Sổ tay hướng dẫn và đào tạo - Pdf 11

UỶ BAN DÂN TỘC - IRC - UNDP
ĐIỀU TRA CUỐI KỲ CHƯƠNG TRÌNH 135 - GIAI ĐOẠN II

SỔ TAY HƯỚNG DẪN
VÀ ĐÀO TẠO
Mục 1c. quản lý và lập kế hoạch chơng trình 135 74
Mục 2. Tình trạng kinh tế chung và các chơng trình trợ giúp, cứu trợ 75
Mục 3. Cơ hội việc làm phi nông, lâm nghiệp, thủy sản 75
Mục 4. Nông nghiệp và các loại đất 76
Mục 5. Kết cấu hạ tầng 77
Mục 6. Giáo dục 78
Mục 7. Y tế 79
Mục 8. Trật tự công cộng và các vấn đề xã hội 80
Hớng dẫn kết thúc phỏng vấn phiếu phỏng vấn xã 80

3
PHẦN I: CÁC LƯU Ý CHUNG

1. CÁC BIỆN PHÁP GIÁM SÁT CHẤT LƯỢNG:
Do tính chất phức tạp của cuộc điều tra nên một số biện pháp kỹ thuật đã được áp dụng
nhằm đảm bảo chất lượng số liệu điều tra, gồm:
 Phiếu phỏng vấn được thiết kế với phần lớn mã số đánh sẵn nhằm giảm thời gian đánh mã
lại sau khi thu thập số liệu và giảm sai sót.
 Công việc của các điều tra viên được 1 đội trưởng và giám sát viên kiểm tra, giám sát chặt
chẽ.
 Phiếu phỏng vấn được thiết kế không gọn quá để tránh khai thác sót thông tin, nhưng cũng
không quá chi tiết để tốn nhiều thời gian. Phiếu phỏng vấn được thiết kế để điều tra viên có
chỗ ghi thông tin ngay vào phiếu, không phải mở sổ ghi chép trung gian. Phiếu phỏng vấn
hộ, phần ghi thông tin in 3 dòng đậm xen kẽ để giúp điều tra viên tránh ghi nhầm dòng.

2. NHIỆM VỤ CỦA ĐỘI TRƯỞNG:
2.1. Trước khi đến địa bàn điều tra

4
khăn khi đến 1 hộ cụ thể, như: Không tìm thấy chỗ ở của hộ đã chọn; tìm thấy chỗ ở, nhưng hộ
không có người ở nhà hoặc đã chuyển đi nơi ở khác, nhà chưa bàn giao hoặc bán lại cho người
khác; hoặc hộ có tên chủ hộ được chọn trong danh sách đã chuyển đi và đã có hộ mới đã chuyển
đến ở (chỗ ở của hộ cũ). Nếu có trường hợp trên xảy ra, điều tra viên phải gặp đội trưởng để xin ý
kiến giải quyết.
2.3. Kiểm tra thông tin ở trang bìa, đặc biệt là tên và các mã số xác định hộ theo danh sách địa bàn
được giao. Ghi thông tin trang bìa trước khi điều tra viên đến hộ phỏng vấn.
2.4. Thu thập số liệu phiếu xã, ghi mã ngành nghề và kiểm tra phiếu phỏng vấn hộ, dự phỏng vấn.
- Phỏng vấn các cán bộ xã, cán bộ trưởng thôn/ bản/ ấp để ghi thông tin và hoàn thành phiếu
phỏng vấn xã.
- Đội trưởng có trách nhiệm hướng dẫn nghiệp vụ và giúp đỡ điều tra viên giải quyết những
khó khăn trong quá trình điều tra.
- Nhằm hoàn thành những công việc chung của đội điều tra, đội trưởng phải lập “Bảng phân
công khối lượng công việc” cho điều tra viên và tiến hành kiểm tra những công việc cụ thể
sau đây tại địa bàn điều tra:
 Kiểm tra chi tiết tất cả các phiếu phỏng vấn sau khi đã được thu thập số liệu để xem điều
tra viên thu thập số liệu đã đầy đủ và có chính xác không. Khi thấy sai sót, đội trưởng
đánh dấu vào phiếu phỏng vấn bằng bút chì và bàn với điều tra viên cách sửa chữa, kể cả
phải trở lại hộ gia đình thu thập lại số liệu sai sót.
 Dự một hoặc vài cuộc phỏng vấn của điều tra viên để đánh giá phương pháp hỏi của điều
tra viên. Điều tra viên sẽ không được báo trước về việc này
 Đội trưởng phải thường xuyên hội ý, trao đổi công việc với điều tra viên và phản ánh kết
quả công việc với cấp trên.
- Đội trưởng và điều tra viên phải có mối quan hệ chặt chẽ trong quá trình làm việc. Đội
trưởng có trách nhiệm hướng dẫn nghiệp vụ cho điều tra viên; mỗi khi có vấn đề khó khăn
nảy sinh về nghiệp vụ (chưa hiểu cụ thể về nội dung và phương pháp tính) hoặc về tổ chức,
điều tra viên phải báo cáo ngay với đội trưởng.

3. NHIỆM VỤ CỦA ĐIỀU TRA VIÊN:

thể vào thời gian thích hợp”.
3.1. Phỏng vấn các hộ điều tra:
Nhiệm vụ của điều tra viên là phỏng vấn các hộ để thu thập số liệu vào phiếu phỏng vấn hộ
gia đình. Trong thực tế có trường hợp điều tra viên phải đến 1 hộ nhiều lần mới có thể gặp được chủ
hộ hoặc những người trả lời có liên quan để phỏng vấn. Vì vậy, mỗi điều tra viên phải lên kế hoạch,
bố trí lịch cụ thể cho từng hộ gia đình và phải tận dụng mọi thời gian có thể tiếp xúc với hộ để bảo
đảm hoàn thành việc thu thập số liệu của số lượng hộ mình phụ trách.
Trong quá trình phỏng vấn, điều tra viên nhất thiết phải làm theo những chỉ dẫn trong các
mục của phần 2 trong cuốn sổ tay này.
3.2. Kiểm tra phiếu phỏng vấn sau khi hoàn thành việc thu thập số liệu:
Sau khi hoàn thành mỗi phiếu phỏng vấn, điều tra viên phải kiểm tra các mục và những
thông tin cần thu thập trong mỗi mục đối với các thành viên trong từng mục để tránh bỏ sót. Điều
tra viên phải thực hiện công việc này ngay sau khi phỏng vấn hộ và trước khi giao phiếu phỏng vấn
cho đội trưởng. Điều quan trọng nhất là phải hoàn thành việc kiểm tra này trước khi rời khỏi địa bàn
điều tra.
Điều tra viên có thể sửa lại những chỗ viết sai hoặc không rõ ràng khi phỏng vấn hộ. Ngoài
ra, điều tra viên không được tự ý sửa bất kỳ con số nào trong phiếu phỏng vấn đã được hoàn thành
nếu chưa phỏng vấn lại hộ gia đình điều tra. Điều tra viên cũng không được sao chép thông tin từ
phiếu phỏng vấn này sang phiếu phỏng vấn khác.
Lưu ý: Nếu viết sai số liệu thì gạch chéo số đó, viết số đúng vào bên cạnh, không được viết
đè lên số sai hoặc dùng bút xoá. Khi sửa số do viết sai, điều tra viên phải ký tên vào bên cạnh (gần)
với số được sửa đó.
3.3. Quan hệ với đội trưởng:
Điều tra viên phải luôn luôn chấp hành sự phân công của đội trưởng. Đội trưởng là người
thay mặt Tổng cục Thống kê và Uỷ ban dân tộc có trách nhiệm phân công công việc cho mỗi điều
tra viên.
3.4. Cuộc phỏng vấn
Điều tra viên phải làm theo những hướng dẫn trong cuốn sổ tay này một cách cẩn thận. Các
quy định cụ thể như sau:
(i). Hỏi các câu hỏi một cách chính xác như đã được in trong phiếu phỏng vấn.

quay lại những mục trước để hỏi những người khác trong hộ gia đình. Nếu một người vắng mặt thì
điều tra viên có thể hỏi những người có mặt trước, sau đó quay lại hộ vào lúc phù hợp để hỏi người
vắng mặt này.
(vi). Giữ thái độ hoàn toàn trung lập với chủ đề phỏng vấn
Điều tra viên không được tỏ thái độ ngạc nhiên, tán thành hay bất đồng với câu trả lời. Nếu
người trả lời hỏi ý kiến, điều tra viên không được nói mình nghĩ thế nào về vấn đề đó. Điều tra viên
cần giải thích mục đích của cuộc điều tra này là thu thập những ý kiến của người được hỏi về vấn
đề đó. Điều tra viên không được thảo luận quan điểm của mình với người trả lời đến khi cuộc
phỏng vấn kết thúc. Điều tra viên cũng tránh bất kỳ sự gợi ý nào theo suy nghĩ chủ quan của mình.
(vii). Nếu bạn không hiểu một câu hỏi hay thủ tục nào đó, trước hết đọc cuốn sổ tay này, sau đó có
thể hỏi đội trưởng cho rõ ràng hơn nếu cần.
(viii). Tính chất cá nhân của cuộc phỏng vấn
Tất cả các số liệu thu thập được đều được giữ kín. Bất kỳ một số liệu nào để cho người
không có trách nhiệm biết đều bị coi là vi phạm kỷ luật cuộc điều tra này. Nguyên tắc này rất quan
trọng và là cơ sở của tất cả các công tác thống kê.
Về nguyên tắc, tất cả các câu hỏi phải được hỏi chỉ với sự có mặt của các thành viên trong
hộ. Sự có mặt của người lạ có thể gây sự lúng túng và ảnh hưởng đến câu trả lời, đồng thời thông
tin sẽ không được giữ kín. Tuy vậy, thường khó hạn chế sự có mặt của người lạ trong thời gian
phỏng vấn vì việc điều tra viên đến hộ thường gây sự tò mò cho hàng xóm. Nếu gặp trường hợp như
vậy, điều tra viên đề nghị người trả lời thuyết phục họ đi chỗ khác; hoặc giải thích một cách thật
nhã nhặn để mọi người hiểu là cần phải đảm bảo tính chất giữ kín của cuộc phỏng vấn.
3.5. Cách cư xử của điều tra viên
Điều tra viên phải ghi nhớ những quy định sau:
 Phải nhã nhặn với tất cả mọi người (người trả lời và gia đình, bạn bè họ, đội trưởng, những
thành viên trong đội điều tra và những người khác có liên quan). Cách cư xử của điều tra
viên có thể có ảnh hưởng rất lớn đến dư luận của nhân dân nơi có điều tra cũng như đến kết
quả của tất cả các hoạt động điều tra.
 Trang phục gọn gàng để tạo cho người trả lời sự tin tưởng rằng đó là một người đáng tin cậy
và có trọng trách.
 Phải đến đúng giờ hẹn và đừng bao giờ để người trả lời phải chờ.

kế hoạch giám sát ở các đội được phân công. Giám sát viên phải gặp mặt các thành viên tại địa bàn
điều tra.
9
PHẦN II: PHIẾU PHỎNG VẤN HỘ GIA ĐÌNH

A. TÓM TẮT CÁC MỤC VÀ XÁC ĐỊNH NGƯỜI TRẢ LỜI THÔNG TIN.
Phiếu phỏng vấn hộ gia đình có trang bìa và 8 mục, mỗi mục có một số phần. Do đặc trưng
thông tin của mỗi mục nên một số mục phải phỏng vấn từng thành viên và một số mục phải phỏng
vấn người nắm nhiều thông tin nhất.
Trang bìa: Ghi những thông tin quản lý cuộc điều tra. Các thông tin gồm tên tỉnh, mã tỉnh, tên
huyện, mã huyện, tên xã, mã xã, địa chỉ của hộ; họ tên, mã của chủ hộ. Những thông tin này được
cung cấp trong danh sách các hộ điều tra và có thông tin cơ bản; thông tin về ngày/tháng/năm phỏng
vấn, ngày/tháng/năm đội trưởng kiểm tra; có dùng phiên dịch trong cuộc phỏng vấn hay không; họ
tên, mã số, chữ ký của điều tra viên và đội trưởng.
Mục 1. Danh sách thành viên hộ gia đình: Mục này liệt kê những thành viên của hộ gia đình và
những số liệu nhân khẩu học chính của họ, ngôn ngữ sử dụng chính hàng ngày. Các câu hỏi được
hỏi chủ hộ hoặc một số người trong hộ.
Mục 2. Giáo dục - đào tạo và dạy nghề: Mục này thu thập những thông tin về trình độ giáo dục, cấp
học, loại trường của tất cả các thành viên, khoảng cách từ nhà đến trường học, đánh giá của các
thành viên đang đi học đến chất lượng giáo dục của trường, các thông tin về miễn giảm học phí.
Người trả lời gồm các thành viên trong hộ, đặc biệt các câu hỏi liên quan đến đánh giá chất lượng
giáo dục thì phải hỏi thành viên của hộ đang đi học.
Mục 3. Y tế và chăm sóc sức khoẻ: Mục này hỏi về tình hình ốm/bệnh/chấn thương, thẻ bảo hiểm y
tế, tình hình sử dụng các dịch vụ y tế trong 12 tháng qua, đánh giá về chất lượng dịch vụ y tế, mức
độ hài lòng và lý do không hài lòng với chất lượng dịch vụ y tế nhận được của tất cả các thành viên
hộ gia đình. Các thành viên tự trả lời cho bản thân mình còn các cháu nhỏ sẽ do bố mẹ trả lời thay.
Mục 4. Thu nhập: Mục này thu thập thông tin về thu nhập của hộ từ các nguồn:

1. Điều tra viên phải ghi những thông tin hỏi được ngay khi phỏng vấn, không được ghi ra giấy để
sau cuộc phỏng vấn mới ghi vào phiếu phỏng vấn, hoặc cũng không được nhớ câu trả lời và sau
cuộc phỏng vấn mới ghi lại vào phiếu phỏng vấn.
2. Điều tra viên không cho người trả lời nghe hoặc xem những nội dung của câu hỏi. Điều tra viên
phải tìm mã hoặc câu trả lời có nội dung phù hợp nhất với câu trả lời của người trả lời. Nếu không
có mã phù hợp, điều tra viên có thể sử dụng mã “khác” và ghi rõ thêm vào phần để trống cho phù
hợp.
Đối với nội dung của câu hỏi, mã trả lời được viết bằng chữ thường thì điều tra viên phải đọc rõ
ràng cho người trả lời nghe để trả lời.
Do đó điều tra viên cần được tập huấn tốt để trở thành người thu thập thông tin có kỹ năng phỏng
vấn, tuân thủ đúng quy trình và các quy định trong quá trình thu thập thông tin, nắm bắt được đúng
thông tin của đối tượng điều tra.
Ví dụ 1:
Mục 1. Câu 1:
“GHI BẰNG CHỮ IN HOA VÀ THEO THỨ TỰ GIA ĐÌNH HẠT NHÂN"
Đây là câu dùng chữ in hoa để hướng dẫn cho điều tra viên, không phải đọc cho người trả
lời.
Ví dụ 2:
Mục 4A. Câu 2:
“CÓ LÀM VIỆC? (CÓ MÃ 1 Ở CÂU 1?)"
CÓ 1 (>>4)
KHÔNG 2
Câu hỏi này không cần đọc cho người trả lời. Điều tra viên tự căn cứ vào câu 1 của mục này
để xác định câu trả lời là có (mã số 1) hay không (mã số 2).
Ví dụ 3:
Mục 4A, câu 12:
"[TÊN] làm việc cho Nhà nước hay tổ chức, cá nhân nào?"
TỰ LÀM CHO GIA ĐÌNH LÀ DN TƯ NHÂN 1 (>>15)
TỰ LÀM CHO HỘ KHÔNG PHẢI LÀ DN TƯ NHÂN 2 (>>15)
LÀM CHO HỘ KHÁC ……… 3 (>>13)

Ví dụ 6: Mục 1, phần A câu 2:
“Giới tính của …[TÊN]…”
NAM 1
NỮ 2
Sau khi trả lời, điều tra viên hỏi tiếp câu 3 là câu tiếp theo câu 2 vì không có ký hiệu bước
nhảy nào.
b) Ký hiệu (>>) luôn đứng sau một mã hoặc giá trị trả lời nhất định và chỉ ra câu hỏi, phần, mục
hoặc người tiếp theo cần chuyển đến để tiếp tục phỏng vấn.
Ví dụ 7: Mục 2 câu 5:
Câu hỏi: "Hiện nay [TÊN] có đi học không?"
CÓ 1 (>>8)
NGHỈ HÈ 2 (>>8)
KHÔNG 3
Nếu trả lời là "có" hoặc “nghỉ hè”, điều tra viên ghi mã số tương ứng và chuyển đến câu 8 để
hỏi tiếp. Nếu trả lời là "không", điều tra viên ghi mã 3 và hỏi câu tiếp theo.

c) Ký hiệu
Cho phép điều tra viên chuyển đến câu hỏi, phần, mục hoặc người tiếp theo để tiếp tục
phỏng vấn mà không cần căn cứ vào mã/giá trị được trả lời của câu hỏi đó là mã/giá trị nào.
Ví dụ 8: Mục 2 câu 2:
Câu hỏi: "…[TÊN]… có biết đọc, biết viết không?"
CÓ … 1
KHÔNG… 2
>>
500 000
>> 5
1

Trả lời: "Hai mươi ngàn đồng"
Viết : 20 mà không viết 20 000 đồng hoặc 20 nghìn đồng.
Trả lời: "3 kg"
Viết : 3 mà không viết 3 kg
6. Những câu hỏi về số lượng và giá trị yêu cầu điều tra viên ghi đúng theo qui định trong phiếu
hỏi:
- Nếu đối tượng trả lời “không biết” hoặc “không nhớ rõ” thì ghi “KB”. Nếu chỉ nhớ tổng và
một số chi tiết thì ghi tổng số và những cột chi tiết tương ứng. Cột nào không nhớ ghi “KB”.
- Nếu đối tượng trả lời “không phát sinh số liệu” thì điều tra viên ghi số 0 mà không dùng
“KC” .
12 000 13
MỤC 0: THÔNG TIN TRANG BÌA CỦA PHIẾU PHỎNG VẤN HỘ

Phần ghi các thông tin của điều tra cơ bản Chương trình 135:
Điều tra viên ghi mã số của tỉnh/TP, huyện, xã Danh sách địa bàn điều tra. Cụ thể như sau:

1. Tỉnh/ thành phố: Ghi tên tỉnh/TP trực thuộc Trung ương được chọn điều tra và đánh mã số
tương ứng được cung cấp. Ví dụ: Tỉnh Lào Cai có mã số là 10 thì được ghi là:

1

02. Huyện: Ghi tên huyện trực thuộc tỉnh được chọn diều tra và ghi mã số tương ứng vào 3 ô.
Ví dụ: Huyện Đồng Văn mã 026 ghi là:


ngày/tháng/năm kiểm tra tài liệu của hộ, đồng thời ký tên. 14
MỤC 1A. DANH SÁCH THÀNH VIÊN HỘ GIA ĐÌNH

Mục đích
Xác định các thành viên của hộ gia đình và thu thập những thông tin cơ bản về nhân khẩu
học của các thành viên trong hộ gồm: Giới tính, quan hệ với chủ hộ, tuổi, tình trạng hôn nhân. Danh
sách thành viên hộ gia đình là căn cứ quan trọng để tính toán những chỉ tiêu bình quân đầu người
như thu nhập, trình độ giáo dục, v.v làm căn cứ đánh giá mức sống giữa các vùng, từ đó có thể
đánh giá được tác động của Chương trình 135 giai đoạn II đến các mục tiêu như nâng cao mức sống
của nhân dân.

Người trả lời
Tốt nhất là chủ hộ sẽ trả lời cho mục này. Nếu chủ hộ đi vắng thì một thành viên đại diện
cho hộ được các thành viên khác suy tôn sẽ trả lời thay. Người trả lời phải biết các thông tin của các
thành viên của hộ gia đình. Điều tra viên phải hỏi và xác định đúng người trả lời. Các thành viên
khác sẽ bổ sung thêm những thông tin cho đầy đủ, đặc biệt là về bản thân họ.

Khái niệm/Định nghĩa/Phạm vi
Hộ gia đình:
Là một hoặc một nhóm người ăn chung, ở chung trong một chỗ ở từ 6 tháng trở lên trong
12 tháng qua và có chung quỹ thu chi. Thời gian 12 tháng qua tính từ thời điểm tiến hành cuộc
phỏng vấn trở về trước.
Thành viên hộ gia đình:
Những người được coi là thành viên của hộ phải có hai điều kiện sau:
1- Cùng ăn, ở chung trong hộ 6 tháng trở lên trong 12 tháng qua.
2- Có chung quỹ thu chi, nghĩa là mọi khoản thu nhập của thành viên đều được đóng góp
vào ngân sách chung của hộ và mọi khoản chi tiêu của họ đều lấy từ ngân sách đó.

không tính là thành viên của hộ, mặc dầu họ đã sống trong hộ hơn 6 tháng.
8- Thành viên đi khỏi ra đình để làm việc và gửi tiền về cho gia đình như đi xuất lao động
nước ngoài hoặc đi ra thành phố làm việc mặc dù trên 6 tháng vẫn được coi là thành viên
hộ gia đình
Có nhiều kiểu hộ gia đình:
- Hộ gia đình 2 thế hệ, gồm bố mẹ và các con của họ.
- Hộ gia đình nhiều thế hệ, cấu thành từ chủ hộ, vợ và các con của chủ hộ; bố/mẹ chủ hộ,
cháu và những người khác, mà họ có thể có quan hệ huyết thống hoặc không, cùng ăn ở
chung trong một chỗ ở với thời gian 6 tháng trở lên trong 12 tháng qua kể từ ngày phỏng
vấn trở về trước.
- Hộ gia đình gồm hai ba cặp vợ chồng và không có con cái.
- Hộ độc thân.
Chỗ ở:
Là một nhóm các cấu trúc (phòng, căn hộ, ngôi nhà) riêng rẽ hay kề nhau được các thành
viên hộ gia đình dùng để ở. Có những dạng chỗ ở như sau:
- Có thể là túp lều, nhà tạm, hay một căn nhà kiên cố riêng rẽ.
- Một phần của túp lều, nhà tạm hay một căn nhà kiên cố.
- Một nhóm các túp lều, nhà tạm hay căn nhà kiên cố, có hoặc không có hàng rào hay
tường bao quanh.
- Căn hộ khép kín hoặc không khép kín.
- Một phần của căn hộ khép kín hoặc không khép kín.
Người ở trọ:
Là những người trả tiền thuê chỗ ở và ăn/không ăn cơm trọ tại hộ gia đình điều tra. Họ
không được tính là thành viên hộ gia đình đang phỏng vấn mà được tính là thành viên của hộ gia
đình khác.

Nội dung và phương pháp ghi
Mục này gồm 10 câu hỏi từ câu 1 đến câu 8, điều tra viên nên hoàn thành các câu từ 1 đến 8
cho tất cả các thành viên hộ đã được điều tra năm 2007 trong danh sách được cung cấp trước khi
hỏi thêm cho các thành viên khác.

Câu 2: Đối với những người trả lời trực tiếp, điều tra viên có thể dễ dàng xác định người đó là nam
hay nữ. Tuy nhiên, đối với các cháu nhỏ và những người đi vắng, điều tra viên không được dựa vào
tên đệm để suy đoán người đó là nam hay nữ mà phải hỏi người trả lời chính để ghi mã 1, hay mã 2.
Câu 3: Ghi tên dân tộc và đủ 2 chữ số về mã số dân tộc của các thành viên trong hộ theo bảng mã
dân tộc vào vị trí tương ứng.
Câu 5: Ghi tháng, năm sinh của mỗi thành viên theo dương lịch. Điều tra viên phải xác định tháng,
năm sinh thực tế của từng thành viên trong hộ. Nếu có giấy tờ, ví dụ: Giấy khai sinh, sổ hộ khẩu, hộ
chiếu thì lấy tháng, năm sinh theo giấy tờ đó. Nếu không có giấy tờ hoặc giấy tờ khai không đủ,
không đúng thì dựa vào lời khai của đối tượng điều tra để ghi tháng, năm sinh. Trên thực tế, việc
thu thập chính xác thông tin về tháng, năm sinh theo dương lịch của nhiều người không dễ dàng.
Một số người không nhớ, hoặc chỉ nhớ theo âm lịch (tuổi mụ). Có thể giải quyết khó khăn này theo
hướng sau đây:
 Trường hợp chỉ nhớ năm sinh âm lịch như: Nhâm Thìn, Quý Sửu thì điều tra viên phải sử
dụng bảng chuyển đổi năm âm lịch và năm dương lịch in trong phiếu phỏng vấn hộ để
chuyển từ năm âm lịch sang năm dương lịch rồi mới ghi vào phiếu phỏng vấn.
 Trường hợp ĐTĐT chỉ nhớ được “Chi” như: Tý, Sửu, Dần của năm sinh theo âm lịch,
không nhớ được “Can” như: Giáp, Ất, Bính của năm âm lịch đó thì điều tra viên cần hỏi
thêm tuổi theo âm lịch của người đó và dùng bảng chuyển đổi năm âm lịch và dương lịch để
xác định năm sinh theo dương lịch cho người đó.
 Trường hợp chỉ nhớ tuổi theo âm lịch thì ước tính năm sinh theo dương lịch theo công thức
sau:
Năm điều tra - Số tuổi theo âm lịch +1 = Năm sinh theo dương lịch
Ví dụ: Điều tra vào năm 2007, một người khai là 57 tuổi âm lịch thì năm sinh là 2007 - 57 +
1 = 1941.
 Trường hợp không nhớ năm sinh thì điều tra viên có thể đặt thêm các câu hỏi gợi ý như
[TÊN] bao nhiêu tuổi khi sinh con đầu/út? Hoặc [TÊN] kết hôn khi bao nhiêu tuổi. Điều tra
viên có thể liên hệ năm sinh với các sự kiện lịch sử hoặc những sự kiện nào đó của địa
phương để xác định năm sinh theo dương lịch. Sau khi đã đặt các câu hỏi gợi ý mà vẫn chưa
đình và những chi phí giáo dục trong 12 tháng. Những thông tin này sẽ giúp phân tích mối quan hệ
giữa mức sống với giáo dục, đào tạo và dạy nghề nhằm đề ra những chính sách, kế hoạch phát triển
giáo dục, đào tạo và dạy nghề phù hợp.
Người trả lời
Phải hỏi từng thành viên của hộ gia đình từ độ tuổi nhà trẻ mẫu giáo trở lên. Trẻ em nhỏ hơn
10 tuổi thì bố mẹ sẽ trả lời thay. Đối với các thành viên từ 10 tuổi trở lên thì phải trực tiếp trả lời
các câu hỏi mục này, đặc biệt đối với các câu hỏi liên quan đến chất lượng giáo dục. Điều tra viên
ghi mã tương ứng cho từng người trả lời thông tin của từng thành viên.
Khái niệm/Định nghĩa/Phạm vi
 Hệ thống giáo dục quốc dân gồm:
1

- Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo.
- Giáo dục phổ thông có hai bậc học là bậc tiểu học và bậc trung học; bậc trung học có hai
cấp học là cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông.
- Giáo dục nghề nghiệp có trung học chuyên nghiệp và dạy nghề
- Giáo dục đại học đào tạo hai trình độ là trình độ cao đẳng và trình độ đại học; giáo dục sau
đại học đào tạo hai trình độ là trình độ thạc sỹ và trình độ tiến sỹ.
Phương thức giáo dục gồm giáo dục chính quy và giáo dục không chính quy
 Những người được tính là đi học phải đảm bảo một trong các yêu cầu sau:
- Tất cả những người tham gia các hệ/cấp/bậc học của hệ thống giáo dục quốc dân tại các
trường/ cơ sở/ trung tâm bao gồm của nhà nước, tập thể, tư nhân trong nước hoặc của các tổ chức
quốc tế theo phương thức giáo dục chính qui của nhà nước được tính là đi học.
- Tất cả những người tham gia chương trình giáo dục để lấy văn bằng của hệ thống giáo dục
quốc dân như học bổ túc văn hoá, tại chức, chuyên tu, cử tuyển, văn bằng hai cũng được tính là đi
học
- Trường hợp ngoại lệ được tính vào đi học là: học chuyên khoa, bác sỹ nội trú, dự bị đại
học, học chính trị, học ở trường tôn giáo vẫn được tính là đi học.
Như vậy, những người tham gia các khoá học không theo chương trình giáo dục, đào tạo và
dạy nghề của Nhà nước và không được cấp bằng, chứng chỉ như học ôn thi đại học, học cắt may,

theo hai loại giáo dục-đào tạo và dạy nghề. Nếu người này đạt được nhiều bằng cấp thì ghi loại
bằng cấp cao nhất về giáo dục vào cột “GIÁO DỤC PHỔ THÔNG VÀ ĐẠI HỌC TRỞ LÊN” và
bằng cấp cao nhất về dạy nghề vào cột “GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP”. Chẳng hạn người trả lời có
bằng tốt nghiệp THPT và bằng công nhân kỹ thuật, thì cột ghi mã 3 vào cột “GIÁO DỤC PHỔ
THÔNG VÀ ĐẠI HỌC TRỞ LÊN” và mã 4 vào cột “GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP”.
Điều tra viên cần chú ý chỉ ghi các loại bằng cấp theo các mã từ 0 đến 11 đã quy định trong
phiếu hỏi. Với các loại bằng cấp về tôn giáo và chính trị thì ghi mã 11.
Cột “GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP” chỉ bao gồm các mã từ 4 đến 6 và như vậy thì cột
“GIÁO DỤC PHỔ THÔNG VÀ ĐẠI HỌC TRỞ LÊN” sẽ là các mã còn lại. Những người học nghề
dưới 1 năm tại các trung tâm dạy nghề, lớp dạy nghề độc lập hoặc các cơ sở sản xuất kinh doanh và
được cấp chứng chỉ thì ghi mã 4 “dạy nghề ngắn hạn”. Những người học nghề từ 1 đến 3 năm trong
các trường dạy nghề, trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học và được cấp bằng thì ghi
mã 5 “dạy nghề dài hạn”.
Câu 4: ĐTV xác định tổng số năm đi học của từng thành viên (không kể số năm đi nhà trẻ hoặc
mẫu giáo)
Câu 5: Ghi mã 1 nếu hiện nay người này đang đi học, ghi mã 2 nếu nghỉ hè (đi học theo khái niệm
trên) và chuyển sang hỏi câu 8. Nếu hiện nay không đi học ghi mã 3.
Câu 6: Ghi mã 1 nếu trong 12 tháng qua người này có đi học (đi học theo khái niệm trên) và
chuyển sang câu 8, ghi mã 2 nếu không đi học.
Câu 7: Hỏi các thành viên trong hộ lý do không đi học trong 12 tháng qua và điền mã tương ứng và
chuyển sang hỏi thành viên tiếp theo.
Câu 8: Điều tra viên chỉ ghi các hệ/cấp/bậc học của người này theo đúng nội dung phù hợp nhất
trong các mã từ 0 đến 10 như trong phiếu hỏi. Riêng mã 11 để ghi các khoá học khác (vẫn thuộc
khái niệm đi học ở trên) như học sơ cấp/trung cấp/ cao cấp chính trị, các trường tôn giáo, các trường
Dự bị đại học Dân tộc, chuyên khoa cấp I/cấp 2, bác sỹ nội trú Nếu một người tham gia nhiều hơn
1 khoá học thì hỏi và ghi khoá học người đó cho là khoá học chính.
Câu 9: Điều tra viên hỏi hộ về khoảng cách từ nhà đến trường mà tên đang học hiện tại. Khoảng
cách ở đây được tính bằng km.
Câu 10: ĐTV hỏi xem các thành viên đang đi học của hộ theo hình thức nội trú, bán trú hay đi về
hàng ngày và ghi mã tương ứng. Đối với học sinh cấp 3 vùng dân tộc thiểu số thường học ở Trường 21
MỤC 3. Y TẾ VÀ CHĂM SÓC SỨC KHOẺ
Mục đích
Thu thập thông tin về tình hình ốm/bệnh/chấn thương, sử dụng thẻ bảo hiểm y tế, sử dụng
các loại cơ sở dịch vụ y tế, các khoản chi phí liên quan đến những lần khám bệnh, chữa bệnh và chi
phí cho việc chăm sóc sức khoẻ, mức độ hài lòng của hộ gia đình với các dịch vụ khám chữa bệnh
mà thành viên của hộ nhận được.

Người trả lời
Điều tra viên phải hỏi từng người có sử dụng dịch vụ y tế trong 12 tháng qua. Đối với trẻ em
dưới 10 tuổi thì chủ hộ hoặc người khác trong hộ biết thông tin có thể trả lời thay. Nếu có thành
viên từ 10 tuổi trở lên vắng mặt thì hỏi tất cả những người có mặt, sau đó hẹn và quay lại hộ để hỏi
những người vắng mặt đó. Lưu ý, ĐTV ghi mã người trả lời thông tin mục này cho từng thành viên
của hộ nhằm xác định được những thành viên nào có mặt ở nhà và những thành viên nào được
người khác trả lời thay

Khái niệm/ Định nghĩa/ Phạm vi
- Ốm/bệnh/chấn thương bao gồm các loại bệnh đã được cơ sở y tế chẩn đoán và kể cả chưa
được chẩn đoán nhưng có các biểu hiện ho, sốt, tiêu chảy, đau nhức, viêm, nôn mửa, cảm
lạnh hoặc tai biến chửa đẻ, ngộ độc, bỏng gây tổn thương rộng; tai nạn trong giao thông, tai
nạn lao động, đánh nhau, ngã, động vật cắn/húc/đá.
Lưu ý một số trường hợp như đau/mọc răng nhẹ, đứt tay/chân, trứng cá, mụn nhỏ,
nhưng không ảnh hưởng đến sức khoẻ thì không tính là ốm trong phiếu phỏng vấn
này.
- Khoảng thời gian 4 tuần qua là 4 tuần ngay trước ngày phỏng vấn, không phải 4 tuần trước
tuần có ngày phỏng vấn. Ví dụ: ngày phỏng vấn là Thứ hai, 10/4/2012 thì điều tra viên phải

Điều tra viên phải hỏi tất cả các thành viên của hộ từ câu 1 đến câu 2 trước khi chuyển đến
các câu tiếp theo. Hỏi tất cả các thành viên có sử dụng dịch vụ y tế trong 12 tháng qua. Đối với trẻ
em dưới 10 tuổi thì người lớn có thể trả lời thay.

Câu 1: Nếu người này có ốm/bệnh/chấn thương trong 4 tuần qua (theo khái niệm ốm/bệnh/chấn
thương ở trên) thì ghi mã 1 và chuyển sang hỏi câu 3. Nếu người này không ốm/bệnh/chấn thương
trong 4 tuần qua thì ghi mã 2 và hỏi câu tiếp theo.
Câu 2: Nếu người này có ốm/bệnh/chấn thương trong 12 tháng qua (theo khái niệm ốm/bệnh/chấn
thương ở trên) thì ghi mã 1 và hỏi câu tiếp theo. Nếu người này không ốm/bệnh/chấn thương trong
12 tháng qua thì ghi mã 2 và chuyển sang hỏi câu 4.
Câu 3: Điều tra viên ghi tổng số ngày ốm/bệnh/chấn thương cộng dồn trong 12 tháng qua như sau:
- Tổng số ngày ốm nặng vào cột a: Đó là tổng số ngày mà người này phải nằm một chỗ và
phải có người chăm sóc tại giường.
- Tổng số ngày ốm vừa vào cột b: Đó là tổng số ngày người đó phải nghỉ việc/học/hoặc
không tham gia được các hoạt động bình thường nhưng không phải nằm 1 chỗ và không
cần người chăm sóc tại giường.
Câu 4: Điều tra viên hỏi và ghi mã tương ứng với câu trả lời của người được hỏi. Nếu người đó trả
lời là có thì tốt nhất điều tra viên yêu cầu được xem thẻ bảo hiểm y tế/giấy khám chữa bệnh miễn
phí đó. Điều tra viên chú ý nếu ghi mã 2 hoặc 3 thì chuyển sang hỏi thành viên tiếp theo.
Câu 5: Điều tra viên hỏi và ghi mã tương ứng với câu trả lời của người được hỏi. Riêng mã 7 là để
ghi cho các trường hợp các tổ chức/người khác cho một phần và một phần do người được hưởng
bảo hiểm y tế đóng góp.
Câu 6: Đây là câu hỏi nhằm thu thập các thông tin về các vấn đề liên quan đến thẻ báo hiểm y tế,
đặc biệt là đối với thẻ bảo hiểm y tế của người nghèo.
Câu 7: Đây là câu hỏi tổng quát để xác định trong hộ có thành viên nào sử dụng dịch vụ y tế trong
12 tháng qua. Lý do sử dụng dịch vụ y tế có thể là vì ốm đau, bệnh tật, chấn thương, hoặc không bị
ốm đau bệnh tật gì nhưng vẫn sử dụng dịch vụ y tế như khám thai, đẻ, kiểm tra sức khoẻ, v.v
Nếu trả lời có ghi mã 1 và tiếp tục phỏng vấn các câu tiếp theo, ưu tiên phỏng vấn trước
những trường hợp ốm/bệnh/chấn thương ở câu 3 sau đó phỏng vấn tiếp các trường hợp sử dụng dịch
vụ y tế khác; nếu trả lời không ghi mã 2 thì chuyển sang cau 20.

vắng nhà thì cố gắng hỏi câu hỏi này đối với người mà đi chăm sóc thành viên đó về mức độ hài
lòng của họ đối với chất lượng và dịch vụ y tế mà họ nhận được trong lần khám chữa bệnh. Nếu câu
trả lời có mã từ 3 đến 5 thì chuyển sang hỏi câu 16.
Câu 15: Mục đích nhằm tìm hiểu nguyên nhân tại sao thành viên của hộ không hài lòng với chất
lượng và dịch vụ mà họ nhận được cho từng lần khám, chữa bệnh. Giốngnhư câu hỏi 14, ĐTV cố
gắng hỏi người trực tiếp khám, chữa bệnh.
Câu 16: ĐTV hỏi tổng số tiền mà thành viên của hộ chi cho từng lần khám,chữa bệnh. ĐTV cố
gắng khai thác từng chi tiết như chi phí khám, chi mua thuốc, chi bồi dưỡng bác sĩ, chi cho ăn ở nội
trú, chi phí cho đi lại v.v
Câu 17: Nhằm xác định khoảng cách từ nơi ở của hộ đến cơ sở khám chữa bệnh của từng lần khám
chữa bệnh của các thành viên hộ gia đình. Nếu khoảng cách là số lẻ thì Điều tra viên ghi 1 con số
sau dấu phẩy ví dụ: 1,7 km hoặc 0,3 km.
Câu 18: Hỏi về phương tiện giao thông mà thành viên hộ gia đình sử dụng để đi đến cơ sở khám
chữa bệnh cho lần khám chữa bệnh đó.
Câu 19: Hỏi về thời gian trung bình để đi từ hộ gia đình đến cơ sở khám, chữa bệnh đó nếu sử dụng
phương tiện giao thông mà thành viên hộ gia đình sử dụng để đi đến cơ sở khám chữa bệnh đó.
24
MỤC 4. THU NHẬP

Mục đích
Thu thập tất cả các thông tin có liên quan đến việc tính thu nhập của tất cả các thành viên từ
6 tuổi trở lên từ việc làm công làm thuê, từ hoạt động sản xuất nông lâm thuỷ sản và sản xuất kinh
doanh ngành nghề và dịch vụ, chế biến của hộ.

Người trả lời
Điều tra viên phải hỏi từng thành viên từ 6 tuổi trở lên là thành viên trong hộ. Nếu trẻ em đi
vắng hoặc không tự trả lời được thì người khác trong hộ biết thông tin có thể trả lời thay. Nếu có

Công việc tự làm của thành viên hộ gia đình được định nghĩa là một trong 2 dạng sau:
a) Làm các công việc để thu lợi nhuận cho bản thân, bao gồm sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp,
thủy sản trên đất do chính thành viên đó sở hữu, quản lý hay có quyền sử dụng; hoặc hoạt động
kinh tế ngoài nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản do chính thành viên đó làm chủ hay quản lý
toàn bộ một phần; thành viên đó chi toàn bộ chi phí và thu toàn bộ lợi nhuận trong loại công
việc này. 25
b) Làm các công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền
công, tiền lương hay lợi nhuận cho công việc đó, gồm sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy
sản trên đất do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ sở hữu, quản lý hay có quyền sử dụng;
hoặc hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản do chủ hộ hoặc một thành viên
trong hộ làm chủ hoặc quản lý.
Công việc tự làm của hộ gia đình được định nghĩa là các hoạt động kinh tế nông nghiệp, lâm
nghiệp, thủy sản và ngoài nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản do chủ hộ hay một thành viên trong hộ
làm chủ và quản lý toàn bộ hay một phần. Các hoạt động (nghề) này có thể do các thành viên trong
hộ tiến hành hoặc có kết hợp thuê nhân công, hoặc chủ hộ chỉ quản lý và thuê toàn bộ nhân công.
Việc tự làm rất đa dạng và có thể dễ lẫn với việc đi làm nhận tiền lương, tiền công. Một bác
sỹ ban ngày làm cho bệnh viện và nhận lương thì đó là việc làm nhận tiền lương, tiền công. Cũng
người này buổi tối có phòng khám tư và tự hành nghề y thì việc này là việc tự làm. Một thợ nề
trong 12 tháng qua có 4 tháng đi làm cho một chủ thầu xây dựng và nhận lương tháng thì việc này
là việc làm nhận tiền lương, tiền công. Cũng người này trong 8 tháng còn lại trong 12 tháng qua
nhận xây một nhà ở, tuyển thêm thợ và tổ chức, điều hành việc xây dựng ngôi nhà đó và nhận tiền
của chủ nhà cho việc xây ngôi nhà đó. Trường hợp này việc xây ngôi nhà là việc tự làm và là việc
chiếm nhiều thời gian nhất trong 12 tháng qua, Việc đi làm cho chủ thầu trong 4 tháng nêu trên là
việc thứ hai trong 12 tháng qua và là việc làm nhận tiền lương, tiền công. Một thợ nề khác chỉ có
cái bay, thước, bàn xoa và đi xây hoặc sửa nhà cho bất kỳ ai cần và nhận tiền công từ chủ nhà thì đó
là vẫn là làm công, làm thuê.
Khi xác định là việc làm nhận tiền lương, tiền công thì ghi mã 1 vào Mục 4A câu 1a; nếu là


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status