Luận văn
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG CHO
VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI CÁC
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CHƯƠNG 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG CHO
VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI CÁC
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.Hoạt động cho vay trung và dài hạn:
1.1.1. Khái niệm :
Cho vay (Tín dụng) là hình thức quan hệ giữa hai đối tượng: người đi vay và người
Không nằm ngoài quy luật này, các khoản cho vay trung và dài hạn thường mang lại cho
ngân hàng các khoản thu nhập lớn mà biểu hiện cụ thể ở đây là lãi suất các khoản cho vay
trung và dài hạn rất cao. Sở dĩ các ngân hàng phải đặt mức lãi xuất cao đối với các khoản
cho vay trung và dài hạn là nhằm chi trả cho những chi phí bù đắp rủi ro và những chi phí
trong việc huy động những nguồn vốn phục vụ cho hoạt động cho vay trung và dài hạn.
1.1.2.3. Tính thanh khoản của khoản vay thấp:
Tính thanh khoản là chi tiêu phản ánh khả năng chuyển đổi thành tiền của một
loại hàng hoá. Chỉ tiêu nay được đánh giá và tính toán thông qua thời gian và những chi
phí để chuyển hàng hoá đó thành tiền. Các khoản cho vay trung và dài hạn có thời gian
dài nên khả năng chuyển đổi thành tiền của nó rất thấp hoặc phải chịu chi phí cao. Đây
cũng là lý do quan trọng để các ngân hàng đặt mức lãi suất cao cho các khoản cho vay
trung và dài hạn.
1.2.Chất lượng cho vay trung và dài hạn
1.2.1. Quan niệm về chất lượng cho vay trung và dài hạn:
Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp muốn đứng vững và phát triển trong
hoạt động kinh doanh thì việc không ngừng nâng cao chất lượng là điều tất yếu. Chất
lượng cho vay trung và dài hạn được hiểu theo đúng nghĩa là vốn cho vay trung và dài
hạn của ngân hàng được khách hàng đưa vào quá trình sản xuất kinh doanh, dịch vụ… để
tạo ra một số tiền lớn hơn vừa để hoàn trả ngân hàng gốc và lãi vừa trang trải chi phí khác
và có lợi nhuận.
Chất lượng cho vay trung và dài hạn còn được xác định qua nhiều yếu tố như:
Thu hút khách hàng, cung cấp kịp thời với thủ tục thuận tiện nhưng phải chặt chẽ chi phí
về tổng thể lãi suất, chi phí về nghiệp vụ, độ an toàn cao ,ngân hàng phải thu hồi đủ vốn,
đủ lãi đúng thời hạn, không có tình trạng nợ quá hạn, nợ khó đòi.
Hiểu đúng bản chất, chất lượng cho vay trung và dài hạn, phân tích và đánh
giá đúng chất lượng cho vay trung và dài hạn hiện tại cũng như xác định chính xác
nguyên nhân của những tồn tại về chất lượng cho vay trung và dài hạn sẽ giúp cho ngân
hàng tìm được biện pháp quản lý thích hợp để có thể đứng vững trong nền kinh tế thị
trường có sự cạnh tranh gay gắt.
ảnh tốt đẹp về biểu tương, uy tín của ngân hàng va sự trung thành của ngân hàng.
Chất lượng cho vay trung và dài hạn làm tăng khả năng sinh lời của các sản
phẩm, dịch vụ ngân hàng do giảm được sự châm trễ, giảm chi phí nghiệp vụ, chi phí quản
lý, các chi phí thiệt hại do không thu hồi được vốn cho vay.
Chất lượng cho vay trung và dài hạn đảm bảo khả năng thanh toán và lợi nhuận
của ngân hàng, tạo thế mạnh cho ngân hàng trong cạnh tranh.
Chất lượng cho vay trung và dài hạn tao thuận lơi cho sư tồn tại lâu dài của
ngân hàng bởi vì chất lượng cho vay cho phép ngân hàng có những khách hàng trung
thành và uy tín đem lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng. Chất lượng cho vay sẽ củng cố
thêm mối quan hệ xã hội của ngân hàng và điều này là rất cần thiết ở các ngân hàng
thương mại.
Với những ưu thế trên, việc củng cố và tăng cường chất lượng cho vay trung và
dài hạn là sự cần thiết khách quan vì sự tồn tại và phát triển lâu dài của ngân hàng thương
mại. Và cũng chính vì vậy, chất lượng cho vay luôn luôn đòi hỏi sự cải tiến.
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng cho vay trung và dài hạn của ngân
hàng thương mại:
1.2.3.1. Các nhân tố thuộc về ngân hàng:
a. Chính sách cho vay của ngân hàng:
Đối với các ngân hàng thương mại ở Việt nam thì chính sách cho vay thường
được thể hiện dưới hình thức văn bản,trong đó đưa ra lý luận và khái niệm cơ bản của
việc đầu tư, cho vay. Văn bản này bao gồm các tiêu chuẩn, các hướng dẫn và các giới hạn
để chỉ đạo quy trình ra quyết định cho vay. Chính sách cho vay tạo cho người cán bộ tín
dụng ý thức về phương hướng và một khung tham chiếu xác định dể theo đó xem xét cân
nhắc một đon vị vay nhất định. Khi xây dựng chính sách cho vay, các nhà quản lý cần
chú ý nội dung của chính sách cần phù hợp với đường lối phát triển của chính phủ, đồng
thời đảm bảo kết hợp hài hoà quyền lợi của người gửi tiền, người đi vay và chính bản
thân của ngân hàng. Một chính sách cho vay tốt sẽ giúp cán bộ tín dụng có cơ sở vững
chắc để đưa những khoản cho vay an toàn hiệu quả,
b. Quy trinh cho vay:
đảm bảo sự công bằng, đồng thời đảm bảo khoản cho vay có hiêu quả, tạo lợi nhuận cho
ngân hàng trên cơ sở an toàn. Ngoài ra, cán bộ tín dụng có trách nhiệm kiểm tra các món
vay hiện có , báo cáo tiến độ giải ngân thu nợ dịnh kì từ người vay, liên tục đánh giá triển
vọng các khoản cho vay để xác định các vấn đề khó khăn phát sinh càng sớm càng tốt.
Có thể nói, cán bộ tín dụng giữ một vai trò quyết trong hoạt động cho vay của ngân hàng.
Trong điều kiện kinh tế ngày càng phát triển, một cán bộ tín dụng hàng ngày phải
xử lý nhiều nghiệp vụ có tính biến động liên quan đến nhiều lĩnh vực, ngành nghề kinh
tế, gặp gỡ trực tiếp nhiều loại khách hàng, đối mặt với nhiều loại cám dỗ, có nhieu cơ hội
để thực hiện hành vi vụ lợi… Vì vậy, cán bộ tín dụng cần được tuyển chọn cẩn trọng,
phải đảm bảo cả về mặt đạo đức lẫn nghề nghiệp. Nếu trình độ của cán bộ tín dụng hạn
chế không có khả năng phân tích thẩm định dự án, không có khả năng phân tích dược
năng lực tài chính, khả năng quản lý của khách hàng, thiếu khách quan khi đánh giá dự
án thì dễ chọn phải dự án tồi không mang tính khả thi, khi đi vao hoạt động dự án không
mang lại hiệu quả, doanh nghiệp làm ăn thua lỗ và việc không trả nợ được cho ngân hàng
là điều tất yếu. Do vậy sự thành công của mỗi khoản cho vay trực tiếp phụ thuộc vào khả
năng, tính chủ động và sự cống hiến của cán bộ tín dụng.
d. Thông tin tín dụng:
Trong nền kinh tế thị trường, ai nắm bắt được nhiều thông tin chính xác kịp thời
hơn, người đó sẽ thắng trong cạnh tranh. Trong hoạt động cho vay, ngân hàng bỏ tiền ra
trên cơ sở lòng tin. Lòng tin có chính xác hay không phụ thuộc vào chất lượng thông tin
có được. Để việc cho vay có chất lượng hiêu quả, giảm thiểu rủi ro, ngân hàng phải có
được và phân tích, xử lý chính xác nhiều thông tin có liên quan. Thông thường có 2 nhóm
thông tin sau:
- Thông tin phi tài chính: là những thông tin không phải từ những sổ sách, số
liệu tài chinh. Chúng có rất nhiều loại phong phú bao gồm thông tin trực tiếp và thông tin
gián tiếp. Thông tin trực tiếp như tính cách, uy tín, năng lực quản lý, năng lực sản xuất
kinh doanh … của người vay. Loại thông tin gián tiếp như tình hình kinh tế xã hội, xu
hướng phát triển, khả năng cạnh tranh của ngành nghề. Những yếu tố có thể thay đổi hay
ảnh hưởng tới khu vực, dự án… trong tương lai.
- Thông tin tài chính: bao gồm các thông tin liên quan đến tình hình tài chính
quan tới kế toán cho vay.
Chất lượng cho vay trung và dài hạn tuỳ thuộc vào mức độ phát hiện kịp thời
nguyên nhân các sai sót phát sinh trong quá trình thực hiện một khoản cho vay trung và
dài hạn của công tác kiểm soát nội bộ để có biện pháp khăc phục kịp thời.
g. Trang thiết bị phục vụ cho hoạt động cho vay trung và dài hạn:
Đây là nhân tố tác động gián tiêp tới chất lượng cho vay trung và dài hạn của.
Các ngân hàng có trang thiết bị hiện đại sẽ là điều kiện thuận lợi cho các công tác thu
thập thông tin, tìm kiếm khách hàng, phục vụ nhu cầu của khách hàng, thẩm định , giám
sát … từ đó nâng cao được chất lượng hoạt động cho vay của ngân hàng.
1.2.3.2. Các nhân tố thuộc về phía khách hàng.
Khách hàng là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cho vay trung và dài
hạn bởi hiệu quả và chất lượng cho vay dựa trên hiệu quả sản xuất kinh doanh của khách
hàng mà điều đó phụ thuộc vào năng lực của khách hàng.
Một khách hàng vay vốn sản xuất kinh doanh không có hiệu quả, sản phẩm sẽ
không tiêu thụ được, kinh doanh không có lãi, tình trạng mất vốn do thua lỗ … sẽ là
những nguyên nhân trực tiếp làm cho các khoản vay không thực hiện được đúng hạn. Do
đó, ngân hàng có thu được tiền gốc và lãi vay hay không là phụ thuộc chủ yếu vào người
vay, họ sử dụng vốn kinh doanh có hiệu quả hay không.
Xuất phát từ vai trò quan trọng của khách hàng trong việc quản lý tiền vay nên
trước khi cho vay ngân hàng cần đánh giá được năng lực của khách hàng trên các khía
cạnh sau:
a. Năng lực thị trường của khách hàng:
Năng lực thị trường được thể hiên qua chất lượng sản phẩm, giá cả sản phẩm,
chu ki sống của sản phẩm, vị thế của doanh nghiệp trên thị trường. Tìm hiểu năng lực thị
trường của khách hàng sẽ giúp ngân hàng đánh giá được mặt mạnh, yếu sản phẩm của
khách hàng trên thị trường, biết được sự phù hợp của dự án hoạt động so với khả năng
của khách hàng.
b. Năng lực tài chính:
Năng lực tài chính của doanh nghiệp được thể hiên ở khả năng độc lập tự chủ
tài chính trong kinh doanh, khả năng thanh toán và trả nợ. Nó còn thể hiện ở số vốn tự có
trương phát triển kinh tế của Đảng, của Nhà nước và địa phương sẽ có sự an toàn và hiệu
quả hơn.
b. Môi trường kinh tế:
Môi trường kinh tế dù có thay đổi theo chiều hướng nào cũng sẽ tác động tới
chất lượng cho vay của ngân hàng. Khi nền kinh tế hưng thịnh sẽ tạo điều kiện thuận lợi
cho các doanh nghiệp trong việc kinh doanh và đạt lợi nhuận cao, trên cơ sở doanh
nghiệp sẽ hoàn trả cả gốc và lãi đầy đủ cho ngân hàng. Ngược lại khi nền kinh tế suy
thoái, khủng hoảng sẽ làm sản xuất ngưng trệ, các doanh nghiệp không bán được hàng,
nguy cơ thua lỗ là rất lớn, khi doanh nghiệp đã làm ăn thua lỗ thì sẽ không có tiền trả lại
cho ngân hàng.
c. Môi trường pháp lý:
Môi trương pháp lý trong nước cũng là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến chất
lượng cho vay trung và dài hạn của các ngân hàng thương mại. Hoạt động cho vay gắn
chặt với các quy định về pháp lý, tất cả các cá nhân, tổ chức kinh tế phải căn cứ vào các
quy định của pháp luật để họat động. Thực tế ở Việt nam cho thấy đất nước đang trong đà
chuyển đổi nền kinh tế do đó chưa có những quy hoạch cụ thể, ổn định lâu dài ở tầm vĩ
mô, từ đó có những văn bản vừa mới ra đời đã lại thay đổi. Nhiều doanh nghiệp đầu tư
vừa mới lắp đặt xong thiết bị khai thác, khi bước vào sản xuất thì sản phẩm không tiêu
thụ được do Nhà nước có chủ trương cấm sản xuất hoặc hạn chế, một số mặt hàng lại
không đủ nguyên liệu đầu vào cho sản xuất dẫn tới việc sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp không diễn ra theo đúng kế hoạch, ảnh hưởng tới việc thu hồi vốn của doanh
nghiệp và công tác trả nợ cho ngân hàng. Vì thế trong nền kinh tế thi trường đầy sôi động
thì một hệ thống pháp luật ổn định, chặt chẽ, nghiêm minh là điều kiện dảm bảo cho mọi
hoạt động kinh doanh thuận lợi, sự ổn định, chặt chẽ nghiêm minh của pháp luật tạo điều
kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong kinh doanh đồng thời buộc mọi người vay vốn
phải có ý thức trong sản xuất kinh doanh và hoàn trả vốn cho ngân hàng.
Sở Giao dịch, 27 chi nhánh và 79 phòng giao dịch, 848 máy giao dịch tự động – ATM,
800 điểm chấp nhận thanh toán bằng thẻ - POS.
Các công ty thành viên bao gồm: Công ty kiều hối Đông Á(1 hội sở và 7 chi nhánh)
công ty chứng khoán Đông Á có 2 sàn giao dịch tại TP.HCM, Hà Nội và một công ty trực
thuộc là công ty TNHH Quản Lý Quỹ Đầu tư chứng khoán Đông Á.
Hệ thống quản lý chất lượng hoạt động theo quy chuẩn hóa theo tiêu chuẩn ISO
9001:2000.
Công nghệ: Từ năm 2003, Đông Á Bank đã khơi động dự án hiện đại hóa công
nghệ và chính thức đưa và áp dụng phần mềm quản lý mới (Core-Banking) trên toàn hệ
thống từ tháng 6/2006. Phần mềm này do tập đoàn I-Flex cung cấp. Với việc thành công
trong đầu tư công nghệ và hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng. Đông Á Bank đã cung cấp nhiều
dịch vụ mới, đáp ứng nhu cầu của mọi khách hang cá nhân và doanh nghiệp. Đặc biệt,
Đông Á Bank có khả năng mở rộng phục vụ trực tuyến trên toàn hệ thống chi nhánh, qua
ngân hang tự động và ngân hang điện tử mọi lúc mọi nơi.
2.1.2. Khái quát tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng Đông Á
2.1.2.1. Hoạt động huy động vốn :
Như chúng ta đã biết bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tiến hành hoạt động kinh
doanh đều phải co vốn. Ngân hàng là một doanh nghiệp đặc biệt ( hoạt động kinh doanh
trên lĩnh vực tiền tệ ), vì vậy nó cũng cần có vốn để thực hiện việc hoạt động kinh doanh
của mình. Tuy nhiên, khác với các doanh nghiệp khác nguồn vốn chính chủ yếu của một
ngân hàng là vốn huy động.Vì vậy công tác huy động vốn được xác định là nhiệm vụ tiên
quyết trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Muốn mở rộng hoạt động tín dụng đòi
hỏi ngân hàng phải mở rộng hoạt động huy động vốn. Vấn đề đặt ra đối với mỗi ngân
hàng là phải làm sao huy đông được nguồn vốn đa dạng với giá rẻ nhằm đảm bảo khả
năng cạnh tranh của ngân hàng.
Hiểu rõ được điều đó, mặc dù trong những năm qua tình hình kinh tế có nhiều
biến động và sự cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng ngày càng gay gắt nhưng được sự
chỉ đạo của ban tổng giám đốc, ban giám đốc và sự nỗ lực phấn đấu của toàn thể cán bộ
nhân viên trong công tác huy động vốn ngân hàng đã đạt được những kết quả đáng kể.
Tính đến 31/12/2007, tổng vốn huy động của DongA Bank đạt 21.699 tỷ đồng và
- Chương trình của Japanese Bank for international Cooperation (gọi tắt là JBIC):
cho vay chủ yếu trung và dài hạn, tài trợ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa đầu tư đổi mới
công nghệ và cơ sở hạ tầng.
- Chương trình của Asian Development Bank (gọi tắt là ADB): cho vay mua nhà
đối với người có thu nhập thấp.
2.2. Thực trạng chất lượng tín dụng trung dài hạn tại ngân hang DongA:
2.2.1. Phân tích cơ cấu cho vay trung dài hạn tại ngân hang DongA:
2.2.1.1. Dư nợ tín dụng :
Bảng 3 :Dư nợ tín dụng các năm 2003 - 2005
Đơn vị : Nghìn Tỷ đồng
Chỉ Tiêu
2006 2007
Dnợ Tỷ trọng Dnợ Tỷ trọng
Tổng dư nợ 7.971 17.808
Dư nợ ngắn hạn 6.602 82.8% 13.517 75.9%
Dư nợ TDH 1.369 17.2% 4.291 24.1%
( Nguồn:Bảng kê tình hìnhsử dụng vốn và báo cáo kết quả kinh doanh )
Biểu đồ dư nợ tín dụng các năm 2006-2007
0
2000
4000
6000
8000
10000
12000
Đơn vị :nghin tỷ đồng
Chỉ tiêu 2006 2007
2007/2006
ST %
1.Tổ chức kinh tế 4.965
10.541
5.576
112.3
2. Tổ chức dân cư
3.006
7.267
4.261
141.7
Tổng dư nợ 7.97117.8089.837
xã hội (từ 11 tỷ lên 170 tỷ), hoạt động khách sạn và nhà hang cũng tăng mạnh (104 tỷ lên
475 tỷ)…
Dự nợ theo ngành tại DongA cho ta thấy một phần sự phát triển của xã hội hiện
nay dần có sự chuyển dịch dần sang các ngành dịch vụ, y tế và quản lý nhà nước và
an ninh quốc phòng….
2.2.2. Đánh giá chung về chất lượng cho vay trung và dài hạn tại ngân hàng và
biện pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng
2.2.2.1. Những kết quả đạt được và nguyên nhân
Hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng có sự phát triển manh mẽ cả về quy
mô cũng như chất lượng.Cùng với sự phát triển của toàn ngân hàng, hoạt động tín dung
trung và dài hạn đã đạt được bước tiến mới góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế
của đất nước.
Thứ nhất, công tác huy động vốn đã đạt được kết quả đáng khích lệ/Quy mô vốn
huy động không ngừng tăng lên với tốc độ cao qua các năm và mặc dù vốn huy động
ngắn hạn và trung dài hạn là chủ yếu nhưng với quy mô lớn và ổn định tương đối cao đã
tạo cho ngân hàng có một lượng vốn dồi dào để cho vay trung và dài hạn.
Thứ hai, để đạt được mục tiêu hiệu quả kinh tế, an toàn vốn đồng thời thực hiện
chủ trương đổi mới, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nhà nước trong đầu tư tín dụng trung
và dài hạn ngân hang DongA luôn ưu tiên đối với những dự án đầu tư theo chiều sâu vào
những ngành kinh tế mũi nhọn, những lĩnh vực có tiềm năng, tránh đầu tư tràn lan kém
hiệu quả.
Thứ ba, các khoản cho vay trung dài hạn của ngân hang có mức độ an toàn khá
cao, thể hiện ở tỷ lệ nợ quá hạn trung dài hạn trong tổng dư nợ khá thấp
Đạt được những kết quả trên là do :
* Ngân hàngluôn giữ vững, củng cố và phát triển quan hệ tín dụng – thanh toán
với các khách hàng truyền thống trên cơ sở thẩm định và tư vấn đối với các dự án,
phương án kinh doanh có tính khả thi cao, có khả năng thanh toán để thực hiện đầu tư có
hiệu quả.
* Luôn chú trọng hoàn thiện các thủ tục, điều kiện, thể lệ, quy trình quản lý tín
dụng để nhằm vừa đảm bảo lựa chọn chính xác những khách hàng tốt tránh rủi ro cho
- Những nhân tố khách quan:
Tình trạng yếu kém của các doanh nghiệp trong nước cả về nguồn vốn, lao động,
công nghệ và năng lực quản lý, sản phẩm kém sức cạnh tranh; quá trình cổ phần hoá diễn
ra chậm, các cơ chế chính sách chưa thể hoàn thiện trong thời gian ngắn. Cơ cấu sản xuất
trong từng nghành, từng lĩnh vực chưa chuyển biến kịp thời theo sự biến động nhanh của
nhu cầu thị trường trong và ngoài nước.
Kinh tế thế giới diễn biến không thuận lợi và phức tạp; những khó khăn có thể kéo
dài và ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng tăng trưởng kinh tế của nước ta.
Môi trường pháp lý cho hoạt đông của ngân hành mặc dù đã được tháo gỡ nhưng
nhiều khâu thiếu đồng bộ chưa nhất quán, làm cho nhận thức trong việc chấp hành chế
độ, luật pháp cũng chưa thật rõ ràng chuẩn mực nhất là trong vấn đề thế chấp tài sản và
xử lý tài sản thế chấp, cho vay đối với khách hàng có quan hệ với nhiều tổ chức tín dụng.
Sức ép cạnh tranh dặc biệt từ các ngân hàng thương mại quốc doanh, ngân nàng
nước ngoài, ngân hàng liên doanh là rất lớn.
Diễn biến lãi suất phức tạp khó lường trước được và không thuận lợi cho hoạt
động của nhân hàng.
hang:
Nằm trong kế hoạch phát triển kinh doanh của ngân hàng trong thời gian tới,
phương hướng phát triển hoạt động cho vay trung và dài hạn được ngân hang cụ thể hoá
và phấn đấu thực hiện.
Trước hết, ngân hàng sẽ lựa chọn những dự án phù hợp với chiến lực phát triển
đất nước trong thời gian tới theo các ngành kinh tế, các vùng và kế hoạch phát triển tổng
thể của từng doanh nghiệp. Khi xét duyệt dự án, ngân hang luôn lấy tiêu chuẩn hiệu quả
và tính khả thi của dự án là tiêu chuẩn hàng đầu.
Duy trì thường xuyên công tác tổ chức đánh giá phân loại khách hàng theo định kì
( trên cơ sở các thông tin có chọn lọc ). Từ đó xây dựng giới hạn cho vay và hạn mức tín
dụng cho từng khách hàng, có chính sách lãi suất phù hợp kết hợp với chính sách phát
triển sản phẩm dịch vụ theo hướng đáp ứng tối đa nhu cấu khách hàng để có thể gia tăng
số dịch vụ cung cấp cho từng khách hàng, đồng thời tăng doanh số giao dịch.
Tăng cường thu thập thông tin về các chương trình đầu tư phát triển của thành
phố, của các bộ ngành, các tổng công ty kết hợp với tình hình hoạt động của doanh
nghiệp nhằm lên kế hoạch tiếp cận cụ thể với các chính sách áp dụng phù hợp, đáp ứng
đúng nhu cầu khách hàng.
Thực hiện nghiêm túc luật tổ chức tín dụng và quy trình tín dụng của ngành, nâng
cao vai trò công tác thẩm định dự án trong xét duyệt cho vay trung và dài hạn, tăng cường
công tác kiểm tra kiểm soát, nhất là đối với các doanh nghiệp có dấu hiệu khó khăn để
không phát sinh thêm nợ quá hạn và rủi ro trong tín dụng.
Mở rộng cho vay ngoại tệ với những khách hàng có khả năng tái tạo ngoại tệ hoặc
tìm được nguồn cung ngoại tệ từ các doanh nghiệp khác, cho vay kết hợp với áp dụng các
công cụ phòng chống rủi ro tỉ giá, xác định khả năng hỗ trợ ngoại tệ của ngân hàng đối
với một số khách hàng có doanh số giao dịch lớn để nâng mức tăng trưởng tín dụng một
cách an toàn trên cơ sở chính sách cung ứng ngoại tệ phù hợp với tình hình cung cầu.
3.2. Một số giải pháp nhằm mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng trung
và dài hạn tại ngân hang DongA
3.2.1.Các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng thẩm định dự án và ra quyết
định cho vay:
Hiện tại các khoản cho vay trung và dài hạn của ngân hàng chủ yếu là trung hạn
không quá 5 năm. Theo quy định, đối với các dự án đầu tư chiều sâu có thời gian xây
dựng thì thời hạn cho vay không quá 3 năm, còn các dự án mua máy móc về lắp đặt thì
thời hạn cho vay chỉ 2 năm. Quy định về thời hạn cho vay như vậy là chưa thật hợp lí:
cũng là một hình thức đầu tư chiều sâu nhưng các dự án đầu tư theo cả một dây chuyền
mới dù với quy mô vừa hay nhỏ thì doanh nghiệp cũng khó hoàn trả vốn trong thời gian 3
năm bởi lẽ với một dây chuyền mới, sản phẩm sản xuất ra sẽ là mới đối với thị trường (về
giá cả, chất lượng, chủng loại, ); mặt khác, công nhân phải có thời gian làm quen với dây
chuyền mới, sản phẩm mới do đó thời kì đầu sản phẩm sản xuất ra được tiêu thụ chậm
cần có thời gian chiếm lĩnh thị trường, thậm chí doanh nghiệp có thể bị thua lỗ trong thời
gian này. Vì vậy, đối với các doanh nghiệp đầu tư theo hình thức này thời gian cho vay nên
dài hơn, có thể chuyển qua cho vay tín dụng dài hạn (trên 5 năm).
3.2.1.3. Giảm bớt thời gian xét duyệt hồ sơ vay vốn
Để khắc phục tình trạng hồ sơ vay vốn thiếu trung thực làm mất thời gian thẩm
định lại số liệu, khi doanh nghiệp có ý định vay vốn tại ngân hàng, cán bộ tín dụng cần
phổ biến cho doanh nghiệp các thủ tục cần thiết trong hồ sơ và yêu cầu doanh nghiệp
cung cấp tài liệu thoả mãn các điều kiện sau:
- Cung cấp một cách trung thực các thông tin về sản xuất kinh doanh.
- Hồ sơ gửi đến phải đầy đủ, rõ ràng, chính xác, ngắn gọn.
- Các bảng biểu trước khi đến ngân hàng cần phải có xác nhận của cơ quan kiểm
toán để đảm bảo các số liệu hạch toán là chính xác.
3.2.1.4. Nâng cao trình độ thẩm định dự án của cán bộ tín dụng:
Ngân hàng cần phải làm tốt hơn nữa công tác đào tạo cán bộ trong ngân hàng từ
lãnh đạo tới nhân viên về các kiến thức thẩm định dự án. Tiến hành các tổ thẩm định tại
ngân hàng phục vụ cho công tác thẩm định các dự án lớn. Cần phải mời các chuyên gia kĩ
thuật đối với các dự án lớn, kĩ thuật phức tạp
Trên cơ sở cán bộ có trình độ chuyên môn cao, được trang bị hiện đại, ngân hang
có thể thành lập các phòng tư vấn và lập dự án. Với ưu thế nắm bắt được thông tin từ
nhiều lĩnh vực, có quan hệ rộng với nhiều doanh nghiệp lớn, các nhà cung cấp và tiêu
thụ các phòng tư vấn của Sở sẽ giúp doanh nghiệp ra quyết định đầu tư một cách chính