Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Ngân hàng thương mại là trung gian tài chính lớn nhất trong nền kinh tế. Đối
với các tổ chức này, huy động vốn là hoạt động có vai trò đặc biệt quan trọng, không
huy động được lượng vốn đủ lớn, các Ngân hàng rất khó mở rộng tín dụng cũng như
phát triển các hoạt động khác
Trong điều kiện kinh tế Việt nam đang hội nhập các Ngân hàng thương mại
càng cần để duy trì và nâng cao vị thế trên thị trường. Trên thực tế lượng vốn các tổ
chức tài chính này huy động được chưa đủ lớn để đáp ứng nhu cầu phát triển, mặt
khác không ít Ngân hàng đang phải đối mặt với tình trạng mất cân đối giữa các loại
vốn. Tăng cường vốn trở thành vấn đề rất cấp bách với các Ngân hàng thương mại
hiện nay
Chi nhánh Hà nội là một trong những chi nhánh thuộc miền Bắc của Ngân
hàng TMCP An Bình hoạt động trong môi trường cạnh tranh mới nên chi nhánh gặp
rất nhiều khó khăn. Hoạt động huy động vốn của chi nhánh dù đã có được những
thành công nhất định nhưng vẫn còn những hạn chế, tình hình huy động vốn của chi
nhánh qua các năm không được ổn định do sự bất ổn của nền kinh tế gây ra bên cạnh
những hình thức huy động vốn của chi nhánh chưa thực sự đa đạng. Nếu không tăng
cường huy động vốn thì chi nhánh sẽ rất khó phát triển
Xuất phát từ nhận định trên, đề tài “Tăng cường huy động vốn của Ngân
hàng TMCP An Bình chi nhánh Hà nội” được lựa chọn để nghiên cứu
Ngoài danh mục các chữ viết tắt, danh mục bảng biểu sơ đồ, lời mở đầu kết
luận và tài liệu tham khảo, chuyên đề được trình bày theo kết cấu gồm ba chương
như sau:
Chương 1: Tổng quan về huy động vốn của Ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng huy động vốn của Ngân hàng TMCP An Bình chi
nhánh Hà nội
Chương 3: Giải pháp tăng cường huy động vốn của Ngân hàng TMCP An Bình
chi nhánh Hà nội
Sinh viên: Nguyễn Thanh Hà TCDN 48B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
cho vay
Sinh viên: Nguyễn Thanh Hà TCDN 48B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Ngoài NHTW, xét về tính chất và mục tiêu hoạt động, Ngân hàng được phân
loại thành: Ngân hàng phát triển, Ngân hàng đầu tư, Ngân hàng chính sách, Ngân
hàng thương mại. Trong đó NHTM chiếm số đông, từ những hoạt động sơ khai: đổi
tiền, nhận tiền gửi, cho vay… các Ngân hàng hiện nay đã phát triển rất nhiều hoạt
động mới. Việc xây dựng một khái niệm phản ánh đúng và đầy đủ bản chất của
NHTM cũng trở nên phức tạp hơn. Các khái niệm về NHTM được đưa ra trên cơ sở
những hoạt động thể hiện tính đặc trưng của các tổ chức tài chính này, được gọi
chung là các hoạt động ngân hàng. Trong những điều kiện cụ thể, các hoạt động ngân
hàng được cụ thể hóa theo những cách diễn đạt khác nhau
Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ các hoạt động
Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan
Trong đó, hoạt động Ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ
ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp
tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán
Thực tế cho thấy: NHTM không phải bỗng dưng xuất hiện và có được sự thịnh
vượng như ngày nay. Một lịch sử lâu dài trong sự thúc đẩy của nhu cầu phát triển
kinh tế - xã hội đã giúp các NHTM không ngừng hoàn thiện các hoạt động cơ bản và
mở rộng nhiều hoạt động mới
1.1.3. Hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại
1.1.3.1.1. Hoạt động huy động vốn
Ngân hàng thương mại kinh doanh tiền tệ chủ yếu dưới hình thức huy động, cho
vay, đầu tư và cung cấp các dịch vụ khác. Huy dộng vốn - hoạt động tạo nguồn vốn
cho ngân hàng thương mại – đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng tới chất lượng hoạt
động của ngân hàng.
Nguồn vốn ngân hàng huy động được sử dụng để tiến hành cho vay phục vụ cho
nhu cầu phát triển sản xuất, phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế của địa phương
và của cả nước. Nghiệp vụ huy động vốn của ngân hàng ngày càng mở rộng và phát
động với biên độ lớn phụ thuộc vào tình trạng tài chính của ngân hàng xin vay.
Chính vì vậy, ngân hàng chỉ dung tới nguồn vốn vay nợ trong trường hợp có
những nhu cầu thanh khoản đột xuất với quy mô lớn xuất hiện mà các nguồn vốn huy
động hay nguồn tiền từ việc bán các dự trữ thứ cấp là không thể đáp ứng được.
Nguồn vay chính đối với các ngân hàng là từ các khoản tiền gửi của ngân hàng Trung
ương, từ nguồn chiết khấu của ngân hàng Trung ương hoặc từ các công ty lớn
1.1.3.2. Hoạt động sử dụng vốn
Các nguồn vốn sau huy động sẽ được ngân hàng thương mại phân bổ sử dụng
vào các mục tiêu khác nhau. Nguyên tắc hoạt động của ngân hàng là dự trữ một phần
dưới dạng tiền, phần còn lại được sử dụng vào các nghiệp vụ sinh lời nhằm tạo ra thu
nhập để bù đắp chi phí hoạt động và có lãi. Các nghiệp vụ sử dụng vốn rất phong phú
với nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên, có thể chia làm 3 nhóm chính sau:
Sinh viên: Nguyễn Thanh Hà TCDN 48B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nghiệp vụ chiết khấu
Là nghiệp vụ trong đó ngân hàng thực hiện việc mua lại các giấy tờ có giá với
mục đích hưởng một mức lợi tức – thường gọi là lợi tức chiết khấu – tương xứng với
chi phí vốn và rủi ro mà ngân hàng phải đảm nhận khi sở hữu các giấy tờ có giá đó.
Các giấy tờ thường được ngân hàng chiết khấu là thương phiếu, các giấy nợ như trái
khoán hay hối phiếu chấp nhận thanh toán. Sau khi chiết khấu, ngân hàng có thể giữ
tài sản này tới lúc mãn hạn hoặc tiến hành tái chiết khấu hay bán lại trên thị trường
tiền tệ.
Nghiệp vụ đầu tư
Nghiệp vụ trong đó ngân hàng tiến hành mua các chứng khoán với mục đích thu
lợi từ việc sở hữu các chứng khoán này. Lợi tức bao gồm lãi của chứng khoán do nhà
phát hành đưa ra và lợi nhuận mà ngân hàng thu được khi bán lại chứng khoán với
giá cao hơn giá mua vào. Nghiệp vụ đầu tư thường được chia thành hai nhóm: Đầu tư
với mục đích thanh khoản và đầu tư với mục đích lợi nhuận.
1.2.1. Vốn chủ sở hữu
1.2.1.1. Nguồn vốn hình thành ban đầu
Nguồn vốn ban đầu hay Vốn pháp định của mỗi ngân hàng được hình thành do
tính chất sở hữu của ngân hàng quyết định.
Đối với các NHTM quốc doanh thì 100% vốn pháp định ban đầu là vốn do Nhà
nước cấp.
Đối với các NHTM cổ phần thì vốn pháp định (vốn điều lệ) hình thành do sự
đóng góp của các cổ đông dưới hình thức phát hành cổ phiếu.
Đối với các NHTM liên doanh thì vốn pháp định là vốn đóng góp của các bên
liên doanh Còn vốn của ngân hàng tư nhân lại chính là vốn thuộc sở hữu của chủ
ngân hàng
1.2.1.2. Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động
Gia tăng vốn chủ sở hữu là một hoạt động có ý nghĩa rất quan trọng đối với mỗi
ngân hàng. Vốn chủ sở hữu càng lớn thì uy tín cũng như sức mạnh của ngân hàng
trên thị trường càng lớn. Để tăng vốn chủ sở hữu, các ngân hàng thường lấy từ các
nguồn sau:
- Nguồn từ lợi nhuận : Khi ngân hàng hoạt động có lợi nhuận thì lãnh đạo ngân
hàng thường có xu hướng gia tăng vốn chủ sở hữu bằng cách chuyển một phần thu
nhập ròng thành vốn đầu tư. Việc này có ý nghĩa tích cực với mọi ngân hàng vì nó
góp phần tạo thêm sự an tâm với các khách hàng, đồng thời giúp ngân hàng tích luỹ
tiền để đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị của ngân hàng nhằm tạo ra một hình ảnh
ngân hàng đẹp hơn.
- Nguồn vốn bổ sung từ phát hành thêm cổ phần , góp thêm, cấp thêm… để mở
rộng quy mô hoạt động của Ngân hàng hoặc đáp ứng yêu cầu gia tăng vốn chủ do
Ngân hàng nhà nước quy định. Tuy nhiên nguồn vốn này không không phải lúc nào
cũng có được. Đối với các ngân hàng Nhà nước, việc được cấp thêm vốn tuỳ thuộc
vào chính sách của nhà nước mỗi năm. Còn đối với các ngân hàng cổ phần, việc tăng
Sinh viên: Nguyễn Thanh Hà TCDN 48B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thêm vốn điều lệ bằng cách phát hành thêm cổ phiếu mới đòi hỏi sự cân nhắc của hội
anh ta cứ để đấy khi nào cần thì rút. Thông thường, chủ các tài khoản tiền gửi không
kì hạn thường yêu cầu ngân hàng thanh toán hộ mình cho các đối tác qua tài khoản
mà không cần phải đến ngân hàng rút tiền nữa. Việc này đẩy nhanh tốc độ lưu thông
Sinh viên: Nguyễn Thanh Hà TCDN 48B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
của tiền và hạn chế bớt tiền mặt trong thanh toán. Chính ưu điểm này của tiền gửi
thanh toán đã khiến nó rất được ưa thích và phổ biến với tất cả mọi người, đặc biệt là
các doanh nghiệp và cá nhân có hoạt động mua bán thường xuyên. Ngày nay tài
khoản tiền gửi thanh toán đảm nhiệm rất nhiều chức năng hữu dụng đối với chủ tài
khoản. Người chủ tài khoản có thể phát séc từ tài khoản của mình, thanh toán các loại
hoá đơn qua ngân hàng, rút tiền mặt tại các máy ATM của ngân hàng…Mạng lưới
ngân hàng càng mở rộng và phát triển thì càng tạo nhiều thuận lợi cho những người
sở hữu các tài khoản tiền gửi thanh toán. Giờ đây người ta có thể mua bán với nhau
dù cách xa hàng ngàn km, có thể đi du lịch khắp nơi mà chỉ cần mang theo một chiếc
thẻ tín dụng được chấp nhận toàn cầu. Đặc biệt, từ sau thập niên 70 các ngân hàng đã
bắt đầu trả lãi suất cho các khoản tiền gửi thanh toán, dù lãi suất rất thấp. Tuy nhiên
điều này càng làm tăng sự ưa thích của các khách hàng vì tiền của họ không những
có thể rút được ra bất kì lúc nào mà còn sinh lãi khi không dùng đến trong một
khoảng thời gian dài.
Đối với ngân hàng, tiền gửi thanh toán cũng là khoản vốn huy động khá hấp
dẫn. Bởi chi phí (lãi suất) cho loại tiền gửi này thấp nhất trong các loại tiền gửi. Để
thu hút tiền gửi thanh toán, các ngân hàng tạo rất nhiều sản phẩm cũng như tiện ích
sử dụng khiến cho khách hàng có rất nhiều lựa chọn. Chỉ riêng về Thẻ đã có rất nhiều
loại và nhiều tính năng phù hợp với mỗi loại khách hàng. Tương lai, tiền gửi thanh
toán sẽ thay thế hầu như toàn bộ tiền mặt, nó không những giúp người sở hữu thuận
lợi trong các giao dịch, ngân hàng có thêm nhiều vốn mà còn giúp Nhà nước quản lý
có hiệu quả lượng tiền mặt trong lưu thông
1.2.2.2. Tiền gửi có kì hạn của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội
Bên cạnh những khoản tiền gửi thanh toán, hầu hết các doanh nghiệp thương
mại, tổ chức xã hội đều gửi một lượng tiền nhất định tại ngân hàng với thời hạn xác
từ tổ chức bảo hiểm tiền gửi
1.2.2.4. Tiền gửi của các ngân hàng và tổ chức tín dụng khác
Giữa các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác thường xuyên có mối liên hệ với
nhau về nhiều mặt trong hoạt động kinh doanh. Các ngân hàng đều gửi một lượng
tiền ở các ngân hàng khác nhằm mục đích tạo sự thuận tiện cho việc thanh toán hộ,
chuyển khoản hay mua bán, giao dịch khác…Lượng tiền gửi này thường không lớn,
biến động nhỏ nên ít ảnh hưởng tới nguồn vốn của ngân hàng
1.2.3. Vốn vay
1.2.3.1. Tiền vay Ngân hàng Nhà nước
Ngân hàng trung ương là ngân hàng của các ngân hàng, là cứu tinh của các
ngân hàng trong các trường hợp khó khăn nhất, là người cho vay sau cùng. Thông
thường tất các ngân hàng thương mại và một số tổ chức tài chính khác trong nước
được NHNN cho phép thành lập đều được hưởng quyền vay tại ngân hàng NHNN
Sinh viên: Nguyễn Thanh Hà TCDN 48B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
trong những tình huống thiếu hụt dự trữ hoặc quá kẹt vốn. Đối với các NHTM thì vay
mượn tại NHNN là một dịch vụ hết sức tiện lợi và hấp dẫn vào lúc nó hạ lãi suất tái
chiết khấu trong chính sách cung ứng tiền nới lỏng để kích thích đầu tư. Nhưng
trường hợp không may diễn ra là khi các ngân hàng đến vay vào lúc NHTƯ không
muốn khuyến khích sự bành trướng của tín dụng hay đang muốn thắt chặt cung ứng
tiền tệ chống lạm phát. Lúc đó lãi suất chiết khấu được đẩy lên cao và với những
khoản lỗ trông thấy khi vay vốn của NHTƯ thì các ngân hàng chỉ miễn cưỡng vay
trong những tình huống ngặt nghèo và tìm cách trả nợ rất nhanh. Những khi ấy, các
khoản vay từ NHNN chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong tài sản nợ của các ngân hàng.
Dù ít hay nhiều, thường xuyên hay thình thoảng thì vay NHNN vẫn là một khoản
mục hiển nhiên trong tài sản nợ.
Ngân hàng Nhà nước cấp tín dụng cho các NHTM qua 2 hình thức:
- Tái chiết khấu (hoặc chiết khấu) hay còn gọi là tái cấp vốn. Các thương phiếu
đã được các ngân hàng thương mại chiết khấu sẽ trở thành tài sản cảu họ. Khi cần
tiền họ mang chúng lên NHNN để tái chiết khấu. Nghiệp vụ này làm thương phiếu
(đặc biệt là cho vay trung và dài hạn), bên cạnh việc thu hút tiền gửi, các Ngân hàng
thường chủ động đi vay trên thị trường vốn. Cũng giống như các doanh nghiệp, Ngân
hàng vay mượn bằng cách phát hành các giấy nợ (kì phiếu, tín phiếu, trái phiếu ) trên
thị trường. Thông thường đây là các khoản vay không có đảm bảo, nên những ngân
hàng lớn có uy tín hoặc trả lãi suất cao hơn thì sẽ vay được nhiều hơn. Các ngân hàng
nhỏ thường khó vay mượn trực tiếp bằng cách đó mà phải thông qua ngân hàng đại lí
hoặc được sự bảo lãnh của ngân hàng Đầu tư. Có thể nói thị trường tài chính với vai
trò trung gian điều hoà vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu đã hỗ trợ tích cực cho hoạt động
của các ngân hàng. Thị trường tài chính càng phát triển thì khả năng chuyển đổi các
công cụ nợ dài hạn của các ngân hàng càng tăng
1.2.3.4. Vay nợ khác
Ngoài những nguồn vốn đi vay cơ bản trên, Ngân hàng còn có các nguồn vốn
vay khác như:
- Nguồn uỷ thác: NHTM thực hiện các dịch vụ uỷ thác như uỷ thác cho vay, uỷ
thác đầu tư, uỷ thác cấp phát, uỷ thác giải ngân và thu hộ….Trong đó Uỷ thác Đầu tư
là dịch vụ khá hấp dẫn của ngân hàng. Với dịch vụ này, khách hàng uỷ thác tiền bạc,
tài sản của mình cho ngân hàng để ngân hàng tiến hành đầu tư vào những dự án khả
thi để sinh lãi. Ngân hàng với lợi thế về uy tín và thông tin cũng như khả năng thẩm
định dự án tốt sẽ tiến hành hoạt động đầu tư có hiệu quả hơn, mang lại thu nhập cho
khách hàng đồng thời thu lời cho chính mình qua phí dịch vụ. Trong tương lai, dịch
vụ Uỷ thác đầu tư hứa hẹn rất phát triển, là một nguồn thu hút vốn khá tốt và trở
thành một sản phẩm cạnh tranh hấp dẫn không kém sản phẩm tiền gửi.
- Nguồn trong thanh toán: Các hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt có
thể hình thành nguồn trong thanh toán ( séc trong quá trình chi trả, tiền ký quỹ
L/C…), Hoặc các ngân hàng là ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ có kết dư tiền
Sinh viên: Nguyễn Thanh Hà TCDN 48B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
gửi từ tiền của các ngân hàng thành viên chuyển về để cho vay. Đặc điểm của nguồn
này là thời gian tồn tại ngắn vì phần lớn chúng đều ở trong trạng thái chờ luân
chuyển, do đó các ngân hàng ít khi chỉ sử dụng chúng để cho vay lâu dài mà chỉ để
dân cư được luân chuyển vào ngân hàng
Sinh viên: Nguyễn Thanh Hà TCDN 48B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.3.1.2. Môi trường kinh tế
Hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại bị các chỉ tiêu kinh tế như tốc
độ tăng trưởng của nền kinh tế, thu nhập quốc dân, tốc độ chu chuyển vốn, tỷ lệ lạm
phát,... tác động trực tiếp. Khi nền kinh tế trong thời kỳ hưng thịnh, có tốc độ phát
triển nhanh, thu nhập quốc dân cao, các đơn vị kinh tế, dân cư sẽ có nguồn tiền gửi
dồi dào vào ngân hàng. Ngược lại, trong điều kiện tình hình kinh tế bất ổn, nền kinh
tế trì trệ, tỷ lệ thất nghiệp cao, tỷ lệ lạm phát cao thì việc huy động vốn của ngân
hàng nói chung và các hoạt động khác của ngân hàng noi chung sẽ gặp nhiều khó
khăn bởi người dân không tin tưởng gửi tiền vào ngân hàng mà dùng tiền để mau các
tài sản có tỉnh ổn định cao, còn các doanh nghiệp buộc phải thu hẹp sản xuất, lượng
tiền gửi vào ngân hàng sẽ bị thu hẹp, ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng.
Mặt khác, trong môi trường ngày càng phát triển hiện nay, khả năng ứng dụng
công nghệ trở thành một trong những điều kiện bắt buộc để ngân hàng tồn tại và phát
triển. Nhiều sản phẩm dịch vụ đã xuất hiện liên quan đến hoạt động huy động vốn
của ngân hàng thương mại như dịch vụ ngân hàng tại nhà (Home banking), máy rút
tiền tự động ATM (Automatic Teller Money), thư tín dụng (L/C), hệ thống thanh
toán điện tử,... đã làm cho tỷ lệ gửi tiền, thanh toán qua ngân hàng ngày càng tăng và
đạt tỷ lệ cao
1.3.1.3. Môi trường xã hội
Môi trường xã hội cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới hoạt động của
ngân hàng nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng
Phân bố dân cư, thu nhập của người dân là một nguồn lực tiềm tàng có thể
khai thác nhằm mở rộng quy mô huy động vốn của ngân hàng thương mại. Vì vậy
những khu vực đông dân cư, với thu nhập cao thì sẽ dễ dàng hơn trong việc huy động
vốn đối với ngân hàng.
Môi trường văn hoá như tập quán, tâm lý, thói quen sử dụng tiền mặt của dân
cư ảnh hưởng nhiều đến quyết định kinh tế về tiêu dùng và tiết kiệm của người có thu
dụng hệ thống lãi suất tiền gửi như một công cụ quan trọng trong việc huy động tiền
gửi và thay đổi quy mô nguồn vốn. Để duy trì và thu hút thêm nguồn vốn, ngân hàng
cần ấn định mức lãi suất cạnh tranh, thực hiện những ưu đãi về giá cho những khách
hàng lớn, gửi tiền thường xuyên. Hơn nữa hệ thống lãi suất cần linh hoạt, phù hợp
với quy mô và cơ cấu nguồn vốn.
Tuy nhiên, ngân hàng cũng cần phải chú ý rất nhiều đến lãi suất tiền vay để có
thể có các hoạt động kinh doanh hợp lý, đem lại các khoản thu nhập cao nhất cho
ngân hàng để bù đắp được các khoản chi phí đã bỏ ra và vẫn mang lại lợi nhuận cho
ngân hàng
1.3.2.3. Mạng lưới huy động vốn của Ngân hàng
Mạng lưới hoạt động của ngân hàng và các hình thức huy động vốn càng đa
dạng, phóng phú thì kết quả huy động vốn càng nhiều về số lượng do việc thực hiện
được dịch vụ trọn gói và mở rộng dịch vụ ngân hàng. Các khoản tiền tiết kiệm của
Sinh viên: Nguyễn Thanh Hà TCDN 48B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
dân cư thường là các khoản tiền nhỏ. Vì vậy, nếu việc tiếp cận với ngân hàng khó
khăn sẽ tạo ra cho khách hàng tâm lý ngại đến ngân hàng. Với một mạng lưới rộng
khắp, tạo ra sự sễ dàng trong việc tiếp cận ngân hàng của người dân thì ngân hàng sẽ
dễ dàng thu hút được các khoản tiền gửi đó một cách có hiệu quả
1.3.2.4. Hoạt động marketing của Ngân hàng
Mục tiêu cuối cùng là thoả mãn tối đa nhu cầu của khách hàng vừa đảm bảo
khả năng sinh lời, kảh năng cạnh tranh an toàn trong kinh doanh thì marketing đã trở
thành công cụ không thể thiếu được trong ngân hàng thương mại hiện nay.
Hoạt động ngân hàng có tính xã hội hoá cao, phụ thuộc chặt chẽ vào môi trường
kinh doanh như môi trường dân cư, môi trường kinh tế, môi trường chính trị,... nên
sự thay đổi của bất kỳ yếu tố nào cũng ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động kinh
doanh của ngân hàng nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng.
Chính sách marketing có hai nhiệm vụ chính:
Nắm bắt kịp thời sự thay đổi môi trường, thị trường cũng như nhu cầu của
khách hàng đối với dịch vụ sản phẩm mà ngân hàng cung cấp.
năm gần đây với sự liên kết từ những tập đoàn kinh tế lớn mạnh trong và ngoài nước
như
- Tập đoàn Điện lực Việt nam (EVN) - cổ đông chiến lược của ABBANK với tỉ
lệ góp vốn điều lệ khoảng 27%
- Maybank, ngân hàng lớn nhất Malaysia - cổ đông chiến lược nước ngoài hiện
đang sở hữu 15% cổ phần của ABBANK
Với vốn điều lệ trên 2.700 tỉ đồng, mạng lưới gần 70 điểm giao dịch tại 20 tỉnh
thành trên toàn quốc vào cuối năm 2008, ABBANK đang phục vụ hàng ngàn khách
hàng doanh nghiệp và hàng vạn khách hàng cá nhân. Tổng tài sản, doanh thu và lợi
nhuận của ABBANK đã tăng trưởng liên tục hơn 300% trong hai năm gần đây
Các nhóm khách hàng mục tiêu hiện nay của ABBANK bao gồm nhóm khách
hàng doanh nghiệp, nhóm khách hàng cá nhân và nhóm khách hàng đầu tư
- Đối với khách hàng Doanh nghiệp: ABBANK sẽ cung ứng sản phẩm dịch vụ
tài chính ngân hàng trọn gói như: sản phẩm cho vay, sản phẩm bao thanh toán sản
phẩm bảo lãnh, sản phẩm tài trợ xuất nhập khẩu, sản phẩm tài khoản, dịch vụ thanh
toán quốc tế
- Đối với các khách hàng cá nhân: ABBANK cung cấp nhanh chóng và đầy đủ
chuỗi sản phẩm tín dụng tiêu dùng và các sản phẩm tiết kiệm linh hoạt. Ví dụ: Cho
vay trả góp mua nhà, đất, xây sửa nhà cho vay trả góp mua nhà, đất 30 năm và có bảo
hiểm nhân thọ cho người vay, cho vay trả góp mua ô tô; cho vay tiêu dùng tín chấp,
cho vay sản xuất kinh doanh trả góp, cho vay bổ sung vốn lưu động, cho vay tiêu
dùng thế chấp linh hoạt, các sản phẩm tiết kiệm YOUsaving tiết kiệm theo thời gian
Sinh viên: Nguyễn Thanh Hà TCDN 48B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thực gửi, tiết kiệm bậc thang và các dịch vụ thanh toán chuyển tiền trong và ngoài
nước
- Với các khách hàng đầu tư: ABBANK thực hiện các dịch vụ ủy thác và tư vấn
đầu tư cho các khách hàng công ty và cá nhân. Riêng với các khách hàng công ty,
ABBANK cũng cung cấp thêm các dịch vụ tư vấn tài chính, tư vấn phát hành và bảo
lãnh phát hành trái phiếu, đại lý thanh toán cho các đợt phát hành trái phiếu. Định vị
2.1.3.1. Ban giám đốc
- Giám đốc : chịu trách nhiệm chung về mọi hoạt động kinh doanh của ngân
hàng, đưa ra những quyết định cuối cùng và chỉ đạo hoạt động của các phòng ban.
- Các phó giám đốc : là những người giúp việc cho giám đốc, được phân công
theo từng mảng công việc khác nhau tùy theo quyền hạn và nhiệm vụ của từng người
2.1.3.2. Các phòng ban cụ thể
* Phòng Nguồn vốn - Kế hoạch tổng hợp
- Nghiên cứu, đề xuất, xây dựng chiến lược kinh doanh ngắn, trung và dài hạn.
- Đề xuất các biện pháp để đẩy mạnh huy động vốn; làm sao có đủ hoặc dư vốn
nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu vay vốn của khách hàng.
- Cân đối nguồn vốn; sử dụng và điều hòa vốn kinh doanh theo nguyên tắc an
toàn, hiệu quả, tiết kiệm.
* Phòng khách hàng doanh nghiệp
- Nghiên cứu thực hiện chiến lược phân loại, đề xuất chính sách ưu đãi đối với
khách hàng; tiếp nhận, thực hiện chương trình dự án thuộc các nguồn vốn.
- Tổ chức phân tích kinh tế, lựu chọn biện pháp tín dụng tối ưu; tìm kiếm, khai
thác, tiếp cận để phát triển khách hàng mới; thẩm định và đề xuất cho vay dự án.
- Xây dựng và thực hiện các mô hình tín dụng thí điểm, theo dõi, đánh giá và đề
xuất phương án khắc phục
* Phòng quản lý rủi ro
- Có chức năng nghiên cứu , phân tích, quản lý rủi ro bao gồm rủi ro chung (rủi
ro hệ thống, rủi ro thị trường..) và rủi ro riêng (rủi ro từng khách hàng, từng dự án..)
nhằm đảm bảo tín dụng và mở rộng hoạt động mộ cách an toàn và hiệu quả.
- Thu thập, quản lý, cung cấp thông tin phục vụ cho việc thẩm định và phòng
ngừa rủi ro tín dụng; tham mưu trong việc lựa chọn biện pháp cho vay an toàn, hiệu
quả.
*Phòng thanh toán quốc tế
- Xây dựng kế hoạch kinh doanh đối ngoại; triển khai xây dựng kế hoạch quý;
tổng kết công tác đối ngoại, phân tích, đề xuất phương án phát triển dịch vụ đối ngoại
- Tham mưu về quản trị, điều hành lãi suất, xây dựng biểu phí dịch vụ kinh
quản lý
rủi ro
Trung
tâm thẻ