thoả thuận

đợc chia đều cho những ngời đợc chỉ định trong di chúc, trừ trờng hợp có thoả thuận
khác.
12
Trong trờng hợp di chúc xác định phân chia di sản theo hiện vật thì ngời thừa kế đ-
ợc nhận hiện vật kèm theo hoa lợi, lợi tức thu đợc từ hiện vật đó hoặc phải chịu phần giá
trị của hiện vật bị giảm sút tính đến thời điểm phân chia di sản; nếu hiện vật bị tiêu huỷ
do lỗi của ngời khác, thì ngời thừa kế có quyền yêu cầu bồi thờng thiệt hại.
Trong trờng hợp di chúc chỉ xác định phân chia di sản theo tỷ lệ đối với tổng giá
trị khối di sản thì tỷ lệ này phải đợc tính trên giá trị khối di sản đang còn vào thời điểm
phân chia di sản.
Còn phân chia di sản theo pháp luật thì khi phân chia di sản nếu có ngời thừa kế
cùng hàng đã thành thai nhng cha sinh ra thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà
ngời thừa kế khác đợc hởng để nếu ngời thừa kế đó còn sống khi sinh ra thì đợc hởng;
nếu chết trớc khi sinh ra thì những ngời thừa kế khác đợc hởng.
Những ngời thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không
thể chia đều bằng hiện vật thì những ngời thừa kế có thể thoả thuận về việc định giá hiện
vật và thoả thuận về việc định giá hiện vật và thoả thuận về ngời nhận hiện vật; nếu
không thoả thuận đợc thì hiện vật đợc bán để chia.
Tuy nhiên, theo ý chí của ngời lập di chúc hoặc theo thoả thuận của tất cả những
ngời thừa kế, di sản chỉ đợc phân chia sau một thời hạn nhất định thì chỉ khi nào thời hạn
đó đã hết mới đợc đem chia di sản.
Bộ luật dân sự năm 2005 còn quy định trờng hợp đã phân chia di sản mà xuất hiện
ngời thừa kế mới thì không thực hiện việc phân chia lại di sản bằng hiện vật, nhng những
ngời thừa kế đã nhận di sản phải thanh toán cho ngời thừa kế mới một khoản tiền tơng
ứng với phần di sản của ngời đó tại thời điểm thanh toán theo tỷ lệ tơng ứng với phần di
sản đã nhận trừ trờng hợp có thoả thuận khác. Hoặc trong trờng hợp đã phân chia di sản
mà có ngời thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế thì ngời đó phải trả lại di sản hoặc thanh
toán một khoản tiền tơng đơng với giá trị di sản đợc hởng tại thời điểm chia thừa kế, trừ
trờng hợp có thoả thuận khác (điều 687).
Tóm lại: quyền thừa kế là một trong những quyền quan trọng của công dân vì liên

căn cứ xác lập quyền sở hữu là: Đợc thừa kế tài sản. Vì tài sản ở tại Việt Nam nên điều
kiện đợc hởng thừa kế phải tuân theo pháp luật của Việt Nam là nơi có tài sản (theo quy
định tại khoản 1 Điều 833 Bộ luật dân sự năm 1995).
Khoản 1 Điều 833 Bộ luật dân sự
(2)
quy định: Việc xác lập, chấm dứt quyền sở
hữu, nội dung quyền sở hữu đối với tài sản đợc xác định theo pháp luật của nớc
nơi có tài sản đó, trừ trờng hợp pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
có quy định khác .
Khoản 3 Điều 15 Bộ luật dân sự
(3)
quy định: Bộ luật dân sự đợc áp dụng đối với
các quan hệ dân sự có ngời Việt Nam định c ở nớc ngoài tham gia tại Việt Nam, trừ một
số quan hệ dân sự mà pháp luật có quy định riêng. Do đó, anh cũng thuộc đối tợng điều
chỉnh của Bộ luật này.
Căn cứ Điều 634 Bộ luật dân sự
(4)
quy định về quyền thừa kế của cá nhân nh sau:
Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho
ngời thừa kế theo pháp luật; hởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Nh vậy anh đợc hởng di sản thừa kế nếu bố mẹ anh có để lại di chúc nói về vấn đề
này hoặc là ngời thuộc hàng thừa kế theo quy định của pháp luật trong trờng hợp bố mẹ
anh không để lại di chúc.
Vì di sản thừa kế là bất động sản (nhà gắn liền với quyền sử dụng đất)- là loại tài
sản đặc biệt nên theo quy định của pháp luật Việt Nam, ngời Việt Nam định c ở nớc
ngoài vẫn có thể đợc hởng thừa kế tài sản của cha mẹ họ để lại tại Việt Nam nếu có đủ
các điều kiện nh sau:
- Đối với di sản thừa kế là nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất: theo quy định tại
điểm d khoản 2 Điều 121 Luật đất đai năm 2003 thì trờng hợp ngời thừa kế là ngời Việt
Nam định c ở nớc ngoài không thuộc đối tợng quy định tại khoản 1 Điều này) thì đợc h-

gia đình và ngời thân ở nớc ngoài sẽ đợc phép mua, chuyển, mang ngoại tệ ra nớc
ngoài trên cơ sở xuất trình các giấy tờ có liên quan theo quy định của Ngân hàng nhà n-
ớc.
Nh vậy sau khi đợc nhận giá trị thừa kế bằng tiền thì anh có quyền mua ngoại tệ
và chuyển ra nớc ngoài theo quy định nêu trên.

(1) Khoản 5 điều 170 Bộ luật dân sự năm 2005.
(2) Khoản 1 điều 766 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: "Việc xác lập, thực hiện, thay
đổi, chấm dứt quyền sở hữu tài sản, nội dung quyền sở hữu đối với tài sản đợc xác định
theo pháp luật của nớc nơi có tài sản đó, trừ trờng hợp quy định tại khoản 2 và khoản 4
điều này".
(3) Bộ luật dân sự năm 2005 đã bỏ quy định này. Vấn đề này đợc quy định tại khoản 5
điều 113 Luật đất đai năm 2003: "Cá nhân có quyền để thừa kế quyền sử dụng đất của
mình theo di chúc hoặc theo pháp luật".
(4) Điều 631 Bộ luật dân sự năm 2005.
(5) Bộ luật dân sự năm 2005 đã bỏ quy định này.
2. Ngời con đã đợc bố mẹ cho quyền sử dụng đất thì có quyền đòi chia thừa kế nữa
không?
Bố mẹ tôi có 879m2 đất thổ c tại xã Liên Ninh, Thanh Trì, Hà Nội và có tám ngời con.
Khi bố tôi còn sống đã chia cho hai ngời con là tôi và anh C hai mảnh đất trong tổng
diện tích đó (vào năm 1983 và 1991) còn những ngời con khác thì không đợc chia vì cha
xây dựng gia đình. Năm 1996 bố tôi mất không để lại di chúc, mẹ tôi là ngời sử dụng và
đóng thuế từ đó cho đến nay. Năm 2003 mẹ tôi chia diện tích đất còn lại cho 3 ngời con
trai cha đợc chia (còn tôi, anh C và ba ngời con gái đã đi lấy chồng không đợc chia
nữa). Nhng anh C muốn đợc chia thêm một phần nữa nhng mẹ tôi không đồng ý. Hỏi
anh C đã đợc chia đất (149m2) khi bố còn sống thì có quyền đòi chia thừa kế và hởng
thêm đất nữa không?
Hoàng Văn Ao
Nội Am, Liên Ninh, Thanh Trì, Hà Nội
- Đối với diện tích đất mà bố mẹ ông đã cho ông C khi bố ông còn sống: Theo quy

đứng tên trong bản đồ địa chính thì đợc coi là ngời sử dụng đất (đối với diện tích
149m2). Căn cứ điểm b khoản 1 điều 50 Luật đất đai năm 2003
(3)
quy định một trong
những loại giấy tờ để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là ngời sử dụng đất " có
tên trong sổ địa chính". Thì ông C vẫn có quyền yêu cầu chia thừa kế đối với phần di sản
của bố ông theo quy định của pháp luật (trờng hợp bố ông mất đi không để lại di chúc) vì
theo quy định tại điều 635 Bộ luật dân sự năm 1995
(4)
"Mọi cá nhân đều bình đẳng
về quyền hởng di sản theo pháp luật".
Trong trờng hợp này phần diện tích đất mà ông C đợc bố mẹ chia khi bố đang còn
sống không đợc tính vào khối tài sản chung.
- Trờng hợp 2: Còn nếu ông C cha thực hiện nghĩa vụ đăng ký quyền sử dụng đất
theo quy định của pháp luật về đất đai và cha đợc đứng tên trong bản đồ địa chính, nay
mẹ ông không thừa nhận việc cho đất trớc kia thì ông C cha phải là ngời sử dụng đất hợp
pháp (đối với diện tích 149m2) theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên ông C vẫn có
quyền yêu cầu chia di sản thừa kế của bố theo quy định của pháp luật. Trong trờng hợp
này phần diện tích mà ông C đang quản lý đợc tính chung vào khối tài sản chung để
chia.
Việc chia khối tài sản chung trong cả hai trờng hợp nh sau:
- Căn cứ điều 15 Luật hôn nhân và gia đình năm 1959
(5)
thì mẹ ông đợc quyền sở
hữu đối với một nửa khối tài sản. Do đó khối tài sản chung đợc chia đôi và mẹ ông đợc
hởng 419m2 đất (nếu thuộc trờng hợp 2).
- Căn cứ khoản 2 điều 679 Bộ luật dân sự năm 1995
(6)
thì một nửa khối tài sản của
bố ông (là quyền sử dụng 439,5m2) đợc chia thành các phần bằng nhau cho những ngời

sở hữu, hởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trớc và sau khi cới".
(6) Khoản 2 điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005.
(7) Điểm a khoản 1 điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005
3. Quyền của ngời Việt Nam định c ở nớc ngoài đối với tài sản thừa kế là nhà tại
Việt Nam
Bố mẹ tôi có một ngôi nhà đợc cơ quan thanh lý. Mẹ tôi mất năm 1998 còn bố tôi mất
năm 1999. Mẹ tôi mất không có di chúc nhng trớc khi mất bố tôi đã viết di chúc để lại
cho tôi đợc hởng thừa kế toàn bộ ngôi nhà. Sáu anh em trong gia đình đều nhất trí để tôi
đứng tên sở hữu ngôi nhà và làm nơi thờ cúng tổ tiên. Hiện nay tôi đang định c ở nớc
ngoài và ít có điều kiện để về nớc. Vậy tôi có thể đứng tên trong sổ đỏ đối với ngôi nhà
đợc thừa kế không? Ai có quyền quản lý trông nom ngôi nhà để thờ cúng?
Phan Quốc Chính
Phố Chùa Láng, Đống Đa, Hà Nội
Căn cứ Điều 634 Bộ luật dân sự
(1)
quy định: Cá nhân có quyền lập di chúc để
định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho ngời thừa kế theo pháp luật; hởng
di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Nh vậy ông là ngời Việt Nam định c ở nớc
ngoài cũng có quyền hởng thừa kế tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Khoản 1 Điều 637 Bộ luật dân sự
(2)
quy định: Di sản bao gồm tài sản riêng của
ngời chết, phần tài sản của ngời chết trong tài sản chung với ngời khác. Vì ngôi nhà là
tài sản chung vợ chồng nên bố ông chỉ có quyền định đoạt phần tài sản của mình trong
khối tài sản chung.
Căn cứ khoản 1, 2 Điều 233 Bộ luật dân sự
(3)
quy định về sở hữu chung vợ chồng:
1. Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất. 2. Vợ, chồng cùng nhau tạo
lập, phát triển khối tài sản chung bằng công sức của mỗi ngời; có quyền ngang nhau

quy định:
1. Sau khi có thông báo về việc mở thừa kế hoặc di chúc đợc công bố, những ngời thừa
kế có thể họp mặt để thoả thuận những việc sau đây:
a. Cử ngời quản lý di sản, ngời phân chia di sản, xác định quyền, nghĩa vụ của những ng-
ời này, nếu ngời để lại di sản không chỉ định trong di chúc;
b. Cách thức phân chia di sản.
2. Mọi thoả thuận của những ngời thừa kế phải đợc lập thành văn bản.
Theo quy định của Điều luật nêu trên, bảy anh chị em của ông có thể lập Biên bản
thoả thuận với nội dung sau: tất cả các anh chị em thống nhất để ông sở hữu ngôi nhà
của bố mẹ. Trong thời gian ông cha đủ điều kiện để đứng tên trong giấy chứng nhận
quyền sở hữu nhà thì cử một ngời trong số các anh chị em đứng tên sở hữu. Ngời này chỉ
là đại diện chứ không có quyền định đoạt vì ngôi nhà chỉ để làm nơi thờ cúng tổ tiên chứ
không bán hoặc phân chia.

(1) Điều 631 Bộ luật dân sự năm 2005.
(2) Điều 634 Bộ luật dân sự năm 2005.
(3) Khoản 1, 2 điều 219 Bộ luật dân sự năm 2005.
(4) Điểm a khoản 1 điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005.
(5) Điều 681 Bộ luật dân sự năm 2005.
4. Vợ hai không đăng ký kết hôn có đợc hởng di sản thừa kế của chồng không?
Bố tôi có hai vợ: vợ cả lấy năm 1956 ở Hải Phòng sinh đợc tám ngời con (trong đó có
tôi), vợ hai lấy năm 1978 ở Hà Nội có tổ chức đám cới và có ba ngời con. Bố tôi vẫn đi
lại với cả hai bà vợ. Năm 2001 bố tôi mất có để lại một tài sản là căn nhà cấp bốn trên
diện tích 74m2 tại thôn Nam D Thợng, xã Lĩnh Nam, Thanh Trì, Hà Nội. Căn nhà này
do bố tôi đợc hởng thừa kế của ông nội theo bản án của Toà án Hà Nội năm 1988 hiện
vẫn đứng tên của ông nội. Từ khi đợc chia căn nhà này bố tôi vẫn để không vì ngời vợ
hai có chỗ ở khác. Nay chị em chúng tôi muốn chia thừa kế căn nhà trên Hà Nội để lấy
nơi thờ cúng tổ tiên hơng khói cho bố(vì quê bố ở Hà Nội). Nhng bà vợ hai muốn lấy căn
nhà này để cho ngời con trai út (con chung với bố tôi). Vậy bà vợ hai và các con của vợ
hai có đợc hởng thừa kế không?

(2)
thì mời một ngời con (của cả hai
ngời vợ) và ngời vợ cả có đăng ký kết hôn là những ngời thuộc hàng thừa kế thứ nhất và
theo quy định tại khoản 2 Điều này
(3)
thì những ngời thừa kế cùng hàng đợc hởng phần
di sản bằng nhau (tổng cộng là 12 ngời).
Điểm a khoản 1 Điều 679 Bộ luật dân sự về những ngời thừa kế theo pháp luật đ-
ợc quy định theo thứ tự sau đây: Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ,
mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của ngời chết .
Tuy nhiên, ngời vợ hai vẫn có thể đợc toà án cho hởng một phần trong di sản thừa
kế của bố ông vì có công đóng góp, bảo quản, duy tu đối với khối tài sản đó. Vì mẹ anh
và 8 ngời con đã có nhà ở tại Hải phòng nên mẹ anh và các anh chị em của anh có thể đề
nghị toà án chia bằng hiện vật chung 1 khối để lấy chỗ làm nơi thờ cúng bố anh tại Hà
Nội -là quê của bố anh.

(1) Điều 645 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: "Thời hiệu khởi kiện để ngời thừa kế
yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của
ngời khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu ngời thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của ngời chết
để lại là 3 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế".
(2) Điểm a khoản 1 điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005.
(3) Khoản 2 điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005.
5. Quyền thừa kế nhà, đất của vợ hai và con dâu
Bố mẹ tôi có căn nhà trên diện tích đất 550m2 nguồn gốc là của tổ tiên để lại tại Hng
Yên. Bố tôi có hai vợ: vợ cả có đăng ký kết hôn và mẹ của chúng tôi là vợ hai lấy năm
1940. Vợ cả có một ngời con gái đã mất không có chồng con. Còn vợ hai thì sinh đợc
bảy anh em chúng tôi (tôi là con trai trởng). Năm 1979 bố tôi mất không có di chúc. Sau
khi bố tôi mất mẹ tôi và bà vợ cả vẫn sống ở quê cùng vợ chồng ngời con trai thứ ba và
có tên trong sổ địa chính. Năm 1980 vợ chồng ngời em trai thứ ba đã phá toàn bộ ngôi

đẻ của ngời chết" nên hai ngời vợ và bảy ngời con đang còn sống của ngời vợ hai
(không có con của bà vợ cả nữa vì đã mất vào năm 1971 tức là mất trớc bố ông). Cũng
theo quy định nêu trên thì ngời con dâu thứ ba không đợc hởng thừa kế vì không thuộc
hàng thừa kế nào của bố ông. Nhng vì vào thời điểm bố ông mất quyền sử dụng đất
không đợc coi là di sản thừa kế nên những ngời thừa kế của bố ông chỉ có quyền hởng
thừa kế đối với căn nhà và các tài sản trên đất. Do đó tài sản trên đất đợc xác định là tài
sản chung của những ngời thừa kế.
- Quyền sở hữu đối với nhà và quyền sử dụng diện tích 550m2 đất sau thời điểm
bố ông mất:
Sau khi bố ông mất không có ai yêu cầu chia thừa kế mà toàn bộ nhà, đất vẫn do
mẹ ông và bà vợ cả quản lý. Căn cứ điều 1 Luật đất đai năm 1987 quy định: " Nhà nớc
giao đất cho cá nhân (gọi là ngời sử dụng) để sử dụng lâu dài. Ngời đang sử dụng đất
hợp pháp thì đợc tiếp tục sử dụng theo quy định của Luật này". Nh vậy hai bà vợ của bố
ông đợc xác định là ngời sử dụng đất hợp pháp theo quy định của Luật đất đai năm 1987.
Lúc đó tại quê Hng yên chỉ có mẹ ông, bà vợ cả cùng với vợ chồng ngời con thứ
ba ở tại đây, còn các ngời con khác ở chỗ khác. Năm 1980 vợ chồng ngời em thứ 3 đã
phá nhà cũ và xây dựng nhà mới trên diện tích đất đó. Nh vậy là tài sản chung (căn nhà
có nguồn gốc của tổ tiên để lại) đã không còn vào thời điểm đó, trên đất có ngôi nhà -là
tài sản của vợ chồng ngời con trai thứ ba. Còn quyền sử dụng đất là của hai bà vợ vì theo
quy định tại khoản 1 điều 2 của Luật đất đai năm 1993, 1998 thì: "Ngời sử dụng đất ổn
định đợc Uỷ ban nhân dân xã, phờng, thị trấn xác nhận thì đợc cơ quan nhà nớc có thẩm
quyền xét và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất". Do đó hai bà vợ đã đợc đăng ký
tên trong bản đồ địa chính và thuộc trờng hợp đợc xét cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên căn cứ dữ kiện ông nêu thì có những sự kiện xảy ra nh: Năm 1984 ngời
em trai thứ 3 đã mất. Năm 1991 mẹ của ông (ngời vợ hai) ra Hà Nội ở. Tại nhà đất ở quê
chỉ có bà vợ cả và ngời con dâu thứ ba ở. Năm 1996 ngời con dâu đã tự ý kê khai đối với
quyền sử dụng 550m2 đất và đã đợc cấp giấy chứng nhận (mà không ai đợc biết). Năm
2000 bà vợ cả mất không có di chúc, toàn bộ nhà đất này chỉ có một mình ngời con dâu
thứ ba quản lý. Vì quyền sử dụng đất tại quê không phải là tài sản của ngời con trai thứ 3

Thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai
Căn cứ dữ kiện bà cung cấp căn nhà trên thuộc quyền sở hữu chung của cha mẹ bà
theo quy định tại khoản 1 Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: Tài
sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt
động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ
hôn nhân; tài sản mà vợ chồng đợc thừa kế chung hoặc đợc tặng cho chung và những tài
sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có đợc sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ
chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có đợc trớc khi kết hôn, đợc thừa kế riêng
chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận.
Nh vậy, một nửa căn nhà thuộc quyền sở hữu của cha bà. Nhng vì ngời cha chết
không để lại di chúc nên theo điểm a khoản 1 Điều 678 Bộ luật dân sự
(1)
quy định trờng
hợp không có di chúc thì phần di sản của ngời cha sẽ đợc chia theo pháp luật.
Khoản 1 Điều 679 Bộ luật dân sự
(2)
quy định: Những ngời thừa kế theo pháp luật
đợc quy định theo thứ tự sau đây:
a. Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con
nuôi của ngời chết.
Do đó mẹ bà và các anh em bà là những ngời thừa kế theo pháp luật sẽ đợc quyền
hởng phần di sản của ngời cha. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 684 Bộ luật dân sự
(3)
thì sau
khi có thông báo về việc mở thừa kế thì những ngời thừa kế phải họp mặt để thoả thuận
về cách thức phân chia di sản. Tuy nhiên, theo dữ kiện bà cung cấp thì anh em bà
không muốn phân chia khối di sản này, hiện nay lại đang ở xa, nên muốn để mẹ bà đứng
tên ngôi nhà thì có thể vận dụng Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của
Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về hớng dẫn pháp luật trong việc giải quyết

cô ruột, dì ruột của ngời chết; cháu ruột của ngời chết mà ngời chết là bác ruột, chú
ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của ngời chết mà ngời chết là cụ nội, cụ
ngoại".
(3) Điểm b khoản 1 điều 681 Bộ luật dân sự năm 2005.
7. Quyền thừa kế của ngời con mà đã sống trong ngôi nhà của bố mẹ
Tôi sinh ra và lớn lên trong ngôi nhà của bố mẹ tôi tại 44, Thụy Khuê, Hà Nội trong 1
gia đình có 9 anh em (có 2 anh đã chết). Ngôi nhà này do bố mẹ tôi mua từ thời Pháp
thuộc với giá là 150.000 đồng. Năm 1973 mẹ tôi mất và năm 1982 bố tôi lấy vợ hai.
Hiện nay chỉ có gia đình tôi đang ở tại đây. Nhng đến tháng 4/2004 tôi mới đợc biết
rằng ngôi nhà này đã đợc cấp sổ đỏ cho bố tôi và mẹ kế (cấp vào năm 2000) mà tôi
không hề biết. Và bố mẹ tôi đã làm giấy cho đứt ngời em gái út của tôi và đuổi tôi ra
khỏi nhà. Hỏi: Tôi có đợc hởng quyền lợi đối với ngôi nhà của bố mẹ không? Tôi phải
làm gì để đợc ở trong ngôi nhà của bố mẹ?
Tạ Quốc Tuấn
Số 44, Thuỵ Khuê, Tây Hồ, Hà Nội
Vì ngôi nhà do bố mẹ ông mua khi mẹ ông (ngời vợ cả) còn sống nên căn cứ điều
15 Luật hôn nhân gia đình năm 1959 quy định: Vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hởng
thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trớc và sau khi cới thì một nửa ngôi nhà
này là của mẹ ông. Năm 1973 mẹ ông mất không có di chúc nên phần tài sản của mẹ ông
trong khối tài sản chung vợ chồng là di sản thừa kế cha chia của mẹ ông để lại cho những
ngời thừa kế theo quy định của pháp luật. Căn cứ điểm a khoản 1 điều 679 Bộ luật dân sự
năm 1995
(1)
quy định về những ngời thừa kế của hàng thừa kế thứ nhất gồm: Vợ, chồng,
cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của ngời chết. Do đó bố của ông và
7 anh chị em của ông và những ngời thừa kế của 2 ngời anh đã mất (nếu có) sẽ đợc hởng
thừa kế một nửa căn nhà đó. Gia đình anh tuy ở căn nhà này nhng anh chỉ đợc 1 phần
22
chứ không đợc hởng cả ngôi nhà và vì cha có ai yêu cầu chia nên ngôi nhà này vẫn là tài
sản chung của các đồng thừa kế. Do vậy việc cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu ngôi

chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của ngời chết. Do đó, bố và
chú anh là những ngời thừa kế theo pháp luật của ông bà. Ngôi nhà mà chú anh đang sử
dụng là di sản thừa kế cha chia của ông bà cho các con là bố anh và chú anh.
Vì thời điểm mở thừa kế lần cuối cùng đối với di sản của ông bà là vào năm 1994
(thời điểm bà nội mất) nên căn cứ điều 648 Bộ luật dân sự năm 1995
(2)
thì thời hiệu khởi
kiện yêu cầu chia thừa kế là đã hết vào năm 2004.
Điều 648 Bộ luật dân sự năm 1995: "Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế là mời
năm kể từ thời điểm mở thừa kế".
Theo dữ kiện anh nêu thì hiện nay gia đình anh đang định c ở nớc ngoài chỉ có
một mình ngời chú ở lại nhà đất của ông bà và bố anh cũng có ý định nhờng lại phần
thừa kế của mình cho ngời chú của anh đợc hởng. Căn cứ điểm b khoản 1 điều 684 Bộ
luật dân sự năm 1995
(3)
quy định: "Sau khi có thông báo về việc mở thừa kế hoặc di chúc
đợc công bố thì những ngời thừa kế có thể họp mặt để thoả thuận những việc sau đây: b.
cách thức phân chia di sản"
Khoản 2 điều 684 Bộ luật dân sự năm 1995
(4)
quy định: "Mọi thoả thuận của
những ngời thừa kế phải đợc lập thành văn bản"
Do vậy bố anh có thể thoả thuận cùng ngời chú để nhờng lại kỷ phần của mình
cho ngời chú và đồng ý để cho chú đợc đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất vì theo quy định tại khoản 1 điều 645 Bộ luật dân sự năm 1995
(5)
thì "ngời thừa kế có
quyền từ chối nhận di sản ".
23
Căn cứ điểm c khoản 1 điều 50 luật đất đai 2003 quy định: "1. Hộ gia đình, cá

để lại là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế".
(3), (4) Điểm a khoản 1 và khoản 2 điều 681 Bộ luật dân sự năm 2005.
(5) Khoản 1 điều 642 Bộ luật dân sự năm 2005.
9. Ngời vợ hai không đăng ký kết hôn (sau khi vợ cả mất) có đợc thừa kế di sản của
chồng không?
Bố mẹ tôi kết hôn năm 1970 (có đăng ký kết hôn). Ông bà nội tôi đã chia đất cho các
con mỗi ngời một thửa (trong đó có bố mẹ tôi). Bố mẹ tôi sử dụng thửa đất đợc chia
(khoảng 500m2) từ 1970 và thực hiện đăng ký quyền sử dụng đất với địa phơng. Bố mẹ
tôi sinh đợc bốn chị em chúng tôi. Năm 1996 mẹ tôi mất không có di chúc. Diện tích nhà
đất này cho 4 chị em tôi quản lý. Năm 1999 bố tôi đi làm ăn xa và lấy vợ hai (không có
đăng ký kết hôn) và có hai con với ngời này. Năm 2002 bố tôi bị bệnh mất đột ngột,
không để lại di chúc. Nay, gia đình bên bố tôi (là các bác) họp và yêu cầu chúng tôi phải
chia cho ngời vợ hai của bố tôi 1/3 chỗ đất mà chúng tôi đang sử dụng. Vậy theo luật thì
diện tích nhà đất mà chúng tôi đang sử dụng có phải là di sản thừa kế của bố mẹ tôi
không? Ngời vợ thứ hai không có đăng ký kết hôn của bố tôi có đợc hởng thừa kế di sản
của bố tôi không?
Phạm Bích Ngân
Nguyễn Văn Cừ, Long Biên, Hà Nội
Vì bố mẹ chị kết hôn năm 1970 và đợc ông bà nội cho thửa đất để làm nhà ở trên
đó. Thời điểm này là khi Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 có hiệu lực. Nên căn cứ
24
điều 15 quy định: Vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hởng thụ và sử dụng ngang nhau
đối với tài sản có trớc và sau khi cới nên căn nhà trên đất là tài sản của bố mẹ chị. Căn
cứ điều 1 Luật đất đai năm 1987 quy định: "Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nớc
thống nhất quản lý" nên quyền sử dụng thửa đất mà ông nội cho không phải là tài sản
chung vợ chồng của bố mẹ chị vào thời điểm cho. Tuy nhiên trong quá trình bố mẹ chị
đã thực hiện đăng ký quyền sử dụng đất nên theo quy định tại khoản 1 điều 2 Luật đất
đai năm 1993 thì bố mẹ chị đợc xác định là ngời sử dụng đất hợp pháp đối với diện tích
thửa vờn của ông nội cho.
Khoản 1 điều 2 Luật đất đai năm 1993 quy định: "Ngời sử dụng đất ổn định, đợc

định: "Trờng hợp nam và nữ chung sống với nhau nh vợ chồng từ ngày 3/01/1987 đến
ngày 01/01/2001 mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia
đình năm 2000 thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày
01/01/2001 đến ngày 01/01/2003; do đó, cho đến trớc ngày 01/01/2003 mà có một bên
vợ hoặc chồng chết trớc thì bên chồng hoặc vợ còn sống đợc hởng di sản của bên chết để
lại theo quy định của pháp luật về thừa kế .
Vì mẹ của chị đã chết từ năm 1996 nên theo quy định tại khoản 3 Điều 16 Bộ luật
dân sự
(2)
quy định: Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi ngời đó sinh ra và
chấm dứt khi ngời đó chết. Do đó cuộc hôn nhân giữa bố chị và mẹ chị coi là chấm dứt
kể từ thời điểm năm 1996 khi mẹ chị mất. Vào thời điểm bố của chị chung sống với ngời
vợ hai vào năm 1999 không thuộc trờng hợp ngời đang có vợ tức là không vi phạm chế
độ hôn nhân "một vợ một chồng". Căn cứ Điều 9, 10 Luật hôn nhân gia đình năm 2000
thì bố chị và ngời vợ hai đợc xác định là có đủ điều kiện kết hôn nhng cha tiến hành thủ
tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì bố chị mất (vào năm 2002), nên theo
quy định của Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP nêu trên thì trong trờng hợp này ngời vợ
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status