LUẬN VĂN:
Tăng cường công tác giáo dục đạo
đức cho đối tượng học sinh phổ
thông trung học Mở Đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời gian qua, vấn đề đạo đức xã hội ở nước ta đang diễn ra rất phức
tạp, đạo đức xã hội có phần bị xuống cấp, điều đáng lo ngại hơn cả là "có một bộ
phận học sinh, sinh viên có tình trạng suy thoái đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, theo
lối sống thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp vì tương lai của bản thân và
đất nước" [9, 21]. Hiện tượng thiếu trung thực trong học tập, gian lận trong thi cử,
dùng tiền để "mua điểm", "mua bằng cấp", hiện tượng đánh thầy chửi bạn có nguy
cơ trở thành một tệ nạn. Không những thế, những tệ nạn xã hội như rượu chè, cờ bạc,
ma túy cũng đang có xu hướng du nhập vào nhà trường gây ảnh hưởng lớn đối với
học sinh.
+ Phân tích mối quan hệ điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan trong
giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông trung học.
+ Làm rõ tầm quan trọng của việc cao nhân tố chủ quan trong giáo dục đạo
đức cho học sinh phổ thông trung học hiện nay.
+ Đề xuất những giải pháp nâng cao vai trò nhân tố chủ quan, trong công tác
giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông trung học
hiện nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đặc biệt
là mối quan hệ giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan, đề tài được thực hiện
theo phương pháp phân tích, tổng hợp, lịch sử, lôgic
- Kết hợp sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như: khảo sát, điều
tra, tọa đàm, phỏng vấn, so sánh, tiếp cận, thống kê v.v
5. ý nghĩa của đề tài
- Làm tài liệu nghiên cứu cho trường phổ thông trung học.
- Góp phần nâng cao vai trò nhân tố chủ quan trong công tác giáo dục đạo
đức cho học sinh phổ thông trung học tỉnh Kiên Giang.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2
chương 5 tiết.
Do đó, đạo đức theo quan niệm mác xít là một hình thái ý thức xã hội, bao
gồm một hệ thống các qui tắc, các chuẩn mực nhằm điều chỉnh hành vi và đánh giá
cách ứng xử của con người trong quan hệ
với nhau và quan hệ với xã hội để bảo vệ lợi ích của cá nhân và của cộng đồng.
Là một hình thái ý thức xã hội, nên cũng như các hình thái ý xã hội khác, đạo
đức phản ánh tồn tại xã hội. Sự xuất hiện của đạo đức đáp ứng đòi hỏi khách quan
của cuộc sống xã hội, nó phản ánh đời sống xã hội, mà trước hết là chế độ kinh tế -
xã hội. Khi nền kinh tế - xã hội có sự biến đổi, đòi hỏi đạo đức xã hội cũng phải thay
đổi theo.
Trong lịch sử nhân loại, cùng với sự phát triển của sản xuất, của tiến bộ xã
hội những quy tắc, chuẩn mực, phạm trù đạo đức theo đó tăng lên, phản ánh đời
sống xã hội ngày càng phong phú, đa dạng hơn, trở thành một trong những phương
thức điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, điều chỉnh hành vi của con người sao cho
phù hợp với yêu cầu, chuẩn mực xã hội.
Phản ánh tồn tại xã hội, do đó đạo đức mang tính lịch sử, quan niệm về một
nền đạo đức vĩnh cửu, đặt trên mọi lịch sử và trên những sự khác biệt về dân tộc, một
thứ đạo đức bất chấp cả thời gian mà mọi sự biến thiên của thực tế là siêu hình, giáo
điều và duy tâm. Quan niệm đó là hoàn toàn xa lạ với quan niệm mác xít, khẳng định
tính lịch sử của đạo đức trong tác phẩm Chống Đuyrinh, Ăngghen đã chỉ ra rằng:
"Chung quy lại thì mọi thuyết đạo đức đã có từ trước tới nay đều là sản phẩm của
tình hình kinh tế xã hội lúc bấy giờ" [2, 63].
Trong các xã hội có sự phân chia thành giai cấp, đạo đức luôn mang tính giai
cấp. Trong xã hội nguyên thủy, khi lực lượng sản xuất còn kém phát triển, con người
phải nương tựa vào nhau và sống nhờ vào những ân huệ của giới tự nhiên, thì sự
thông cảm và tinh thần tương trợ cũng như công bằng và sự bình đẳng được coi là
công cụ tự bảo vệ, là điều kiện để tồn tại và là chuẩn mực đạo đức của xã hội đó.
Sự xuất hiện xã hội có giai cấp, dẫn tới sự phá vỡ ý thức đạo đức thống nhất
vốn có của xã hội nguyên thủy và hình thành một nền đạo đức khác, mở đầu cho lịch
sử, đó là một nền đạo đức của tương lai, một nền đạo đức mang tính nhân văn cao cả.
Đạo đức vô sản, đạo đức cộng sản chủ nghĩa biểu hiện sự sáng tạo mang tính
quần chúng rộng rãi. Các giá trị đạo đức này mang ý nghĩa cao cả, vì nó là những sản
phẩm sáng tạo của con người và vì con người. Những giá trị ấy nói lên bản chất sáng
tạo của trí tuệ, của ý thức danh dự, của lòng dũng cảm và những phẩm chất cao quý
của con người. Nền đạo đức ấy vừa là sản phẩm của nền sản xuất xã hội đầy sáng tạo
và nhân văn, vừa là động lực thúc đẩy xã hội phát triển.
Đạo đức cộng sản chủ nghĩa là đạo đức mới, là nền đạo đức mà chúng ta hiện
nay đang hướng tới và xây dựng.
Là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức một mặt được hình thành một cách tự
phát, từ chính cuộc sống hàng ngày của con người để đáp ứng đòi hỏi khách quan
của sinh hoạt cộng đồng. Mặt khác, đạo đức phải là kết quả của sự giáo dục và tự
giáo dục, tự rèn luyện của mỗi cá nhân theo các chuẩn mực giá trị đạo đức của xã
hội.
Giáo dục theo nghĩa chung nhất, đó là hoạt động nhằm tác động một cách có
hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối
tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra.
Giáo dục nói chung, giáo dục đạo đức nói riêng là một quá trình bao gồm hai
mặt, một mặt đó là sự tác động từ bên ngoài vào đối tượng giáo dục, mặt khác thông
qua sự tác động này làm cho đối tượng tự biến đổi bản thân mình, tự hoàn thiện, tự
nâng mình lên qua giáo dục.
Đạo đức, nhất là đạo đức của lứa tuổi học sinh phổ thông trung học được hình
thành chủ yếu bằng con đường giáo dục. Giáo dục đạo đức góp phần chuyển các
quan niệm đạo đức từ tự phát sang tự giác, từ bị động sang chủ động, không ngừng
nâng cao trình độ nhận thức các giá trị đạo đức cho mỗi người, từ trình độ nhận thức
thông thường lên trình độ nhận thức khoa học. Nhận thức thông thường hình thành
do ảnh hưởng trực tiếp của những điều kiện sinh hoạt hàng ngày mang lại, nó phản
Nhận thức được vai trò của đạo đức mới, cũng như tác dụng to lớn của công
tác giáo dục đạo đức trong việc hình thành đạo đức mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh và
Đảng ta đã sớm quan tâm đến công tác này, nhất là giáo dục đạo đức trong các
trường học.
Hiện nay, trước nhiều biến động phức tạp của đạo đức trong xã hội, trước sự
suy thoái về đạo đức của một bộ phận thanh niên học sinh trong các trường học,
trong chiến lược chăm lo phát triển nguồn lực con người của Đại hội VIII, Đảng ta
đã khẳng định: "Cùng với đổi mới nội dung giáo dục theo hướng cơ bản, hiện đại,
phải tăng cường giáo dục công dân, giáo dục thế giới quan khoa học, lòng yêu nước,
ý chí vươn lên vì tương lai của bản thân và tiền đồ của đất nước" [7, 29].
1.1.2. Điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan trong giáo dục đạo đức
cho học sinh phổ thông trung học
Điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan: Các khái niệm "điều kiện khách
quan" và "nhân tố chủ quan" được hình thành và phát triển trong quá trình nghiên
cứu hoạt động thực tiễn của con người. Vì vậy, để làm sáng tỏ nội dung của các khái
niệm trên, trước hết cần phải xác định rõ nội dung của các khái niệm có liên quan
trực tiếp tới hoạt động của con người. Đó là khái niệm "chủ thể" và "khách thể".
Trong hoạt động thực tiễn, con người đối lập với thế giới vật chất khách quan
như là đối tượng bên ngoài mà họ cần tác động và cải tạo, nhằm thỏa mãn những nhu
cầu và lợi ích của mình. ở đó, con người là chủ thể hoạt động. Những đối tượng chịu
sự tác động của con người chính là khách thể bị cải tạo. Con người với tư cách là
một chủ thể được hiểu có thể hoặc là toàn thể nhân dân, hoặc là một giai cấp, hoặc
một nhóm người, hoặc là một cá nhân nào đó. Còn khách thể là toàn bộ hiện thực
khách quan tồn tại không lệ thuộc vào ý thức của chủ thể, được chủ thể sử dụng với
tư cách là đối tượng hoạt động thực tiễn của mình.
Các khái niệm: chủ quan và chủ thể, khách quan và khách thể quan hệ gắn bó
chặt chẽ, nhưng không đồng nhất với nhau. Nhân tố chủ quan, về thực chất, là những
chứng minh, luận giải chặt chẽ. Vì có sự hiểu biết, họ có khả năng tranh luận, khả
năng tìm tòi đọc thêm sách báo, các nguồn thông tin khác để bổ sung cho tri thức của
mình. Sự phát triển hoàn chỉnh về tâm sinh lý cũng cho phép họ có khả năng tự tìm
hiểu, tự nghiên cứu những vấn đề chính trị xã hội. Học sinh ở lứa tuổi thanh niên
thích sinh hoạt cộng đồng, thích giao lưu. Vì vậy, họ tự nguyện và tích cực tham gia
các hoạt động đoàn thể, hoạt động lớp, các lễ hội, hoạt động chính trị xã hội, và
chính qua các hoạt động đó, họ được rèn luyện năng lực thực tiễn. ở họ, không có
tính bảo thủ, trì trệ như người lớn tuổi. Vì vậy, họ dễ thích ứng với đường lối đổi
mới, dễ thích ứng với các chủ trương, chính sách mới. Vì họ quan tâm đến tương lai,
luôn hướng về tương lai nên họ cũng rất quan tâm đến những vấn đề lớn của đất
nước, của thời cuộc. Điều đó giúp họ xác định phương hướng tiến thân lập nghiệp.
Khả năng cảm thụ xúc cảm, đồng cảm của họ phát triển cao, do vậy họ cởi
mở để hòa nhập, thích những hình thức hoạt động văn hóa nghệ thuật, dễ cảm thông
với người khác. ở họ, kinh tế chưa độc lập, còn phụ thuộc gia đình. Vì vậy, họ coi
trọng các quan hệ xã hội, coi trọng gia đình, tích cực học tập, tích cực học thêm.
Những kiến thức họ được học ở phổ thông có tính chất cơ bản, phổ cập không bị gián
đoạn, chưa va chạm trong thực tế, nên khi học ở phổ thông trung học đảm bảo tính
liên thông, tính kế thừa và phát triển. Khi học ở phổ thông, họ đã ý thức được vị trí
của mình qua các chủ trương chính sách, quy định, quy chế hiện hành. Vì vậy họ
phải có sự tự điều chỉnh, tự rèn luyện, sự vươn lên trong môi trường phổ thông trung
học. Những sự tác động trên đã đưa họ vào những hoạt động cụ thể một cách tích cực
như: nghe nói chuyên đề về chế độ chính sách pháp luật, tham gia lao động công ích,
tham gia hoạt động văn hóa văn nghệ, quyên góp từ thiện, ủng hộ Bà mẹ Việt Nam
anh hùng, tìm hiểu về Đảng, Bác Hồ
Vì có hoài bão, ước mơ, có lý tưởng chính trị và ý chí vươn lên, nên học sinh
đa số đã tích cực phấn đấu vào Đoàn, tuy nhiên đặc điểm của lứa tuổi cũng có những
mặt hạn chế tác động đến tuổi trẻ học sinh.
thức, thiếu thực tế, bệnh cá nhân, bệnh "anh hùng".
Ngoài sự tác động của các đặc điểm tâm lý lứa tuổi, đạo đức của học sinh
phổ thông trung học còn chịu ảnh hưởng không nhỏ của các điều kiện kinh tế - xã hội
khác.
Nhờ đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa quan trọng qua 15 năm đổi
mới, đất nước ta không những đã ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội nghiêm
trọng mà còn tăng trưởng kinh tế nhanh.
Nhiều công trình kết cấu hạ tầng và cơ sở công nghiệp trọng yếu được xây
dựng, tạo thêm nhiều công ăn việc làm, đời sống vật chất của đại bộ phận nông dân
được cải thiện. Nhờ vậy nhiều gia đình học sinh đã có mức sống cao hơn, học sinh
khi tốt nghiệp ra trường có thêm điều kiện xin việc làm, ăn uống tuy chất lượng chưa
cao nhưng số lượng có thể đảm bảo, nhiều học sinh có khả năng đã theo học nhiều
lớp nghề, bổ túc kiến thức về chuyên môn, một số học sinh vẫn có thể làm tiếp việc
nhà, hình thức ăn mặc phong phú, màu sắc đa dạng hơn trước, đa số có phương tiện
đi lại riêng.
Sự tác động của những mặt trên đã làm cho nhân dân và học sinh phấn khởi,
lòng tin và sự gắn bó với Đảng, với chế độ được củng cố. Con đường độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội, mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh đã
bước đầu khơi dậy ở học sinh những lý tưởng và hoài bão cao đẹp. Nhờ thành tựu
kinh tế, họ thấy được sự đúng đắn của đường lối đổi mới và ý thức sâu sắc hơn về
mối quan hệ gắn bó giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thấy được tầm quan
trọng của nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong thời kỳ quá độ và
trách nhiệm học tập của mình.
Mặt khác, cơ chế thị trường trong mấy năm gần đây cũng ảnh hưởng không
nhỏ đến việc hình thành đạo đức của học sinh. Cơ chế thị trường đã gây ra sự phân
hóa giàu nghèo, xuất hiện sự bất công trong xã hội "kẻ ăn không hết, người lần
không ra", lối sống chạy theo sự sùng bái của đồng tiền, Nhiều thanh niên học sinh
luyện,
Nhân tố chủ quan trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông
trung học là nói tới những người, những tổ chức với tất cả ý chí, tình cảm và năng lực
của họ tham gia vào công tác này.
Nói đến nhân tố chủ quan trong công tác giáo dục cho học sinh phổ thông
trung học, trước hết phải nói đến đội ngũ giáo viên.
Đội ngũ giáo viên là đội ngũ những người thầy giáo, cô giáo làm việc trong
ngành giáo dục. Hiểu theo nghĩa hẹp hơn, họ là những người trực tiếp làm nhiệm vụ
giảng dạy hoặc tham gia vào quá trình giáo dục trong các trường học.
Giáo viên là nhân tố quan trọng nhất quyết định chất lượng của giáo dục.
Khẳng định điều đó, Điều 14 Luật Giáo dục đã chỉ rõ: Nhà giáo giữ vai trò quyết
định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục, giáo viên đóng vai trò chủ đạo trong
quá trình sư phạm, trong các hoạt động đa dạng của học sinh. Nhà giáo phải không
ngừng học tập, rèn luyện nêu gương tốt cho nguời học.
Để xứng đáng vị trí và vai trò của mình trong công tác giáo dục ở nhà trường,
người giáo viên phải có đủ năng lực và phẩm chất đáp ứng những yêu cầu sau:
- Giáo dục, giảng dạy theo mục tiêu, nguyên lý, chương trình giáo dục.
- Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và
điều lệ của nhà trường.
- Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo, tôn trọng nhân cách của
người học, đối xử công bằng với người học, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng
của người học.
- Không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ
chuyên môn nghiệp vụ, nêu gương tốt cho người học.
Người giáo viên trong các trường học không chỉ có nhiệm vụ truyền đạt cho
học sinh những kiến thức, kỹ năng lao động thực hành mà còn phải là một tấm
gương, một mẫu mực về đạo đức, về giáo dục đạo đức cho người học.
sinh không được phân tích định hướng kịp thời. Nhận thức không đầy đủ đúng đắn
lại bị thực tiễn diễn ra đầy mâu thuẫn, đảo lộn chân lý trong cuộc sống xã hội và
ngay trong cuộc sống nhà trường. Hiện tượng dùng tiền để thay cho việc học, dùng
tiền để mua bằng cấp, lấy sự quen biết móc ngoặc để kiếm chác. Kể cả cho kẻ lười
biếng, dốt nát lại đỗ đạt qua các kỳ thi mà còn được học bổng, khiến cho người chăm
chỉ, học lực giỏi nản lòng, khiến cho một số thanh niên học sinh suy nghĩ nông cạn,
ưa hưởng thụ mà ngại học hành, làm việc, lấy cái đó mà làm cái cớ bào chữa cho sự
lười học, để đến các kỳ thi dùng thủ thuật để quay cóp
Trong những năm qua, mặc dù có nhiều khó khăn về kinh tế, các thầy cô giáo
đã cố gắng làm thêm bằng nhiều hình thức để tăng thêm thu nhập nâng cao đời sống,
nhưng vẫn giữ nếp sống mẫu mực của người thầy giáo, không ít thầy cô giáo tận tâm
với nghề nghiệp, say mê nghiên cứu, đọc thêm sách biên soạn giáo trình, giáo án có
chất lượng. Nhưng trong các trường phổ thông trung học hiện nay vẫn có những giáo
viên chăm việc dạy ngoài, dạy thêm hơn là việc giảng dạy trong chương trình nội
khóa, còn số giáo viên lâu năm trong nghề mà ít đọc thêm sách chuyên môn, hiện
tượng tổ chức quản lý học sinh trong những năm gần đây bị buông lỏng uy tín,
nhân cách, tác phong, thái độ của người giáo viên cũng để lại dấu ấn mạnh mẽ trong
ký ức học sinh và góp phần thuyết phục học sinh trong sự tiếp nhận nội dung bài
giảng, đó là sự tín nhiệm của đồng nghiệp, của dư luận, sự đàng hoàng, chững chạc
trong cuộc sống. Trong ăn mặc, nói năng, cư xử, sự tin tưởng vào bản thân mình và
những vấn đề do chính mình truyền đạt, sự am hiểu để có thể giải đáp hoặc cùng học
sinh trao đổi, bàn luận những vướng mắc ở họ. Chỉ cần một chi tiết nhỏ thể hiện sự
lạc hậu thông tin cũng đủ làm lung lay uy tín của người thâỳ. Có trường hợp cuộc
sống của thầy quá nghèo, cách ăn mặc thường không đàng hoàng chững chạc (áo cho
ra ngoài quần, chân đi dép lê v.v ), bài giảng nhạt nhẽo, chỉ cốt đọc cho trò ghi, về
nhà phải làm thêm, không có thời gian đọc sách nghiên cứu v.v Hoặc cũng có giáo
viên khi giảng giáo dục công dân thì thao thao bất tuyệt, nhưng lại luôn luôn xen vào
tin, tình cảm đạo đức cho học sinh. Trên cơ sở tri thức ấy, họ có cách nhìn về thế giới
và rèn luyện cho mình nề nếp xem xét con người, cuộc sống xung quanh theo
phương pháp khoa học. Như vậy, hoạt động giảng dạy và hoạt động trong nhà trường
không những phát triển năng lực trí tuệ, mà thông qua việc bồi dưỡng trí tuệ phải
nhằm giáo dục thế giới quan, hình thành niềm tin tư tưởng, quan điểm sống tích cực
tạo ra một chất lượng về lối sống, nghĩa là tạo ra một hệ thống giá trị nhân cách. Đặc
biệt là bộ môn giáo dục công dân góp phần tích cực, trực tiếp vào việc xây dựng thế
giới quan, đạo đức cộng sản cho thanh niên học sinh.
Ngoài ra, các môn học khác giúp cho học sinh nắm được quy luật của mối
quan hệ giữa các nhóm xã hội, các giai cấp, các tầng lớp khác nhau trong xã hội, sử
học cung cấp kiến thức về quy luật vận động của các chế độ xã hội trong quá khứ,
trong đó có các trào lưu tư tưởng chính trị trong lịch sử v.v và bản thân giáo viên
môn học bộc lộ thái độ chính trị qua bài giảng, qua liên hệ, qua tiếp xúc với học sinh.
Nói đến nhân tố chủ quan trong giáo dục còn phải nói tới hình thức giáo dục,
phương pháp giáo dục. Hình thức giáo dục là loại hình tổ chức để thực hiện quá trình
giáo dục một cách có hiệu quả tùy thuộc vào mục đích, yêu cầu và nội dung giáo dục.
Thông qua hình thức giáo dục mà các phương pháp giáo dục được thực hiện, phương
pháp giáo dục là cách thức chuyển tải, cách thức tác động để đưa được nội dung giáo
dục từ chủ thể giáo dục tới người tiếp nhận giáo dục, hiện nay đang tồn tại các hình
thức giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục thông qua hoạt động đoàn thể chủ yếu là
đoàn thanh niên, hội thanh niên hình thức tự giáo dục của học sinh, do học sinh tự
quản. Chẳng hạn, việc giáo dục ngoại khóa của nhà trường cũng giúp học sinh nắm
được sâu sắc các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, các diễn
biến, các sự kiện chính trị trong và ngoài nước xác định được lợi ích, phương hướng,
chính trị của bản thân, nâng cao hiểu biết và kỹ năng thực hành chính trị. Nội dung
công việc như tập trung chỉ đạo học chính trị đầu năm cho học sinh gồm tình hình
nhiệm vụ chung, tình hình nhiệm vụ năm học mới, đường lối, chính sách của Đảng
học còn là nơi giáo dục cho đoàn viên thể hiện được tính tiên phong gương mẫu, tích
cực trong hoạt động chính trị, rèn luyện để trở thành những người đảng viên. Đoàn
cần phối hợp hoạt động với nhà trường đảm bảo quyền làm chủ của học sinh, động
viên được học sinh quan tâm đến các công việc xã hội hóa. Đoàn thanh niên, một mặt
có chức năng tham mưu cho lãnh đạo trên cơ sở nắm bắt được tình hình tư tưởng
chính trị của học sinh để đề xuất những chủ trương, biện pháp có tính định hướng
giáo dục cao, tác động đến học sinh qua các hoạt động ngoài thời gian lên lớp hoặc
kết hợp với giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn tác động đến học sinh thông qua
các môn học để xác lập phương hướng chính trị đúng, đảm bảo sự ổn định về tư
tưởng, tạo được nề nếp, kỷ cương trong học tập, sinh hoạt nhằm thực hiện mục tiêu
đào tạo. Vì vậy, người cán bộ Đoàn hoạt động trong nhà trường không chỉ là người
hiểu biết về chính trị mà còn phải hiểu về giáo dục, về tâm lý thanh niên, về văn hóa
nghệ thuật, v.v Họ không chỉ là người đề xuất mà còn là người biết tổ chức, biết
phối hợp, biết quản lý các hoạt động chính trị xã hội trong nhà trường, công việc của
họ, vừa mang tính chất quản lý, vừa mang tính chất trực tiếp giáo dục, đồng thời lại
mang tính chất phong trào, gần gũi với học sinh, không bị cách biệt bởi tính "mô
phạm" của người thầy, nên ảnh hưởng của họ đối với học sinh cũng rất trực tiếp và
quan trọng trong việc hình thành niềm tin, bản lĩnh và khả năng thực hành chính trị.
Cái mà họ mang đến cho học sinh thường phù hợp với nhu cầu, sở thích của học
sinh, nhất là các hoạt động văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao, câu lạc bộ sở thích
v.v Họ thường đảm đương việc truyền đạt cho học sinh về đường lối chính sách,
tình hình thời sự trong nước, ngoài nước, nội quy, quy chế của nhà trường, các hoạt
động văn hóa, thể dục thể thao, thực hành thường là phối hợp với đoàn thanh niên,
hội thanh niên để cùng thực hiện. Có thể nói, những tri thức mà học sinh đã học ở
các môn lý luận được bổ sung hoàn thiện, được cụ thể hóa, được làm phong phú
thêm, được vận dụng vào thực tiễn, được củng cố là thông qua các hoạt động đa dạng
này.
đạo đức của từng người con. Tục ngữ Việt Nam có câu: "Cha nào con nấy", "giỏ nhà
ai, quai nhà nấy", "Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh" Nếu gia đình
hòa thuận, bố mẹ có cuộc sống vật chất đầy đủ, đời sống tinh thần lành mạnh, phong
phú, ham học hỏi, chuộng tri thức, biết cư xử một cách hợp lý, sống hòa thuận, đức
độ với mọi người, luôn luôn lạc quan, yêu đời; thường xuyên quan tâm, chăm lo đến
sự tiến bộ của con cái thì con cái dễ thành đạt trong học tập, trên con đường công
danh. Ngược lại, nếu gia đình bất hòa, ly tán, đời sống tinh thần nghèo nàn, "văn hóa
gia đình" ở trình độ thấp, thiếu tình thương yêu, đùm bọc lẫn nhau sẽ làm ảnh
hưởng xấu đến sự phát triển đạo đức của con cái. Dưới tác động của nền kinh tế thị
trường, với chính sách đối ngoại mở rộng, hội nhập với nền kinh tế và văn hóa thế
giới, bên cạnh mặt tích cực cần được khẳng định, bản thân kinh tế thị trường cũng có
mặt trái của nó, làm nảy sinh nhiều mặt tích cực: có sự xuống cấp về mặt đạo đức do
đề cao sức mạnh của đồng tiền, đặt quyền lợi cá nhân lên trên mọi đạo lý trong quan
hệ giữa các thành viên gia đình, giữa họ hàng thân tộc. ở một số gia đình, sự thiếu
gương mẫu của cha mẹ trong cách làm ăn, kiếm tiền, trong lối sống, đã có tác động
xấu đến sự hình thành và phát triển thành phần đạo đức trong cấu trúc nhân cách của
con cái. Vai trò to lớn của gia đình trong việc giáo dục con cái thể hiện một cách rõ
nét nhất trong việc gia đình biết định hướng giá trị đúng cho các con để họ phấn đấu
vươn lên trong cuộc sống, trở thành những người có ích cho gia đình và xã hội.
Trong thực tế có nhiều gia đình, bố mẹ tuy trình độ học vấn thấp, thậm chí
rất thấp, song họ lại là những người "hiểu biết", nắm bắt được những định hướng giá
trị xã hội chủ yếu, biết nuôi dạy con cái, biết hướng con cái hành động theo những
chuẩn mực đạo đức chân chính, dành hết tình cảm và công sức nuôi dạy con cái, đầu
tư cho con cái học tập để con cái nên người và làm người. Nhiều và rất nhiều những
người con sinh ra trong những hoàn cảnh khó khăn về kinh tế, nhưng được sự chăm
sóc chu đáo và đúng mực của các bậc phụ huynh, họ đã trưởng thành một cách nhanh
chóng, đem lại niềm tin và sự tự hào, hiển vinh và sự tôn trọng cho cha mẹ. Đây là
mức độ vi phạm nội quy và học sinh hư chủ yếu là vi phạm luật pháp, qua theo dõi từ
1996 - 2000 giảm ở trong nhà trường từ gần 3,2% xuống 1,8%. Cùng với những ưu
điểm và thiếu sót, bộc lộ khá cơ bản ở lứa tuổi thanh niên học sinh phổ thông trung
học, cần phải nhìn nhận và hiểu cho thấu đáo những mong muốn, những tâm tư
nguyện vọng của lớp trẻ, họ rất mong muốn một xã hội công bằng, một sự gương mẫu
của người lớn, mong muốn được giáo viên đối xử công bằng, họ coi thường những
giáo viên thiếu nhân cách, những cán bộ học sinh, cán bộ đoàn thiếu gương mẫu.
Trong một số trường hợp bị giáo viên "trù dập" "dồn đến chân tường", học sinh phản
ứng lại liều lĩnh, gây ra những hậu quả đáng tiếc.
Đánh giá thực trạng đạo đức của học sinh không thể không nói tới công tác
giáo dục đạo đức hiện nay
Các hoạt động giáo dục ngoài nhà trường đối với học sinh phổ thông trung
học; cái được là từ hè 1996 cơ chế tổ chức hoạt động cho đoàn, hội thanh niên được
hình thành và bước đầu hoạt động có hiệu quả. Hoạt động này kéo theo sự hình thành
một bộ phận phụ trách để quản lý, điều hành hoạt động của đoàn thanh niên, đồng
thời tổ chức hoạt động cho chính học sinh phổ thông trung học. Các chi đoàn, đội cờ
đỏ của học sinh cũng được hình thành và tiến hành hoạt động trong một thời hạn nhất
định, thời gian chủ yếu trong ba tháng hè. Trong thực tế đã xuất hiện những mô hình
tốt được khẳng định, hội học sinh phổ thông trung học các trường Nguyễn Trung