Phân tích & đánh giá hoạt động tín dụng nông nghiệp tại ngân hàng TMCP nông thôn Mỹ Xuyên-Tỉnh An Giang - Pdf 11

Chương 1: Mở đầu
CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
  
1. 1 Lý do chọn đề tài
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và kinh tế khu vực đang là xu thế của thời đại và trở
thành cơ hội để các ngành nghề thuộc các lĩnh vực khác nhau cùng mở rộng, phát triển.
Với chủ trương hội nhập trong phát triển kinh tế sẽ tạo điều kiện cho An Giang có thể đi
trước trong phát triển kinh tế đối ngoại và có sản phẩm đủ sức cạnh tranh, đó là sản phẩm
về lương thực, thuỷ sản, du lịch,…
Năm 2007, kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục có những chuyển biến tích cực. Với tốc độ
tăng trưởng kinh tế đạt 13,63% (cao nhất trong 15 năm qua), một trong những thuận lợi
đem lại hiệu quả cao đó là do An Giang có tài nguyên đất, nước, phong phú và đa dạng.
Ngoài ra, An Giang có ưu thế lớn trong toàn vùng ĐBSCL và cả nước để phát triển ngành
nông nghiệp với thế mạnh là cây lúa, ngành thuỷ sản, nhất là nuôi cá và kéo theo các ngành
nghề khác có điều kiện phát triển.
Tuy nhiên, những năm gần đây vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn An Giang
gặp khó khăn như: sản phẩm nông nghiệp còn phụ thuộc vào cung cầu thị trường, chưa
phát triển được nền chăn nuôi công nghiệp, dễ bị ảnh hưởng thiên tai, dịch bệnh, … Trong
đó có việc thiếu vốn sản xuất đã gây ảnh hưởng đến đầu tư chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp và nông thôn.
Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, vốn là yếu tố quan trọng hàng đầu để phát triển
kinh tế nói chung và phát triển lĩnh vực nông nghiệp nói riêng. Cùng với hệ thống các
NHTM trên địa bàn, ngân hàng TMCP nông thôn Mỹ Xuyên phấn đấu vươn lên với những
nghiệp vụ không ngừng được cải thiện và mở rộng cho phù hợp, đáp ứng nhu cầu vốn và
cung cấp dịch vụ ngân hàng cho dân cư. Thông qua các hoạt động đó ngân hàng sẽ gián
tiếp kích thích tiết kiệm, đẩy mạnh đầu tư, mở rộng qui mô sản xuất, góp phần thực hiện
vào chương trình khuyến nông của tỉnh, đó là triển khai chương trình cơ giới hoá trước và
sau thu hoạch với việc cung cấp tín dụng phần nào cho nông dân đầu tư máy gặt, máy sấy,
máy cấy,… giảm bớt thất thoát, nâng cao hiệu quả sản xuất.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, em quyết định nghiên cứu đề tài:

Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng
sử dụng một khoản tiền vay để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận
với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Theo Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với
khách hàng (Ban hành theo Quyết định số 1627/ 2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của
Thống đốc Ngân hàng Nhà Nước).
2.2 Đặc điểm tín dụng
Tín dụng ngân hàng chứa đựng ba nội dung:
- Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho người sử dụng.
- Sự chuyển nhượng này có thời hạn.
- Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí.
2.3 Chức năng và vai trò tín dụng
2.3.1 Chức năng tín dụng
- Tập trung phân phối vốn tiền tệ.
- Tiết kiệm lượng tiền mặt và chi phí lưu thông cho xã hội.
- Giám đốc bằng tiền đối với hoạt động kinh tế, xã hội.
2.3.2 Vai trò tín dụng
- Đáp ứng nhu cầu vốn để duy trì quá trình sản xuất liên tục đồng thời góp phần đầu tư
phát triển kinh tế.
- Thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
- Tín dụng là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển và ngành mũi nhọn.
- Góp phần tác động đến việc tăng cường chế độ hạch toán kinh tế của các doanh nghiệp.
- Tạo điều kiện phát triển các quan hệ kinh tế với các doanh nghiệp nước ngoài.
2.4 Các hình thức tín dụng
Tín dụng ngân hàng có thể phân chia thành nhiều loại khác nhau tuỳ theo những tiêu
thức phân loại khác nhau:
- Căn cứ theo mục đích tín dụng - tín dụng ngân hàng có thể phân chia thành các loại cho
vay sau:
+ Phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp.
Chương 2: Cơ sở lý luận
+ Tiêu dùng cá nhân.

Điều kiện vay vốn:
Ngân hàng xem xét và quyết định cho vay khi khách hàng có đủ các điều kiện sau:
Chương 2: Cơ sở lý luận
- Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo
quy định của pháp luật.
- Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ vay trong thời hạn cam kết. Có tay nghề kinh
nghiệm thực hiện phương án.
- Có hộ khẩu thường trú , có chứng minh nhân dân.
- Có Giấy chứng nhận QSDĐNN, thổ cư, có vốn tự có tham gia 30%.
- Khách hàng vay vốn phải có tài sản đảm bảo tiền vay theo qui định sủa Chính phủ,
hướng dẫn của Thống đốc NHNN và của Tổng giám đốc ngân hàng Mỹ Xuyên. Những
trường hợp khác do Tổng Giám đốc qui định.
Lãi suất cho vay:
Theo từng thời điểm ngân hàng quy định.
- Lãi suất cho vay do ngân hàng Mỹ Xuyên và khách hàng thỏa thuận phù hợp với quy
định của NHNN Việt Nam và ghi rõ trong HĐTD.
- Lãi suất nợ quá hạn do ngân hàng Mỹ Xuyên ấn định và thỏa thuận với khách hàng
trong HĐTD tại thời điểm ký nhưng không quá 150% lãi suất cho vay áp dụng trong thời hạn
vay đã ký kết.
Phương thức vay: trả phân kỳ hoặc cuối kỳ đối với khách hàng có thu nhập theo mùa vụ
hoặc cuối kỳ thu hoạch.
Thời hạn vay: ngắn hạn 12 tháng và trung hạn 36 tháng.
Mức cho vay: Tối đa 70% giá trị tài sản thế chấp (giá thị trường) và chiếm 85% giá trị
phương án kinh doanh - sản xuất.
2.6 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tín dụng
2.6.1 Dư nợ / tổng nguồn vốn
Dư nợ trên nguồn vốn dùng để đánh giá mức độ tập trung vốn tín dụng của ngân hàng.
Chỉ tiêu này càng cao thì khả năng thu được lợi nhuận càng cao, đồng thời cũng tiềm ẩn rủi
ro.
2.6.2 Dư nợ / vốn huy động

(%) =
doanh số thu nợ x 100
dư nợ bình quân
Vòng quay vốn tín dụng (vòng)
=
Dư nợ đầu kỳ + dư nợ cuối kỳ
2
Chương 3: Tình hình kinh tế - xã hội AG và tổng quan về NHTMCP nông thôn Mỹ Xuyên
CHƯƠNG 3
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI AN GIANG VÀ
TỔNG QUAN VỀ NHTMCP NÔNG THÔN
MỸ XUYÊN
  
3.1 Tình hình kinh tế - xã hội An Giang
3.1.1 Sơ lược tình hình phát triển kinh tế
Năm 2007, tuy có nhiều khó khăn thách thức từ hạn hán, dịch bệnh trên lúa, gia súc, gia
cầm, thiếu điện thường xuyên, vật giá tăng cao… ảnh hưởng đến các hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp và đời sống của người dân, nhưng với những nổ lực chung của cả hệ
thống chính trị, của doanh nghiệp và nhân dân, kinh tế - xã hội của tỉnh vẫn tiếp tục phát triển
và đạt mức tăng trưởng cao, các chỉ tiêu kế hoạch đặt ra hầu hết đều được thực hiện đạt và
vượt so với kế hoạch, các lĩnh vực văn hoá xã hội và cải cách hành chính tiếp tục chuyển biến
tích cực, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng lên, quan hệ hợp tác phát
triển với các tỉnh, thành trong và ngoài nước đạt hiệu quả cao, quốc phòng – an ninh, trật tự an
toàn xã hội tiếp tục được đảm bảo.
3.1.2 Các chỉ tiêu kinh tế
Bảng 1: Các chỉ tiêu kinh tế đạt được qua 3 năm: 2005, 2006 và 2007.
Chỉ tiêu ĐVT 2005 2006 2007
1. Tốc độ tăng trưởng GDP % 9,96 9,05 13,63
2. GDP b/q đầu người/năm Triệu đồng 8.660 9.653 11.357
3. Thu ngân sách Tỷ đồng 1.729 1.945 2.156

theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng và giảm giá thành nông sản hàng hóa, tăng sức
cạnh tranh và gia tăng hiệu quả sản xuất.
Do đó kế hoạch trong năm 2008, cần phải đạt các chỉ tiêu sau:
Phải đạt tốc độ tăng GDP ngành nông nghiệp 5%. Tăng giá trị sản xuất trên 1 ha đất sản
xuất nông nghiệp đạt trên 42 triệu đồng/ha; cơ cấu ngành nông nghiệp chiếm 29,34% trong
cơ cấu kinh tế chung. Gia tăng mức đóng góp giá trị GDP ngành thủy sản vào GDP toàn
ngành nông nghiệp đạt trên 18% (tăng trên 2% so với năm 2007). Kim ngạch xuất khẩu thủy
sản đạt trên 380 triệu USD (tăng 25 triệu USD so với năm 2007).
Bảng 2: Một số chỉ tiêu cơ bản
Chỉ tiêu Đvt
Kế hoạch 2008
Mức thực hiện Mức phấn đấu
1. Tốc độ tăng trưởng GDP % 14 14,5
2. GDP bình quân / người(giá hh) 1.000 đ 13.639 13.647
3. Thu ngân sách trên địa bàn tỷ đồng 2.218 2.218
4. Chi ngân sách địa phương. tỷ đồng 3.081 3.081
5. Tổng vốn đầu tư phát triển của tỉnh tỷ đồng 15.000 16.000
6. Kim ngạch xuất khẩu triệu USD 650 650
/>Chương 3: Tình hình kinh tế - xã hội AG và tổng quan về NHTMCP nông thôn Mỹ Xuyên
3.1.4 Tình hình hoạt động hệ thống tín dụng trên địa bàn tỉnh
- Trong năm, hoạt động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh tiếp tục ổn định và phát
triển, mở rộng phạm vi và địa bàn hoạt động, tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân, các
thành phần kinh tế được tiếp cận, lựa chọn và sử dụng các dịch vụ ngân hàng được nhiều
hơn, hiệu quả hơn, đặc biệt là triển khai dịch vụ trả lương cho cán bộ, công chức qua tài
khoản theo chỉ đạo chung của Chính phủ.
- Ước cả năm 2007, toàn ngành ngân hàng huy động vốn tại chỗ được 6.400 tỷ đồng
(tăng 67% so năm 2006), số dư vốn huy động tại chỗ chiếm 52%/tổng dư nợ (đây là tỷ lệ đạt
cao nhất trong những năm gần đây); tổng doanh số cho vay gần 29 tỷ (tăng 59%); doanh số
thu nợ trên 26 ngàn tỷ (tăng 57%); tổng dư nợ gần 12.400 tỷ (tăng 37%), trong đó nợ ngắn
hạn chiếm 73%, nợ trung, dài hạn chiếm 27%.

Tên viết tắt: NGÂN HÀNG MỸ XUYÊN
Tên tiếng anh: MY XUYEN COMMERCIAL JOINT STOCK BANK
Tên viết tắt: MXBANK
Trụ sở chính:
248 Trần Hưng Đạo, Phường Mỹ Xuyên, Thành phố Long Xuyên, Tỉnh An Giang.
Điện thoại: +84-76-841706; +84-76-843709
Fax: +84-76-841006
Email:
- Tháng 5/ 2007, vốn điều lệ của ngân hàng Mỹ Xuyên là 500 tỷ đồng. Mạng lưới họat
động của ngân hàng phủ kín toàn tỉnh An giang.
- Tính đến ngày 14/3/2008, ngân hàng đã có 2 chi nhánh, 10 phòng giao dịch, 3 tổ tín
dụng và 3 quỹ tiết kiệm.
- Số lượng cán bộ nhân viên: 248 người.
- Cũng trong năm 2007, một dấu mốc quan trọng của MXBank là đã đề nghị Ngân hàng
nhà nước về nguyên tắc chuyển đổi mô hình hoạt động thành Ngân hàng TMCP đô thị. Đây
chính là tiền đề quan trọng để ngân hàng Mỹ Xuyên chuyển mình trong giai đoạn mới.
Chương 3: Tình hình kinh tế - xã hội AG và tổng quan về NHTMCP nông thôn Mỹ Xuyên
3.2.2 Bộ máy quản lý của ngân hàng Mỹ Xuyên
Nguồn: www.myxuyenbank.com.vn
3.2.3 Những thuận lợi và khó khăn của ngân hàng trong giai đoạn 2005 - 2007
 Thuận lợi
- Thành tựu lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn về sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát
triển với diện tích gieo trồng cả năm 2007 đạt 569.900 ha (tăng hơn16.000 ha so
cùng kỳ), diện tích nuôi trồng thuỷ sản hơn 2.500 ha (tăng 600 ha so cùng kỳ), chăn
nuôi phát triển đa dạng, sản lượng thịt cả năm đạt 31.000 tấn (tăng 8% so cùng kỳ).
- Sản xuất nông nghiệp tại tỉnh An Giang trong những năm vừa qua: trúng mùa, được
giá, các mặt hàng nông sản ở mức cao nên khá thuận lợi cho nông dân, tạo động lực
cho hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng trên địa bàn tỉnh.
Chương 3: Tình hình kinh tế - xã hội AG và tổng quan về NHTMCP nông thôn Mỹ Xuyên
- Ngân hàng có hơn 15 năm thành lập, đội ngũ cán bộ công nhân có thâm niên, kinh

12 18.873 63,3
100.02
5 205,4
Tổng chi phí
21.
935
34.
412
78.6
33 12.477 56,9
44.22
1 128,5
Thu nhập thuần
7.
879
14.
275
70.0
79 6.396 81,2 55.804 390,9
Thu nhập ròng
5.
673
10.
278
50.6
55 4.605 81,2
40.37
7 392,9
Nguồn: báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh các năm 2005, 2006 và 2007.
Nhìn chung, kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng rất khả quan, thu nhập của

hàng Mỹ Xuyên nói riêng. Qua bảng phân tích trên ta thấy rằng hoạt động kinh doanh của
ngân hàng ngày càng mang về nhiều lợi nhuận. Năm 2006 tăng 6.396 triệu đồng tương ứng
81,2% so với năm 2005 và năm 2007 tăng rất cao 55.804 triệu đồng tương ứng 390,9% so
với năm 2006. Lợi nhuận ngày càng tăng cao là do tốc độ tăng thu nhập luôn cao hơn nhiều
so với tốc độ tăng của chi phí. Đồng thời, còn có sự nổ lực phấn đấu của tập thể cán bộ nhân
viên của ngân hàng trong hoạt động kinh doanh, mở rộng đầu tư nhằm tối đa hóa lợi nhuận
của ngân hàng.
Như vậy, kết quả hoạt động của ngân hàng trong thời gian qua đều mang lại lợi nhuận
cao. Thành tựu đó cho thấy trong thời gian qua hoạt động tín dụng của ngân hàng không
những đã góp phần vào sự phát triển kinh tế thông qua việc cung ứng vốn đúng đối tượng mà
còn tạo ra được lợi nhuận cho ngân hàng. Tuy nhiên, trong thời gian tới ngân hàng cần nổ lực
hơn nữa trong các hoạt động đặc biệt là hoạt động cấp tín dụng để lợi nhuận đạt được luôn
có sự tăng trưởng cao.
3.2.5 Kế hoạch kinh doanh năm 2008 của ngân hàng
- Với chiến lược và định hướng phân khúc thị trường phù hợp, ưu tiên cho mục tiêu tăng
trưởng cao và bền vững; kiểm soát rủi ro hiệu quả; kết thúc năm tài chính ngân hàng Mỹ
Xuyên đã đạt được những kết quả nổi bật. Những kết quả đạt được trong năm 2007, ngân
Chương 3: Tình hình kinh tế - xã hội AG và tổng quan về NHTMCP nông thôn Mỹ Xuyên
hàng Mỹ Xuyên đã xây dựng kế hoạch kinh doanh năm 2008 với tốc độ tăng trưởng rất cao -
tổng tài sản tăng trên 200%, khởi đầu cho một giai đoạn mới và thực hiện kế hoạch phát triển
3 năm 2008-2010.
Mục tiêu
- Xây dựng và phát triển ngân hàng Mỹ Xuyên trở thành ngân hàng TMCP đô thị, từng
bước hội nhập và thực hiện theo thông lệ quốc tế, đủ sức cạnh tranh với các ngân hàng trong
khu vực.
- Phấn đấu đạt mức tăng trưởng cao về khả năng huy động vốn, đầu tư tín dụng và tối
thiểu hóa rủi ro nhằm đạt hiệu quả ngày càng cao trong hoạt động tín dụng.
- Ngân hàng sẽ tăng vốn điều lệ lên ít nhất là 1.000 tỷ đồng (cuối tháng 5 / 2008); sau khi
chuyển từ ngân hàng nông thôn lên ngân hàng đô thị ngân hàng sẽ mở rộng mạng lưới họat
động trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (mở thêm chi nhánh Cần Thơ, Sa Đéc, Hậu

193.18
0
365.27
9
1.020.99
0
172.0
99
89,0
9 655.711
179,5
1
Vốn và các
quỹ
34.19
4
82.27
0
554.16
5
48.0
76
140,6
0 471.895
573,5
9
Tổng nguồn
vốn
227.37
4

Hiện nay, nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế xã hội là rất lớn và ngân hàng là TCTD hoạt
động chủ yếu là đi vay và cho vay để cung cấp vốn cho xã hội. Muốn đáp ứng nhu cầu cho đi
vay của ngân hàng vay đòi hỏi ngân hàng phải có nguồn vốn tương xứng. Qua các năm số dư
huy động và đi vay của ngân hàng đều tăng lên, nhất là năm 2007 tổng số dư huy động và đi
vay tại ngân hàng tăng lên đáng kể. Trong nguồn vốn của ngân hàng thì vốn huy động đóng
vai trò quan trọng nhất. Chính vì thế, ngân hàng luôn quan tâm đến khả năng huy động và
tình hình cạnh tranh tại địa bàn, đã đề ra nhiều giải pháp huy động có hiệu quả. Vốn huy
động của ngân hàng tăng qua các năm, cụ thể như sau:
Vốn huy động tăng cả về số tuyệt đối lẫn tương đối qua các năm chẳng hạn như: năm
2006 tăng 172.099 triệu đồng so với năm 2005, tốc độ tăng khá cao 89,09 %, năm 2007 tăng
655.711 triệu đồng so với năm 2006, tốc độ tăng cao hơn trước 179,51%.
Sự tăng lên này chứng tỏ khả năng huy động vốn từ các tầng lớp dân cư ngày một tăng.
Thể hiện uy tín và vị thế của ngân hàng càng lớn. Bên cạnh đó còn có sự thuận lợi về vị trí,
có đội ngũ nhân viên trẻ, cởi mở trong giao dịch. Nhờ vậy mà khách hàng đến giao dịch và
gởi tiền vào ngân hàng ngày càng nhiều.
4.2 Tình hình tín dụng nông nghiệp
4.2.1 Phân tích doanh số cho vay nông nghiệp
An Giang là một tỉnh có thế mạnh về sản xuất nông nghiệp, mỗi vụ sản xuất thì chục
ngàn hộ có nhu cầu về vốn. Tại ngân hàng Mỹ Xuyên với phương thức cho vay đơn giản và
hiện đại hóa công nghệ đạt hiệu quả cao giúp người dân đến giao dịch thuận lợi, giảm phiền
hà, đáp ứng yều cầu phát triển kinh tế của tỉnh nhà.
Hiện nay nguồn cung cấp tín dụng ngày càng tăng trên địa bàn của tỉnh vì thế các TCTD
ngày càng chạy đua nhau, trong đó có điều kiện cho vay là mối quan tâm của khách hàng, so
sánh các điều kiện cung tín dụng. Do đó ngân hàng rất quan tâm đến doanh số cho vay khi
xét đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng.
Bảng 5: Doanh số cho vay của ngân hàng giai đoạn 2005 - 2007
Đvt: triệu đồng
Chỉ tiêu 2005 2006 2007
Chênh lệch
2006/2005

.044
1.855.9
43
324.1
08 109,52
1.235.8
99
199,3
2
Chương 4: Phân tích tình hình hoạt động tín dụng nông nghiệp tại NHTMCP nông thôn
Mỹ Xuyên
Nguồn: bảng cân đối tài khoản chi tiết 2005, 2006 và 2007
Nhìn chung doanh số cho vay của ngân hàng đều tăng qua các năm, đặc biệt tăng mạnh

nhất vào năm 2007. Trong đó, doanh số cho vay ở lĩnh vực nông nghiệp luôn chiếm tỉ trọng
hơn 55%. Vì thế tín dụng nông nghiệp thể hiện vị trí khá quan trọng trong hoạt động tín dụng
của ngân hàng. Cụ thể như sau: Doanh số cho vay nông nghiệp năm 2005 là 165.326 triệu
đồng, chiếm 55,9% tổng doanh số cho vay của ngân hàng.
- Sang năm 2006 là 342.370 triệu đồng tăng 177.044 triệu đồng tức tăng 107,09% so với
năm 2005.
- Đến năm 2007 doanh số cho vay ở mức cao 1.046.344 triệu đồng tăng 703.974 triệu
đồng tức tăng 205,62% so với năm 2005, và chiếm 56,38% trong tổng doanh số cho
vay của ngân hàng.
Nguyên nhân làm tăng doanh số cho vay là do các hộ vay vốn muốn mở rộng quy mô sản
xuất. Ngân hàng luôn đa dạng hóa các phương thức cho vay nhằm cung cấp tín dụng phù hợp
với từng đối tượng người dân, như loại hình tín dụng góp nông thôn mùa vụ, các đầu tư của
nông dân vào trồng lúa, hoa màu, mua sắm nông cụ dụng cụ hay là chăn nuôi … nhằm đáp
ứng nhu cầu đa dạng của thị trường. Bên cạnh đó, cùng với sự giúp đỡ nhiệt tình của cán bộ
tín dụng đã làm cho người đi vay cảm thấy như mình và ngân hàng có mối quan hệ gần gũi
và thân thiết. Vì thế ngân hàng đã tạo được lòng tin và uy tín đối với khách hàng cho nên

33.0
62
17.5
27
143,8
3
3.
349 11,27
Ngắn hạn
148.
975
274
.524
822.0
36
125.5
49
84,2
8
547.
512 199,44
Nông nghiệp
trung hạn
12.
251
55
.064
207.3
29
42.8

16.
435 199,53
Trung hạn
16.
351
67
.846
238.7
11
51.4
95
314,9
3
170.
865 251,84
Tổng cho vay
nông nghiệp
165.
326
342
.370
1.060.7
47
177.0
44
107,0
9
718.
377 209,82
Nguồn: bảng cân đối tài khoản chi tiết 2005, 2006 và 2007.

20
77
23
-
20
40
60
80
100
%
2005 2006 2007
Năm
DSCV nông nghiệp ngắn hạn DSCV nông nghiệp trung hạn
Trong cơ cấu cho vay nông nghiệp ở giai đoạn 2005 – 2007 thì doanh số cho vay ngắn
hạn đều chiếm phần lớn nhưng tỉ trọng này có xu hướng giảm. Chẳng hạn như năm 2005,
doanh số cho vay ngắn hạn chiếm 90% chỉ còn lại 10% là của trung hạn. Đến năm 2006 cho
vay ngắn hạn giảm còn 80% và tiếp tục giảm còn 77% vào năm 2007.
Tuy nhiên, tỉ trọng doanh số cho vay nông nghiệp trung hạn vẫn còn thấp hơn nhiều so
với tỉ trọng doanh số cho vay nông nghiệp ngắn hạn. Vì cho vay trung hạn thì thời gian thu
hồi vốn lâu, tốc độ luân chuyển vốn chậm dẫn đến rủi ro tín dụng cao hơn. Đồng thời đây là
khoản cho vay về lĩnh vực nông nghiệp nên ngoài việc phụ thuộc vào biến đổi thị trường giá
cả còn phụ thuộc nhiều vào thời tiết, mùa vụ … ảnh hưởng đến sản xuất và thu nhập của
người dân làm tác động đến công tác thu nợ của ngân hàng. Ngoài ra khi cho vay ngắn hạn
thì thủ tục vay và trả vốn ít phải lập nhiều hồ sơ, lãi suất cho vay ngắn hạn thấp hơn so với
lãi suất cho vay trung hạn,…vì thế ngân hàng chủ yếu là cho vay ngắn hạn đó là điều hoàn
toàn hợp lý. Nhưng những năm gần đây ngân hàng đã quan tâm nhiều hơn đối với cho vay
trung hạn, đó cũng là một trong những nhân tố góp phần thúc đẩy doanh số cho vay của ngân
hàng.
 Đối với cho vay ngắn hạn
Đối tượng vay vốn là các hộ chăn nuôi gia cầm cần hỗ trợ vốn đầu tư về con giống,

địa lý, tự nhiên khá thuận lợi cho người dân trong việc sản xuất nông nghiệp ngày càng mở
rộng qui mô nên nhu cầu về vốn cho nông nghiệp đã tăng lên đáng kể.
 Đối với cho vay trung hạn
Đối tượng cho vay là các hộ nông dân có nhu cầu mở rộng quy mô đất sản xuất, đầu tư
trang thiết bị hiện đại đáp ứng nhu cầu sản xuất, thu hoạch nhanh gọn, đạt hiệu quả, chất
lượng cao.
Xét đến doanh số cho vay trung hạn của nông nghiệp tại ngân hàng thì tăng qua các năm
cả số tuyệt đối lẫn tương đối. Doanh số cho vay năm 2005 là 16.351 triệu đồng thì sang năm
2006 lên mức 67.846 triệu đồng và tốc độ tăng trưởng 314,93%. Đến năm 2007 doanh số
cũng tăng và đạt mức 238.711 triệu đồng nhưng tốc độ tăng trưởng thấp hơn trước, đạt mức
230,61%. Do các khoản cho vay này chủ yếu nhằm mục đích mở rộng quy mô sản xuất đất
nông nghiệp, mua sắm máy móc nông cụ để phục vụ sản xuất.
- Doanh số cho vay nông nghiệp trung hạn cụ thể như sau:
+ Năm 2005 là 12.251 triệu đồng, chiếm tỉ trọng 75% tổng doanh số cho vay nông
nghiệp trung hạn.
+ Năm 2006 tăng 42.813 triệu đồng với tỉ lệ tăng cao 349,47% so với năm 2005, và
chiếm 81% tỉ trọng cho vay nông nghiệp trung hạn.
+ Năm 2007 tăng lên 152.265 triệu đồng so với năm 2006 và tỉ trọng là 92,5% trong cho
vay nông nghiệp trung hạn.
- Doanh số cho vay ở sản phẩm góp nông thôn mùa vụ đều tăng qua các năm nhưng tỉ
trọng có sự thăng trầm. Đây là sản phẩm cho vay mà ngân hàng thu lãi theo từng thời
vụ sản xuất, kinh doanh của các hộ nông dân.
- Cho vay bằng quỹ RDFII cũng tăng qua các năm và tỉ trọng ngày càng tăng dần.
Ngân hàng Mỹ Xuyên vay vốn từ ngân hàng BIDV thông qua dự án tài chính nông
thôn II để cho các hộ nông dân vay lại. Tuy nhiên lãi vay từ BIDV thấp hơn lãi vay từ
nguồn vốn huy động trong dân cư nên ngân hàng đẩy mạnh doanh số cho vay đối với
loại hình cho vay từ nguồn vốn tài trợ này.
Tóm lại: ngân hàng đã cố gắng nổ lực, phấn đấu tăng doanh số cho vay qua các năm, tốc
độ tăng tổng doanh số cho vay của ngân hàng là tốt, với năm 2006 tăng 109,52 % so với năm
2005 và tăng cao ở năm 2007 với 199,32 % so với năm 2006. Trong đó thì doanh số cho vay

Ngân hàng là một tổ chức trung gian đi vay để cho vay, vì vậy việc cho vay như thế nào
để đạt hiệu quả và hạn chế rủi ro thấp nhất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng là yếu
rất quan trọng. Để một ngân hàng hoạt động hiệu quả và bền vững cao ngoài việc đẩy nhanh
doanh số cho vay còn phải chú trọng đến công tác thu hồi nợ. Muốn thu hồi tốt đòi hỏi
CBTD phải có sự nhìn nhận, phân tích, đánh giá và xem xét khả năng trả nợ của khách hàng
từ đó xếp loại khách hàng. Sau đó có kế hoạch giám sát, nhắc nhở kịp thời các khoản nợ của
khách hàng để việc thu hồi nợ được thu đúng và thu đủ như kỳ hạn HĐTD. Bên cạnh đó còn
thể hiện uy tín của khách hàng và việc thu hồi nợ cũng là nhân tố thể hiện khả năng phân
tích, đánh giá kiểm tra khách hàng của ngân hàng là thành công hay không. Vì thế hoạt động
thu nợ được tiến hành thường xuyên, liên tục nhằm duy trì an toàn vốn của ngân hàng.
Bảng 7: Doanh số thu nợ của ngân hàng giai đoạn 2005 - 2007
Đvt: triệu đồng
Chỉ tiêu 2005 2006 2007
2006/2005 2007/2006
Số tiền % Số tiền %
DSTN NN
141.20
4
218.75
9
509.8
82
77.5
55
54,
92
291.1
23
133,
08

Nguồn: bảng cân đối tài khoản chi tiết 2005, 2006 và 2007
Nhìn chung công tác thu hồi nợ của ngân hàng khá tốt, doanh số thu nợ luôn tăng qua
các năm nhưng tốc độ tăng doanh số thu nợ chậm hơn so với tốc độ tăng của doanh số cho
vay. Với năm 2006 doanh số thu nợ tăng 65,89 % so với năm 2005, đến năm 2007 tốc độ
tăng trưởng nhanh hơn năm 2006 đạt 129,12%.
Nếu như thu nợ của ngân hàng gặt hái nhiều thành công thì sự đóng góp của thu nợ ở lĩnh
vực nông nghiệp khá quan trọng. Doanh số thu nợ nông nghiệp đều tăng qua 3 năm nhưng tỉ
trọng lại có sự biến động. Cụ thể như:
- Năm 2005 doanh số thu nợ đạt 141.204 triệu đồng chiếm 55,45% tổng doanh số thu
nợ của ngân hàng thì sang năm 2006 doanh số này tăng thêm 77.555 triệu đồng
nhưng tỉ trọng giảm còn 51,79%. Do tốc độ tăng của doanh số thu nợ nông nghiệp
không cao bằng tốc độ tăng của tổng doanh số thu nợ ngân hàng.
- So với 2006 thì năm 2007 doanh số thu nợ tăng nhanh hơn trước, chênh lệch tăng
thêm 291.123 triệu đồng và tốc độ tăng cao hơn (đạt 52,68%). Do tốc độ tăng trưởng
của doanh số thu nợ cao hơn tốc độ tăng trưởng của tổng doanh số thu nợ ngân hàng.
Khi doanh số cho vay nông nghiệp của ngân hàng được quan tâm nhiều thì công tác thu
nợ ở mảng này cũng được chú trọng không kém. Thu nợ nông nghiệp của ngân hàng giai
đoạn 2005 – 2007 đã gặt hái nhiều thành quả tích cực và được thể hiện rõ nét như sau:
Bảng 8: Doanh số thu nợ nông nghiệp từ năm 2005 - 2007
Đvt: triệu đồng
Chỉ tiêu 2005 2006 2007
Chênh lệch
2006/2005
Chênh lệch
2007/2006
Số tiền % Số tiền %
Nông nghiệp 127736 167.3 367.3 39.62 31,0 199.9 119,4
Ngắn hạn 60 03 4 2 43 7
Quỹ MLF
4.5

7.3
05
21.5
55
101.2
17
14.25
0
195,0
7
79.6
62
369,5
8
Góp N T
mùa vụ
2
12
7
26
7.1
18
51
4
242,4
5
6.3
92
880,4
4

Tổng thu nợ
nông nghiệp
141.2
04
218.7
59
509.8
82
77.55
5
54,9
2
291.1
23
133,0
8
Nguồn: bảng cân đối tài khoản chi tiết 2005, 2006 và 2007
Giai đoạn 2005 – 2007 doanh số thu nợ nông nghiệp ngắn hạn luôn tăng cao hơn doanh
số thu nợ nông nghiệp trung hạn nhưng tỉ trọng có xu hướng giảm xuống. Do ngân hàng thúc
đẩy doanh số cho vay ở thời trung hạn và được thể hiện qua biểu đồ sau:
Biểu đồ 3: Cơ cấu doanh số thu nợ nông nghiệp qua 3 năm (2005 -2007)
87
77
6
13
23
94
-
20
40


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status