sử dụng – bảo vệ tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên - Pdf 11

http://diendankienthuc.net
Chủ đề 5
SỬ DỤNG – BẢO VỆ TỰ NHIÊN VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN
NHIÊN
I. CÂU HỎI
Câu 1. Chứng minh rằng tài nguyên sinh vật nước ta đang bị suy thoái.
Câu 2. Trình bày các biện pháp bảo vệ tài nguyên rừng và đa dạng sinh học của nước ta.
Câu 3. Nêu những biểu hiện của sự suy thoái tài nguyên đất.
Câu 4. Trình bày phương hướng bảo vệ tài nguyên đất.
Câu 5. Trình bày hiện trạng và phương hướng bảo vệ tài nguyên nước ở nước ta
Câu 6. Trình bày hoạt động, hậu quả của bão ở Việt Nam và biện pháp phòng chống bão.
Câu 7. Trình bày hiện trạng và biện pháp phòng chống các thiên tai: ngập úng, lũ quét,
hạn hán, động đất ở nước ta.
Câu 8. Trình bày chiến lược quốc gia về bảo vệ tài nguyên và môi trường
II. GIẢI ĐÁP
Câu 1. Tài nguyên sinh vật nước ta đang bị suy thoái.
a. Suy thoái tài nguyên rừng
Trong các vấn đề về tài nguyên và môi trường hiện nay ở Việt Nam thì sự suy thoái
tài nguyên rừng là có quy mô lớn nhất và gây hậu quả nghiêm trọng nhất. Hơn nửa thế kỉ
nay, diện tích rừng tự nhiên của nước ta đã giảm đáng kể. Năm 1943, rừng tự nhiên của
cả nước là 14 triệu ha với tỉ lệ che phủ rừng là 43,8%, thì đến 1995 diện tích rừng tự
nhiên chỉ còn 8,2 triệu ha và hơn 1 triệu ha rừng trồng, tỉ lệ che phủ là 27,8% diện tích
đất đai, ngược lại đồi núi trọc tăng lên đến gần 10 triệu ha (chiếm 30,2% diện tích). Riêng
Tây Bắc, vùng núi cao nhất của đất nước, tỉ lệ che phủ rừng thấp nhất, chỉ còn khoảng
10% và có tới 70% diện tích đất trống đồi trọc. Những năm gần đây, nhờ chính sách giao
đất giao rừng cho dân và Nhà nước tập trung chỉ đạo kế hoạch trồng rừng, rừng tự nhiên
được phục hồi và diện tích rừng trồng tăng làm tăng tỉ lệ che phủ của rừng. Theo số liệu
thống kê năm 1999 tổng diện tích đất có rừng trên toàn quốc là hơn 10,9 triệu ha, nâng tỉ
lệ che phủ rừng đạt 33,2%, trong đó rừng tự nhiên chiếm hơn 9,4 triệu ha, còn rừng trồng
là gần 1,5 triệu ha. Trong những năm gần đây, diện tích có rừng tăng lên đáng kể, năm
http://diendankienthuc.net

tập trung như cá chim, cá gúng, cá hồng. Đó là hậu quả của sự khai thác đánh bắt quá
mức và tình trạng ô nhiễm môi trường nước, nhất là vùng cửa sông, ven biển.
Câu 2. Các biện pháp bảo vệ tài nguyên rừng và đa dạng sinh học của nước ta.
- Bảo vệ tài nguyên rừng
http://diendankienthuc.net
Việc bảo vệ tài nguyên rừng không chỉ là bảo vệ nguồn lợi kinh tế lớn mà còn có ý
nghĩa bảo vệ môi trường. Trong điều kiện thiên nhiên Việt Nam, việc phá rừng kéo theo
hàng loạt hậu quả xấu đối với môi trường. Trước hết là làm tăng cường xói mòn đất. Lớp
đất màu đồi núi ở nơi không có rừng hàng năm bị bóc đi từ 1 – 2cm/năm, lượng đất mất
khoảng 130T/ha/năm. Mất rừng, sự không điều hòa vốn có của dòng chảy sông ngòi ở
Việt Nam càng trở nên khắc nghiệt, nguy cơ khô hạn lũ lụt càng ác liệt hơn. Hằng năm,
trong mùa mưa, lũ lụt đã tác hại thường xuyên 300 – 350 nghìn ha đất nông nghiệp ở
đồng bằng Bắc Bộ và khoảng 1 triệu ha ở Nam Bộ.
Như vậy rừng giữ vai trò cân bằng hệ sinh thái môi trường. Để đảm bảo vai trò của
rừng đối với việc bảo vệ môi trường, theo quy hoạch thì chúng ta phải nâng độ che phủ
của cả nước hiện tại từ trên 30% lên đến 45 – 50%, vùng núi dốc phải đạt độ che phủ
khoảng 70 – 80%.
Dựa trên Luật bảo vệ và phát triển vốn rừng đã được Hội đồng Nhà nước công bố
ngay 19 – 8 – 1991, ngày 22 – 12 – 2003, Chính phủ công bố Luật bảo vệ và phát triển
rừng (sửa đổi ). Nội dung luật quy định các điều luật về quản lí, bảo vệ, phát triển và sử
dụng rừng, quyền và nghĩa vụ của chủ rừng, chức năng và nhiệm vụ của kiểm lâm, giải
quyết tranh chấp và vi phạm về rừng.
Sự quản lí của nhà nước về quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng được thể
hiện qua những quy định về nguyên tắc quản lí, phát triển sử dụng đối với ba loại rừng:
rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất
+ Đối với rừng phòng hộ: có kế hoạch, biện pháp bảo vệ nuôi dưỡng rừng hiện có,
gây trồng rừng trên đất trống, đồi núi trọc.
+ Đối với rừng đặc dụng: bảo vệ cảnh quan, đa dạng sinh học của các vườn Quốc gia,
khu dự trữ thiên nhiên về rừng và khu bảo tồn các loài.
+ Đối với rừng sản xuất: đảm bảo duy trì phát triển diện tích và chất lượng rừng, duy

Trong “Sách đỏ Việt Nam” cũng đã quy định danh sách 38 loài cá nước ngọt và 37
loài cá biển, 59 loài động vật không xương sống trong đó có 13 loài nước ngọt và 46 loài
ở biển cần được bảo vệ.
Ngoài việc cần thiết bảo vệ nguồn gen và sự đa dạng của các loài sinh vật đã quy định
trong “Sách đỏ Việt Nam”, để đảm bảo sử dụng lâu dài các nguồn lợi sinh vật của đất
nước, cần thực hiện nghiêm ngặt các quy định trong khai thác như cấm khai thác gỗ quý;
cấm khai thác gỗ trong rừng cấm, rừng non; cấm gây cháy rừng; cấm săn bắt động vật
trái phép; cấm dùng chất nổ đánh bắt cá và các dụng cụ đánh bắt cá non, cá bột; cấm gây
độc hại cho môi trường nước.
Câu 3. Những biểu hiện của sự suy thoái tài nguyên đất.
Trong điều kiện địa hình dốc, khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, nhất là khi mất lớp
phủ thực vật, đất ở nước ta rất dễ bị suy thoái. Đồng thời với diện tích rừng bị thu hẹp,
http://diendankienthuc.net
tình trạng suy thoái đất đã trở nên nghiêm trọng. Năm 1943, diện tích đất trống đồi trọc
cả nước chỉ khoảng 2 – 3 triệu ha, đã lên tới 10 triệu ha vào năm 1990, trong đó có 500
ngàn ha đất xói mòn trơ sỏi đá. Những năm qua, các mô hình canh tác phủ xanh đất trống
được thực hiện, diện tích đất hoang đồi trọc giảm mạnh, theo thống kê năm 2003, cả
nước còn hơn 6,8 triệu ha. Tuy nhiên, diện tích đất suy thoái vẫn lớn, chiếm 9,34 triệu ha.
Hiện tại, trong tổng số vốn đấ tự nhiên của cả nước hơn 33 triệu ha, thì đất tốt chiếm
chừng 20% (gồm gần 3 triệu ha đất phát triển trên đá badơ và 3,4 triệu ha đất phù sa).
Ngoài nửa triệu ha đất xói mòn trơ sỏi đá, các loại đất khác phải cải tạo chiếm tới gần 6
triệu ha, bao gồm 1,85 triệu ha đất phèn, 1,5 triệu ha đất mặn và cát biển, 1,8 triệu ha đất
xám bạc màu, gần 0,5 triệu ha đất glây, than bùn, các loại đất chiếm diện tích ít hơn như
đất nâu vàng vùng bán khô hạn, đất xám có tầng loang lổ, đất xám glây. Ngay trong số
3,4 triệu ha đất phù sa có tới gần nửa diện tích là loại đất phù sa chua (gần 1,7 triệu h)
cần có biện pháp nâng cao độ phì cho đất. Diện tích đất nông nghiệp đang có xu hướng
thu hẹp, độ phì cũng tiếp tục giảm, các quá trình mặn hóa, phèn hóa đất đai vùng ven
biển, úng ngập, ô nhiễm vùng đồng bằng châu thổ, bạc màu thoái hóa vùng đồng bằng
cao là những vấn đề cần quan tâm trong việc quản lí sử dụng đất đai nông nghiệp.
Câu 4. Trình bày phương hướng bảo vệ tài nguyên đất.

/người). Vùng Bình
Thuận luôn trong tình trạng khan hiếm nước, nhu cầu nước vượt quá khả năng cung cấp
1,5 lần. Tình trạng thiếu hụt nước trong mùa nước kiệt chiếm rộng hơn và nghiêm trọng
hơn, như ở Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và ở ĐBSCL
Trong tình trạng chung của các nước đang phát triển, lượng nước dùng cho nông
nghiệp ở nước ta chiếm tỉ lệ lớn trong tổng nhu cầu nước sử dụng. Nhu cầu nước cho
công nghiệp, cho sinh hoạt và dịch vụ chưa nhiều, so với mức bình quân toàn cầu còn
thấp hơn nhiều. Tuy thế, tỉ lệ các gia đình có nước sạch theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế
thế giới ở Việt Nam rất thấp, chỉ đạt 20 – 40% tùy vùng
b. Ô nhiễm môi trường nước
Nguy cơ ô nhiễm môi trường nước đáng lo ngại. Hầu hết nước thải công nghiệp và đô
thị đổ thẳng ra sông chưa qua xử lí. Hằng năm, hoạt động công nghiệp thải trên 300 ngàn
tấn các chất độc hại vào môi trường. Khu công nghiệp Biên Hòa – TP.HCM có lượng
nước thải hàng ngày là 500 ngàn m
3
. Tại Hà Nội, hàng ngày có khoảng 300.000 m
3
nước
thải đổ vào sông, hồ. Trong hoạt động nông nghiệp, lượng thuốc trừ sâu, phân bón hữu cơ
và hóa học dư thừa cũng là nguồn gây ô nhiễm nhiều vùng chứa nước ở nông thôn.
Câu 6. Hoạt động, hậu quả của bão ở Việt Nam và biện pháp phòng chống bão
a. Hoạt động của bão ở Việt Nam
Vùng biển Việt Nam nằm ở bờ Tây của Bắc Thái Bình Dương, một khu vực hàng
năm bão phát sinh nhiều nhất và mạnh nhất. Tại đây, có 30% số cơn bão phát sinh từ biển
Đông, còn 70% số cơn bão từ Thái Bình Dương. Mỗi năm trung bình vùng đồng bằng và
http://diendankienthuc.net
ven biển nước ta đón nhận 3 – 4 cơn bão trực tiếp từ biển Đông đổ vào. Năm bão nhiều
có tới 8 – 10 cơn, năm ít cũng 1 – 2 cơn. Các cơn bão phát sinh từ Thái Bình Dương di
chuyển qua biển Đông dù không vào nước ta đều gây ảnh hưởng đến thời tiết nước ta.
Theo thống kê trong 45 năm gần đây có 395 trận bão trong khu vực biển Đông có ảnh

kết hợp chống lụt, úng ở đồng bằng và chống lũ, chống xói mòn ở miền núi.
http://diendankienthuc.net

Câu 7. Hiện trạng và biện pháp phòng chống các thiên tai: ngập úng, lũ quét, hạn hán,
động đất ở nước ta.
a. Ngập úng
Ngập úng ở Việt Nam chủ yếu do mưa lớn gây ra, đặc biệt là các vùng trũng. Hiện
nay, vùng chịu úng nghiêm trọng nhất là vùng châu thổ sông Hồng do mưa lớn (có khi
lên tới 400 – 500mm/ngày) mặt đất thấp, chung quanh có đê sông, đê biển bao bọc. Mật
độ dân cư cao cũng làm cho mức độ ngập nghiêm trọng hơn. Úng ngập ở ĐBSCL không
chỉ do mưa lớn gây ra mà còn do mực nước thủy triều cao. Khả năng tiêu nước của
ĐBSCL nhỏ hơn ĐBSH và phụ thuộc vào dòng triều. Để tiêu nước chống ngập úng ở
ĐBSCL cần tính xây dựng các công trình ngăn thủy triều. Tùy thời vụ và loài cây trồng
mà ngập úng gây thiệt hại nhiều hay ít, chủ yếu úng ngập gây hậu quả nghiêm trọng cho
vụ hè, thu ở hai đồng bằng này. Còn ở Trung Bộ, tuy lượng mưa lớn hơn cả đồng bằng
sông Hồng, nhưng do địa hình dốc, lại giáp biển, không có đê nên dễ thoát nước, trừ một
số vùng trũng ven biển Bắc Trung Bộ.
b. Lũ quét
Mưa lớn ở miền núi không chỉ gây ngập úng ngập cho miền đồng bằng mà còn gây
nên hiện tượng lũ quét. Lũ quét xảy ra hầu khắp các nước trên thế giới, đặc biệt ở các lưu
vực sông nằm trong vùng ảnh hưởng của gió mùa và bão nhiệt đới. Việt Nam là nước có
mức độ thiên tai về bão, lũ lụt thuộc loại cao trong một số nước ở châu Á – Thái Bình
Dương. Kết quả nghiên cứu của Viện Khí tượng – Thủy văn cho thấy, từ năm 1950 trở lại
đây, ở nước ta năm nào cũng có lũ quét mà xu hướng ngày càng tăng. Lũ quét xảy ra ở
những lưu vực sông suối miền núi có địa hình chia cắt mạnh, độ dốc lớn, mất lớp phủ
thực vật, bề mặt đất dễ bị bóc mòn khi có mưa lớn đổ xuống. Mưa gây ra lũ quét thường
tập trung trong vài giờ với cường độ rất lớn 100 – 200mm. Lũ quét là thiên tai bất thường
và gây hậu quả rất nghiêm trọng
Ở miền Bắc nước ta, lũ quét thường xảy ra vào các tháng 6 – 10 tập trung ở vùng núi
phía Bắc, tại các tỉnh Sơn La, Lai Châu thuộc thượng nguồn sông Đà, Lào Cai, Yên Bái

hàng vạn ha cây trồng hoa màu và hàng nghìn ha rừng. Nếu tổ chức phòng chống tốt ta
có thể hạn chế bớt thiệt hại do thiên tai này gây ra. Phòng chống hạn hán lâu dài phải giải
quyết bằng những công trình thủy lợi hợp lí.
d. Động đất
Việt Nam nằm gần vành đai động đất lớn của thế giới – vành đai động đất Thái Bình
Dương (chiếm gần 80% số trận động đất trên thế giới). Tuy Việt Nam không phải là nơi
có động đất mạnh nhất trong vành đai này, nhưng những ảnh hưởng do động đất gây ra
cho nước ta cũng không nhỏ.
Theo số liệu thống kê, từ năm 114 đến năm 2001 đã có 177 trận động đất lịch sử
(những trận động đất có cường độ lơn hớn 4 độ Rích te, tương đương cấp 7 trở lên – động
http://diendankienthuc.net
đất gây tác động phá hoại) xảy ra ở nước ta. Từ thế kỉ XX, chúng ta đã ghi lại được đầy
đủ các trận động đất, đặc biệt những trận động đất có cường độ cấp 6 (thuộc cấp động đất
mạn, nhà cửa bị hư hại nhẹ, lớp vữa bị rạn). Động đất diễn ra mạnh tại các đứt gãy. Tây
Bắc Việt Nam là khu vực có hoạt động động đất mạnh nhất, rồi đến khu vực Đông Bắc,
bao gồm các đới động đất sông Hồng – sông Chảy, Sơn La – sông Đà, sông Mã, Điện
Biên – Lai Châu, Cao Bằng – Lạng Sơn, Đông Triều – Cẩm Phả. Khu vực miền Trung ít
động đất hơn, còn Nam Bộ hầu như không đáng kể. Tại vùng biển, động đất tập trung ở
ven biển Nam Trung Bộ. Động đất là nguyên nhân chủ yếu gây nên sóng thần. Bởi vậy,
vùng ven biển Nam Trung Bộ cũng là nơi có điều kiện phát sinh sóng thần nhất trong
vùng biển nước ta.
Cho đến nay, chúng ta mới chỉ làm được những dự báo động đất dài hạn. Động đất
vẫn là thiên tai bất thường, bởi vậy rất khó phòng tránh.
Ngoài các loại thiên tai chủ yếu diễn ra thường xuyên và trên diện rộng nêu trên ở
nước ta còn có một vài loại thiên tai khác mang tính cục bộ như gió lốc, mưa đá
Câu 8. Trình bày chiến lược quốc gia về bảo vệ tài nguyên và môi trường
Chiến lược quốc gia về bảo vệ tài nguyên và môi trường ở Việt Nam dựa trên những
nguyên tắc chung của chiến lược bảo vệ toàn cầu (WSC) do IUCN đề xuất. Chiến lược
đảm bảo sự bảo vệ đi đôi với sự phát triển bền vững.
Các nhiệm vụ chiến lược đề ra là:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status