Lời nói đầu
Theo tinh thần nghị quyết đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam
tháng 12 năm 1986, những năm qua, nền kinh tế nước ta đã và đang chuyển dần
từ nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường
có sự quản lí, điều tiết của Nhà nước. Đến nay, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được
những thành tựu công nghiệp hoá rất quan trọng: Trong tổng GDP, tỷ trọng nông
lâm nghiệp, thuỷ sản là 23%, tỷ trọng công nghiệp xây dựng là 38% và tỷ trọng
dịch vụ là 39%.
Trên lộ trình mở cửa, tự do hoá thương mại với sự kiện ký kết Hiệp định
thương mại Việt-Mỹ và không đánh thuế hàng xuất nhập khẩu sắp tới hứa hẹn
nhiều cơ hội cũng như thách thức lớn cho Việt Nam. Trước những sức ép cạnh
tranh và đòi hỏi mới của thị trường, Nhà nước ta đã tạo mọi điều kiện cho sự phát
triển kinh tế toàn diện và mũi nhọn. Các doanh nghiệp Việt Nam phải tự tìm kiếm
cơ hội cho mình ngoài sự hỗ trợ của Nhà nước. Muốn thực hiện được điều này thì
nhu cầu vốn cho đầu tư là rất lớn, đặc biệt là đầu tư tài sản cố định và cơ sở hạ
tầng (đầu tư dài hạn), do đó, nhu cầu vốn trung, dài hạn là rất lớn.
Ngân hàng công thương Phúc Yên (NHCT Phúc Yên) là chi nhánh Ngân
hàng cấp 2 thuộc hệ thống Ngân hàng công thương Việt Nam. Tuy mới được
thành lập nhưng đã góp phần đẩy lùi và kiềm chế lạm phát, góp phần tăng trưởng
kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá- hiện đại hoá
của khu vực và đất nước. Hiện nay, địa bàn hoạt động của chi nhánh đang xây
dựng nhiều khu công nghiệp mới, trên đà phát triển thành khu công nghiệp vệ tinh
3
của Hà Nội (trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của Việt Nam) nên nhu cầu vốn
rất lớn. Tuy nhiên, hoạt động của chi nhánh NHCT Phúc Yên còn nhiều tồn tại
trong công tác tín dụng, mà rõ nét nhất là chất lượng tín dụng trung, dài hạn chưa
cao đang đòi hỏi có những giải pháp tháo gỡ kịp thời và có hiệu quả cả tầm vi mô
lẫn vĩ mô.
Qua một thời gian thực tập và tìm hiểu tại NHCT Phúc Yên (Mê Linh-Phúc
Yên-Vĩnh Phúc), chính tính cấp bách trong chất lượng tín dụng trung, dài hạn của
chi nhánh đã thôi thúc em lựa chọn đề tài: “Một số giải pháp nâng cao chất
5
+ Vốn pháp định là khoản vốn bắt buộc phải có trước khi đi vào hoạt động.
Nguồn vốn này thường phụ thuộc vào tính chất, qui mô của từng loại ngân hàng.
Tuỳ theo tính chất của mỗi ngân hàng mà nguồn gốc hình thành vốn ban đầu khác
nhau. Ví dụ như Ngân hàng Công thương Việt Nam khi mới thành lập có nguồn
vốn pháp định là 200 tỷ VNĐ. Nguồn vốn pháp định có thể do Nhà nước cấp đối
với các Ngân hàng thương mại quốc doanh hoặc do các chủ sở hữu cấp đối với
các Ngân hàng thương mại cổ phần. Tuy nhiên thì vốn pháp định vẫn có thể được
điều chỉnh tăng hoặc giảm tuỳ theo mục đích của từng ngân hàng.
+ Vốn bổ xung: vốn pháp định chỉ là khoản vốn ban đầu, hàng năm các
Ngân hàng thương mại phải bổ xung vốn bằng cách trích từ lợi nhuận kinh doanh
hoặc bằng mức đóng góp của các chủ sở hữu.
Trong điều kiện thu nhập ròng lớn hơn không thì chủ ngân hàng có xu
hướng gia tăng vốn của chủ bằng cách chuyển một phần thu nhập ròng thành vốn
đầu tư. Tỷ lệ tích luỹ tuỳ thuộc vào cân nhắc của chủ ngân hàng về tích luỹ và tiêu
dùng. Những ngân hàng lâu năm, thu nhập ròng lớn, nguồn vốn tích luỹ từ lợi
nhuận sẽ cao hơn so với vốn của chủ hình thành ban đầu.
Nguồn bổ xung từ đóng góp của các chủ sở hữu thông qua: phát hành thêm
cổ phần, góp thêm, cấp thêm… để mở rộng quy mô hoạt động, đổi mới trang thiết
bị hoặc đáp ứng yêu cầu gia tăng vốn của chủ do ngân hàng Nhà nước quy định.
Đặc điểm của hình thức huy động vốn này là không thường xuyên song giúp cho
ngân hàng có được lượng vốn sở hữu lớn vào lúc cần thiết.
+ Các quỹ:
Ngân hàng có nhiều quỹ, mỗi quỹ có mục đích riêng mà trước tiên là quỹ
dự phòng tổn thất (vốn tích luỹđược trích lập hàng năm nhằm bù đắp tổn thất),
quỹ bảo toàn vốn (nhằm bù đắp hao mòn của vốn dưới tác động của lạm phát),
quỹ thặng dư là phần đánh giá lại tài sản của ngân hàng và chênh lệch giữa mệnh
giá và thị giá cổ phiếu khi phát hành cổ phiếu mới, ngoài ra còn có các quỹ: quỹ
6
phúc lợi, quỹ khen thưởng, quỹ giám đốc… Các quỹ này thuộc sở hữu của chủ
lợi nhuận và sự phát triển ngân hàng.
Tiền gửi khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất, chiếm tỷ trọng
lớn trong tổng nguồn tiền của ngân hàng. Để gia tăng tiền gửi trong môi trường
cạnh tranh mạnh mẽ và có được nguồn tiền có chất lượng ngày càng cao, các
ngân hàng đã đưa ra và thực hiện nhiều hình thức huy động vốn khác nhau:
+ Tiền gửi thanh toán (tiền gửi giao dịch): đây là nguồn tiền mà các doanh
nghiệp hoặc cá nhân gửi vào ngân hàng để nhờ ngân hàng giữ và thanh toán hộ.
Lãi suất của khoản tiền này rất thấp, có khi bằng không nhưng bù lại khách hàng
có thể được hưởng những dịch vụ ngân hàng với mức phí thấp.
+ Tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội: Các tổ chức
xã hội hay các doanh nghiệp có nhiều khoản thu không phải thanh toán ngay nên
ngân hàng đưa ra hình thức tiền gửi có kỳ hạn. Loại tiền gửi này khách hàng
không được hưởng các dịch vụ như tiền gửi thanh toán nhưng lại được hưởng với
lãi suất cao hơn tuỳ độ dài kỳ hạn. Nếu khách hàng cần tiền, họ có thể đến rút ra
khi chưa đến hạn và hưởng lãi suất không kỳ hạn.
+ Tiền gửi tiết kiệm của dân cư:
Tương tự như huy động tiền gửi tiết kiệm của các doanh nghiệp, tuy nhiên
nguồn huy động này thường ổn định hơn và thời hạn thường dài hơn. Hiện nay
ngân hàng áp dụng rất nhiều các hình thức huy động đa dạng kết hợp với lãi suất
cạnh tranh hấp dẫn để thu hút ngày càng nhiều lượng tiền gửi dân cư.
+ Tiền gửi của ngân hàng khác:
8
Nhằm mục đích thanh toán hộ và một số mục đích khác, ngân hàng thương
mại thường gửi tiền tại các ngân hàng thương mại khác. Quy mô loại tiền gửi này
thường không lớn.
- Nguồn thứ ba là vốn đi vay: Đôi khi cần thiết, ngân hàng thường phải vay
mượn thêm. Các ngân hàng thường đi vay ở NHNN, vay các tổ chức tín dụng
khác hoặc vay trên thị trường vốn. Các khoản vay này nhằm giải quyết nhu cầu
cấp bách trong chi trả của ngân hàng thương mại nên thường phải chịu những chi
phí lớn hoặc ràng buộc nhất định.
Nam cho vay trung hạn từ 1 đến 5 năm, còn cho vay dài hạn là trên 5 năm. Tỷ
trọng cho vay trung, dài hạn hiện nay còn thấp nhưng theo xu hướng công nghiệp
hoá - hiện đại hoá thì chắc chắn tỷ trọng này sẽ càng tăng.
Ngoài ra còn có các hình thức tín dụng khác như: cho vay, bảo lãnh, cho
thuê (dựa vào hình thức tài trợ tín dụng); tín dụng có bảo đảm và tín dụng không
có bảo đảm bằng tài sản thế chấp, cầm cố; tín dụng phân lợi theo rủi ro (khoản tín
dụng có độ an toàn cao, khá, trung bình và thấp); tín dụng theo ngành kinh tế
(công, nông nghiệp…) hoặc theo đối tượng tài trợ (hàng hoá, bất động sản…)
hoặc theo mục đích (sản xuất, tiêu dùng…)
- Hoạt động đầu tư:
Ngoài hoạt động cho vay, các hoạt động đầu tư cũng chiếm tỷ lệ không nhỏ
trong bảng cân đối của ngân hàng thương mại bởi hoạt động đầu tư giúp tăng thu
nhập cho ngân hàng và khai thác tối đa các nguồn vốn đã huy động. Hoạt động
đầu tư chủ yếu là các hoạt động như: mua bán các chứng khoán chính phủ, mua
10
cổ phiếu và trái phiếu của các doanh nghiệp (tham gia vào thị trường chứng
khoán)
- Hoạt động ngân quỹ:
Bao gồm các hoạt động chi trả đối với khách hàng về tiền mặt, tiền gửi, tiền
vay trong quá trình thu nhận và nghiệp vụ chứng khoán ngắn hạn. Trong tổng
nguồn vốn huy động được, các ngân hàng thương mại phải dành một tỷ lệ dự trữ
nhất định gọi là tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Nếu dự trữ qúa lớn xẽ gây lãng phí vốn,
ngược lại thì xẽ không đủ khả năng thanh toán cho khách hàng gây mất uy tín đối
với khách hàng và có thể còn dẫn đến đổ vỡ ngân hàng. Do đó để đảm bảo khoản
dự trữ an toàn là hết sức khó khăn. Hiện nay, sự xuất hiện thị trường liên ngân
hàng đã giúp cho các ngân hàng giảm bớt khó khăn trong tính toán việc dự trữ của
mình.
* Các hoạt động trung gian:
Các hoạt động trung gian gồm có các nghiệp vụ thanh toán tiền hàng, quản
lý tài sản, dịch vụ chứng khoán, cung cấp thông tin tư vấn, ... những nghiệp vụ
1.2.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế
Nếu như huy động vốn là hoạt động tập chung vốn nhàn rỗi từ trong dân cư
thì hoạt động tín dụng lại chuyển giao vốn cho những người có nhu cầu sử dụng
vốn. Ngân hàng chính là trung gian dẫn chuyển vốn từ những người thừa vốn đến
12
người thừa vốn một cách có hiệu quả nhất. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường
hiện nay tín dụng ngân hàng nói chung và tín dụng trung, dài hạn nói riêng thực
sự là đòn bẩy quan trọng để phát triển kinh tế.
- Ngân hàng tham gia vào thúc đẩy quá trình tích tụ và tập chung vốn cho
sản xuất:
Tín dụng ngân hàng đáp ứng được nhu cầu vốn cho quá trình sản xuất liên
tục, tập chung vốn cho quá trình tái sản xuất mở rộng với quy mô ngày càng lớn
cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Việc tập chung vốn và phân phối vốn đã góp phần
điều hoà vốn trong nền kinh tế quốc dân từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn. Như
vậy tín dụng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, là đòn bẩy trong việc thúc đẩy
kinh tế phát triển.
Trong quá trình sản xuất, tín dụng trung, dài hạn như là một nguồn hình
thành vốn cố định, là nguồn bổ xung vốn thiếu hụt cho các hoạt động cải tạo, đổi
mới, thay thế trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy tín dụng ngân
hàng góp phần thúc đẩy quá trình ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ để đẩy
nhanh quá trình tái sản xuất xã hội.
- Tín dụng trung dài hạn là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế và góp
phần tăng trưởng kinh tế cho các ngành kinh tế mũi nhọn:
Bằng việc sử dụng lãi suất ưu đãi đối với những ngành kinh tế mũi nhọn
cũng như các ngành kinh tế khác cần thiết cho quốc kế dân sinh, tín dụng ngân
hàng giúp những ngành kinh tế này phát triển. Tín dụng hình thức này thay thế
cho hình thức cấp vốn ngân sách nhà nước. Vì đặc trưng của tín dụng là hoàn trả
cả vốn lẫn lãi giúp cho các doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả hơn là được
cấp ngân sách, do không hoàn trả nên người sử dụng thường không quan tâm tới
việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này.
cũng có quan hệ tương hỗ với nền kinh tế các quốc gia khác trên thế giới. Đầu tư
vốn ra nước ngoài hay thu hút vốn đầu tư nước ngoài, kinh doanh xuất nhập khẩu
hàng hoá đã và đang là hai lĩnh vực hợp tác kinh tế thông dụng giữa các nước.
Yếu tố đầu tiên quyết định mối quan hệ hợp tác này là vốn, do đó ngân hàng với
khả năng đặc biệt của mình là huy động vốn và cung cấp vốn cho các hoạt động
này, thông qua đó góp phần mở rộng và tăng cường mối quan hệ hợp tác kinh tế
với các nước.
Nước ta là nước có nền kinh tế đang phát triển, mối quan hệ này đóng vai
trò hết sức quan trọng. Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp ta
mở rộng xuất khẩu hàng hoá và tận dụng nguồn vốn bên ngoài đầu tư phát triển
các thành phần kinh tế góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước.
- Tín dụng ngân hàng có vai trò kiểm soát nền kinh tế:
Từ chức năng dẫn chuyển và phân phối vốn tiền tệ, tín dụng ngân hàng có
thể kiểm soát được hoạt động kinh tế trong quá trình huy động mọi nguồn vốn
nhàn rỗi để cho vay. Thông qua việc huy động vốn tạm thời nhàn rỗi trong dân cư
và từ các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế cùng công tác thanh toán cho khách
hàng, ngân hàng có thể đánh giá tình hình tiêu thụ sản phẩm, tình hình sản xuất
cũng như khả năng chi trả của khách hàng thông qua sự biến động của các số dư
trên các tài khoản. Trong quá trình cho vay, với mục tiêu "tối đa hoá lợi nhuân và
tối thiệu hoá rủi ro" ngân hàng phải thường xuyên phân tích khả năng tài chính
của khách hàng, thường xuyên giám sát, kiểm tra hoạt động sản xuất kinh doanh
của họ để có thể điều chỉnh, tác động kịp thời khi cần thiết. Xét trên tầm vĩ mô,
ngân hàng có khả năng tập hợp được tình hình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp đồng thời đóng góp những ý kiến để điều chỉnh kịp thời khi có sự mất cân
đối trong cơ cấu kinh tế.
15
2. Tín dụng trung dài hạn của ngân hàng thương mại:
Theo khái niệm trên, tín dụng trung, dài hạn của ngân hàng thương mại là
các khoản cho vay của ngân hàng có thời hạn từ 20 đến 60 tháng nhưng không
rẻ nhất mà các ngân hàng muốn tập chung huy động.
+ Nguồn huy động lấy từ nguồn huy động ngắn hạn chuyển sang theo một
tỷ lệ nhất định, ngân hàng xác định tỷ lệ phần trăm tùy thuộc vào sự biến động
của lượng tiền gửi và rút ra của khách hàng để tạo ra một nguồn ổn định để cho
vay trung, dài hạn. Nguồn trích này thường nhỏ và thường có rủi ro cao.
+ Đi vay NHNN: ngân hàng thường chỉ sử dụng nguồn này khi thấy thực
sự khó khăn bởi còn phụ thuộc vào chính sách tiền tệ, điều kiện vay và các ràng
buộc khác với NHNN thường gây nhiều khó khăn cho các NHTM.
+ Vay nợ nước ngoài: Đây là nguồn vốn huy động được với khối lượng
lớn, lãi suất vừa phải nhưng lại phải chịu những điều kiện vay vốn đôi khi còn
liên quan tới vấn đề chính trị nên nguồn này rất hạn chế.
+ Nguồn tài trợ uỷ thác: Nguồn này do ngân hàng được các tổ chức quốc tế
chuyển một khoản vốn uỷ thác cho ngân hàng cho vay theo thoả thuận ký kết
giữa hai bên. Ngân hàng thực hiện cho vay hay đầu tư theo chỉ định của nước
ngoài và được hưởng một tỷ lệ phần trăm và chênh lệch lãi suất cho vay. Nguồn
17
này có xu hướng ngày càng tăng do chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào
trong nước.
2.2 Phân loại tín dụng trung, dài hạn:
Trong giai đoạn kinh tế thị trường hiện nay, cạnh tranh ngày càng trở nên
gay gắt và quyết liệt hơn. Các doanh nghiệp muốn đứng vững và khẳng định mình
trong thương trường thì phải luôn đổi mới, nhanh nhạy bắt kịp thị hiếu người tiêu
dùng. Doanh nghiệp rất cần đến vốn trung dài hạn để đầu tư vào mua sắm trang
thiết bị, xây dựng, cải tiến kỹ thuật, mua công nghệ…Do đó nhu cầu vốn trung
dài hạn sẽ có xu hướng ngày càng tăng cao.
Tín dụng trung dài hạn được chia ra một số hình thức sau:
- Cho vay theo dự án:
Ngân hàng cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển
sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phục vụ đời sống
Đây là hình thức cấp tín dụng dựa trên cơ sở dự án sau khi đã xem xét và
mẹ chuyên thực hiện cho vay thuê mua là công ty cho thuê tài chính. Doanh
nghiệp ký một hợp đồng thuê tài sản của bên cho thuê trong một thời gian nhất
định, khi hết thời hạn hợp đồng thì tài sản đó được chuyển cho bên thuê. Thực
chất của hoạt động cho thuê tài chính là hoạt động cho vay trung và dài hạn, hợp
đồng thuê thường phải đảm bảo yêu cầu khách hàng phải trả tới hơn giá trị của tài
sản cho thuê. Khi hết thời hạn cho thuê tức là các bên đã hoàn thành trách nhiệm
của mình tại hợp đồng cho thuê tài chính, đương nhiên tài sản thuê phải được
chuyển sang cho bên cho thuê, đây không phải là hiện tượng mua bán hàng hoá.
19
- Cho vay trả góp:
Cho vay trả góp là hình thức tín dụng, theo đó ngân hàng cho phép khách
hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thoả thuận. Cho vay trả góp
thường được áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho các tài
sản cố định hoặc lâu bền. Số tiền trả mỗi lần được tính toán sao cho phù hợp với
khả năng trả nợ của khách hàng (với dự án thì số tiền trả thường là từ khấu hao và
lợi nhuận sau thuế, với cho vay tiêu dùng thì là từ thu nhập hàng tháng của người
tiêu dùng)
Hình thức cho vay này được áp dụng nhiều nhất trong cho vay tiêu dùng.
Cho vay trả góp thường gặp rủi ro cao do khách hàng thường thế chấp bằng hàng
hoá mua trả góp. Khả năng trả nợ phụ thuộc vào thu nhập đều đặn của người vay.
Nếu người vay mất việc hay ốm đau, thu nhập giảm sút thì khả năng thu nợ của
ngân hàng cũng bị ảnh hưởng. Chính vì rủi ro cao nên lãi suất cho vay trả góp
thường cao nhất trong khung lãi suất cho vay của ngân hàng.
3. Chất lượng tín dụng trung, dài hạn của ngân hàng
thương mại
Trong nền kinh tế thị trường, tín dụng là một nghiệp vụ mang lại phần lớn
doanh lợi cho ngân hàng nhưng cũng là nghiệp vụ mang nhiều rủi ro nhất. Ngay
cả với một khoản vay có tài sản cầm cố, thế chấp thì khả năng xảy ra rủi ro vẫn
rất cao. Mục đích cuối cùng của hoạt động kinh doanh ngân hàng chính là lợi
nhuận, do đó ngân hàng nào cũng muốn đạt hiệu quả hoạt động kinh doanh tốt
hạn thấp và hợp lý, cân đối trong cơ cấu nguồn vốn giữa ngắn, trung và dài hạn
của ngân hàng.
21
Chất lượng tín dụng cao là việc đáp ứng tốt nhất nhu cầu hợp lý của khách
hàng, tuy vậy nâng cao chất lượng tín dụng cũng đi kèm với vấn đề tăng khả năng
rủi ro đối với ngân hàng và giảm thấp thu nhập ngân hàng. Ngân hàng sẽ không
theo đuổi mục đích nâng cao chất lượng tín dụng nếu không đảm bảo an toàn và
có hiệu quả tín dụng.
4. Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng trung, dài
hạn ngân hàng:
Chất lượng tín dụng trung, dài hạn có ý nghĩa lớn đối với sự tồn tại và phát
triển của ngân hàng thương mại. Để có nhìn nhận đúng nhất về chất lượng tín
dụng ngân hàng, ta sử dụng một số chỉ tiêu phản ánh nó sau:
4.1 Chỉ tiêu định lượng:
- Chỉ tiêu lợi nhuận:
Mục tiêu cuối cùng của ngân hàng là lợi nhuận, là phần thặng dư mà mình
tạo ra được lớn nhất. Trong giai đoạn cạnh tranh hiện nay, ngân hàng phải nâng
cao chất lượng tín dụng nhưng không đồng nghĩa là tăng lợi nhuận. Ví dụ, chất
lượng tín dụng tăng thể hiện ở việc tăng mạng lưới hoạt động để đáp ứng tốt nhất
cho phục vụ khách hàng đồng thời làm tăng chi phí. Khi tốc độ tăng doanh thu
chậm hơn tốc độ tăng chi phí này sẽ dẫn đến lợi nhuận giảm sút.
Chất lượng tín dụng trung dài hạn không thể nói là tốt nếu lợi nhuận thu
được từ nguồn này là thấp. Ta có hai chỉ tiêu phản ánh sau:
Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng trung, dài hạn
22
(1)
Dư nợ tín dụng trung dài hạn bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của các khoản tín dụng trung dài
hạn của ngân hàng, cho biết một đồng dư nợ cho vay trung, dài hạn mang lại bao
nhiêu đồng lợi nhuận. Tỷ lệ cao tức lợi nhuận tín dụng trung dài hạn lớn, chất
trung, dài hạn của ngân hàng là lớn. Nói chung các ngân hàng đều mong muốn tỷ
lệ này cao do tín dụng trung dài hạn mang lại thu nhập cao hơn so với tín dụng
ngắn hạn. Tuy nhiên do đặc tín rủi ro cao nên ngân hàng sẽ căn cứ vào đặc điểm
riêng của nguồn vốn, khả năng quản lý trình độ chuyên môn của mình để xác định
tỷ lệ này cho phù hợp.
- Tỷ lệ nợ quá hạn của tín dụng trung, dài hạn:
Ngân hàng muốn nâng cao chất lượng tín dụng bằng cách đáp ứng nhu cầu
khách hàng nhưng nếu đáp ứng một cách ồ ạt, không có chọn lọc và sự thẩm định
kỹ càng khách hàng của mình thì rủi ro tín dụng là rất cao. Khi đó chất lượng tín
dụng trung, dài hạn tăng không còn phát huy được tính tích cực và hiệu quả của
nó nữa. Rủi ro tín dụng trung dài hạn được phản ánh ở các chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá
hạn và khả năng thu hồi nợ quá hạn:
Tổng dư nợ quá hạn trung, dài hạn
24
Tỷ lệ nợ trung, dài hạn quá hạn = x100%
Tổng dư nợ trung, dài hạn
Chỉ tiêu này phản ánh trực tiếp chất lượng tín dụng trung dài hạn của ngân
hàng. Chỉ tiêu này càng thấp (< 5%) thì chất lượng cho vay càng cao chứng tỏ
hoạt động tín dụng ngân hàng có chất lượng cao và ngược lại khi chỉ tiêu này cao
(> 5%) thì chất lượng tín dụng của ngân hàng thấp.
Nợ quá hạn được chia làm hai loại:
+ Nợ quá hạn do định kỳ trả nợ ngắn hơn chu kỳ sản xuất kinh doanh của
ngân hàng hoặc vì một lý do nào đó chưa thu được tiền bán hàng nên đến kỳ trả
nợ khách hàng chưa có tiền trả. Ngân hàng buộc phải chuyển nợ quá hạn, loại nợ
quá hạn này ngân hàng có khả năng thu hồi nợ cao.
+ Nợ quá hạn do khách hàng vay vốn bị phá sản hoặc kinh doanh thua lỗ,
bị thiên tai, lừa đảo hay bị chết không còn khả năng trả nợ cho ngân hàng, buộc
ngân hàng phải chuyển sang nợ quá hạn chờ sử lý. Loại nợ quá hạn này được gọi
là nợ khó đòi, khả năng thu hồi nợ này rất thấp.
Từ hai loại nợ này ta còn phải xem xét chỉ tiêu khả năng thu hồi nợ của
Khách hàng đến với ngân hàng mong muốn được vay vốn phù hợp với thời
gian nhanh nhất và chi phí thấp nhất. Nâng cao chất lượng tín dụng trên cơ sở
phục vụ khách hàng tốt nhất nhưng cũng phải đảm bảo an toàn tín dụng. Hiện nay
quy định thời hạn xét duyệt cho vay là tối đa 30 ngày kể từ ngày nhận được đơn
26
xin vay vốn. Trong khoảng thời gian này ngân hàng phải làm rất nhiều công việc
trong công tác thẩm định. Với một khách hàng lâu năm và truyền thống thì công
tác thẩm định tốn ít thời gian và chi phí hơn nữa các thông tin có độ chính xác và
tin cậy cao, thời gian xét duyệt ngắn hơn. Với một khách hàng mới thì công tác
thẩm định vất vả hơn, việc thu thập thông tin có nhiều hạn chế nên chi phí và thời
gian cho thẩm định là cao hơn. Việc tiếp xúc giữa khách hàng và ngân hàng có
nhiều thủ tục phiền phức hơn.
Giai đoạn này yêu cầu phải có những cán bộ tín dụng giỏi và có khả năng
chuyên môn tốt nhằm đưa ra những quyết định chính xác trong khoảng thời gian
nhanh nhất đồng thời đảm bảo an toàn và hiệu quả trong những khoản vay đó thì
mới đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng.
- Tinh thần thái độ phục vụ, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ tín dụng:
Khi cho vay, nếu cán bộ tín dụng có tinh thần thái độ, đạo đức nghề nghiệp
tốt thì trong quá trình tiếp cận phục vụ khách hàng sẽ tạo cho khách hàng niềm tin
và tạo một hình ảnh tốt trong mỗi khách hàng.
Năng lực trình độ chuyên môn, kinh nghiệm của cán bộ tín dụng có ảnh
hưởng rất lớn đến chất lượng các món vay. Với năng lực trình độ chuyên môn và
kinh nghiệm cao thì khi thẩm định cho vay sẽ đưa ra được những quyết định đúng
đắn, có hiệu quả, khả năng gặp rủi ro thấp.
- Cơ sở vật chất, công nghệ hiện đại của ngân hàng cũng ảnh hưởng tích
cực đến chất lượng tín dụng:
Một cơ sở tốt có ảnh hưởng tốt tới tâm lý khách hàng, phục vụ cho các hoạt
động nghiệp vụ của ngân hàng một cách chính xác và nhanh nhất; một cơ sở vật
chất tốt sẽ tạo hứng khởi cho chính cán bộ tín dụng thực hiện tốt công việc của
mình.