TƯỢNG PHẬT BÀ NGHÌN MẮT NGHÌN TAY, ĐỈNH CAO NHÂN VĂN VÀ MỸ THUẬT VIỆT NAM - Pdf 11

class="bi x0 y0 w1 h1"

TƯỢNG PHẬT BÀ NGHÌN MẮT NGHÌN TAY, ĐỈNH CAO NHÂN VĂN
VÀ MỸ THUẬT VIỆT NAM
Trong nghệ thuật Phật giáo, buổi đầu không chủ trương lập tượng, Đức Phật được
thờ phụng chủ yếu dưới hình ảnh bánh xe pháp luân hay chiếc ngai. Đến thế kỷ I,
Phật giáo đại thừa mới cho thờ ngẫu tượng và dùng nghệ thuật tạo hình để truyền
bá đạo Phật. Nghi lễ, giáo lý Phật giáo đại thừa nhấn mạnh đến quán tưởng, lúc đó
các tín đồ tập trung ý chí để xem một bức tranh hay tượng rồi thông qua thiền định
mà nhìn thấu được cảnh giới Phật và lĩnh hội được Phật pháp. Tượng thờ lúc này
không những là hình ảnh thay cho Đức Phật, Bồ Tát mà còn là vật truyền đạo, khi
mà tín đồ nhân số lượng tượng Phật lên và đưa đi thờ ở khắp nơi.
Tượng Phật ở nước ta chủ yếu được chế tác từ chất liệu đá, đồng, đất nện… và đặc
biệt là gỗ mít - một thứ gỗ mềm, dẻo, ít nứt và bền lâu. Do tượng Phật cũng linh
thiêng như chính Ngài hiển hiện và là vật thờ phụng nên quy trình tạo tác rất công
phu, không chỉ cần khéo tay, trí tưởng tượng mà còn sự tỷ mỷ, khe khắt trong việc
dựng vóc, tính kích thước, miêu tả động tác, thể hiện trang phục và nhiều đặc tính
cao vời của nhà Phật như vầng trán, đôi mắt, khoé miệng, cằm, vành tai, bàn tay,
ngón tay ở các tư thế khác nhau.
Khi tạc tượng, nghệ nhân thường lấy diện, tức là kích thước của đầu tượng để làm
chuẩn tính tỷ lệ các bộ phận. Tỷ lệ chiều cao tượng ngồi bằng bốn diện, tượng
đứng bằng bảy diện. Trong một pho tượng đứng thì từ chân tóc tới cằm bằng một
diện, từ cằm tới rốn là ba diện, từ rốn tới gót là ba diện, khoảng cách hai vai từ hai
đến bốn diện, chiều dài cánh tay ba diện, bề dày thân từ 1,5 đến hai diện. Trước khi
tạc tượng, thợ khắc đã phải ghi nhớ sâu sắc hình ảnh tượng, sau đó phác họa một
lượt theo tỷ lệ đã định. Khi đục thì đục dần từ cổ, vai xuống đến bệ, làm thô xong
mới đẽo chi tiết, sao cho cân xứng, rồi đánh nhẵn, cuối cùng phết sơn ta, vàng, bạc
và son lên tượng. Nghệ sĩ dân gian bằng tâm hồn yêu đời yêu người đã gửi gắm
những ước mơ vào từng thớ gỗ, phiến đá để chúng thăng hoa qua từng đường nét,
chi tiết trở thành một tuyệt tác để đời, có giá trị văn hóa tâm linh to lớn và ngày
càng minh chứng được giá trị ấy qua những vệt cũ càng, cổ kính mà thời gian, khói

Trương tiên sinh, ngày hoàn thành tượng là mùa thu Bính Thân năm 1656, dưới sự
bảo trợ của hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc. Bức tượng là đỉnh cao của mỹ thuật
tạo hình Phật giáo nước ta. Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam đã nhiều lần mượn pho
tượng này, và hiện giờ đã tạo được một pho tượng tương tự trưng bày tại sảnh
chính của bảo tàng - nhưng do bức tượng quá đẹp, nhiều chi tiết mô phỏng vẻ cổ
kính, ăn mòn, bong tróc của thời gian và chưa chú thích đầy đủ nên nhiều người
vẫn nhầm tưởng đó là nguyên tác.
Tượng Quan Âm Nghìn mắt nghìn tay ở chùa Bút Tháp và tượng ở bảo tàng tựu
chung có kích cỡ bằng nhau. Tượng cao 3,7 mét, vành hào quang rộng 2,1 mét, bệ
dày 1,15 mét. Tượng được thể hiện trong dáng nữ, khuôn mặt hiền dịu, mắt nhìn
xuống, miệng hơi mỉm cười, mũi dọc dừa, dáy tai to dài, hoa tai hình bông sen. Từ
khuôn mặt nhìn chính diện ở hai bên có hai khuôn mặt nữa (thể hiện tam thế), và
trên mũ còn có ba tầng đầu (ba tầng trời) với tổng cộng tám khuôn mặt khác nhau,
trên chóp nơi cao nhất của tượng là bức tượng Phật nhỏ A di đà (cõi Niết bàn).
Như vậy là tượng có tới 11 đầu, nhìn sang ba hướng khác nhau. Về phong cách đây
là kiểu chế tác có những nét tiếp thu từ nghệ thuật điêu khắc cổ Khmer.
Tượng Phật bà có một đôi tay chắp trước ngực theo kiểu liên hoa hợp chưởng và
một đôi tay đặt trên đùi theo kiểu thiền định. Ngoài hai đôi tay này trên thân tượng,
ở lưng, sườn và vai tỏa ra 19 đôi tay ở các tư thế ban phép. Các cánh tay đều để
trần, đeo vòng hạt minh châu.
Phía sau thân tượng có 789 cánh tay nhỏ sắp vòng tròn đồng tâm và đặt so le ở
từng lớp tạo nên những vòng hào quang, trên đỉnh vòng tròn là con chim ca lăng
tần già (chim thiên đường). Trong lòng mỗi bàn tay đều chạm một con mắt. Về
phong cách đây cũng giống mỹ thuật Khmer với những cánh tay tỏa ra từ lưng, vai,
sườn tượng song số lượng nhiều và chi tiết hơn. Cũng thấy ảnh hưởng của văn hóa
Trung Quốc, đó là vòng hào quang hình tròn đã được biến cách thành thể tự do với
hình ảnh đậu trên điểm cao nhất của tượng là một con chim thể hiện sự giao hòa tự
nhiên.
Phật bà ngồi ở thế kiết già, chân xếp bằng thư thái trên tòa sen nổi bồng bềnh trên
mặt biển. Đài sen là một bông hoa nở rạng rỡ, phần cao nhất là nhụy với những


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status