Chuyên đề tài chính ngân hàng
GVHD: Th.S Trần Bá Trí SVTH: Huỳnh Thị Thùy Trang Trang
1
Luận văn Tìm hiểu tình hình huy động nguồn vốn
của các ngân hàng Việt Nam hiện nay
càng mạnh mẽ. Các ngân hàng quốc doanh phát triển nhanh chóng và cùng với
sự ra đời của đông đảo các ngân hàng cổ phần, các chi nhánh ngân hàng nước
ngoài. Hệ thống ngân hàng Việt Nam đã bước vào giai đoạn tăng trưởng, đáp ứng
nhu cầu phát triển của khu vực kinh tế tư nhân đang bắt đầu khởi động mạnh mẽ.
Do sự hội nhập ngày càng sâu rộng của nền kinh tế Việt Nam vào thế giới
nên Việt Nam chịu những tác động nhất định, tuy không trực tiếp. Điều này sẽ
ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường chứng khoán và quá trình cổ phần hóa các
doanh nghiệp nhà nước lớn trong các năm tới. Việc huy động vốn thông qua thị
trường vốn khó khăn trong khi thị trường tín dụng thắt chặt sẽ chặn dòng vốn và
đẩy chi phí tài chính của các doanh nghiệp lên cao.
Chuyên đề tài chính ngân hàng
GVHD: Th.S Trần Bá Trí SVTH: Huỳnh Thị Thùy Trang Trang
3
Do đó, các doanh nghiệp sẽ đồng loạt rút các nguồn vốn gửi từ ngân hàng,
làm cho nguồn tài chính trong các ngân hàng mất cân đối. Ngoài ra, vấn đề lạm
phát và bùng phát nợ xấu sẽ ảnh hưởng đến hệ thống ngân hàng và toàn bộ nền
kinh tế. Vì vậy đề tài “tìm hiểu tình hình huy động nguồn vốn của các ngân
hàng Việt Nam hiện nay” cần thiết được nghiên cứu.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Phân tích, đánh giá, so sánh tình hình huy động nguồn vốn ở các ngân hàng
Việt Nam qua các năm 2007 và năm 2008 và những tháng đầu năm 2009. Qua
đó, xem xét tác động của nó đã ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động, tình hình
huy động nguồn vốn của các ngân hàng Việt Nam ở hiện tại và trong tương lai.
Từ đó, đưa ra biện pháp can thiệp nhằm khắc phục và hạn chế sự ảnh hưởng đến
lượng vốn trong ngân hàng, nhằm ổn định cho các doanh nghiệp vay ở để nền
kình tế hoạt động ổn định và ngày càng phát triển trong thời gian tới.
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Thu thập số liệu: số liệu thứ cấp thể hiện ở các ngân hàng qua các năm
2006, 2007, 2008 và những tháng đầu năm 2009.
- Phân tích, so sánh số liệu qua các năm nhằm thấy rõ được sự tác động của
trong dân cư.
2.2.1.1. Tiền gửi của các tổ chức kinh tế
Là số tiền tạm thời nhàn rỗi phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh
của các đơn vị được gửi tại Ngân hang. Nó bao gồm một bộ phận vốn tiền tạm
thời nhàn rỗi được giải phóng ra khỏi quá trình luân chuyển vốn nhưng chưa có
nhu cầu sử dụng vốn hoặc sử dụng cho những mục tiêu định sẳn vào một thời
điểm nhất định. Các tổ chức kinh tế thường gửi tiền vào Ngân hàng dưới các hình
thức sau:
a) Tiền gửi không kỳ hạn: Là loại tiền gửi mà khách hàng gửi tiền và rút
tiền bất cứ lúc nào mà không cần báo trước cho Ngân hàng.
- Khi gửi tiền khách hàng được hưởng lãi suất, góp phần tăng thêm lợi
nhuận cho khách hàng. Mặt khác, khi có nhu cầu sử dụng thì khách hàng chủ
Chuyên đề tài chính ngân hàng
GVHD: Th.S Trần Bá Trí SVTH: Huỳnh Thị Thùy Trang Trang
5
động rút ra, nên vẫn thỏa mãn nhu cầu về vốn sản xuất kinh doanh của họ. Ngoài
ra, khách hàng còn được phép sử dụng tiền gửi để phục vụ cho công tác thanh
toán không dùng tiền mặt qua Ngân hàng.
- Mặc dù đối với loại tiền gửi này, người gửi tiền có thể gửi tiền và rút tiền
bất cứ lúc nào, song giữa việc gửi tiền và rút tiền có sự chênh lệch về thời gian và
số lượng nên trên các loại tài khoản này luôn có số dư, Ngân hàng có thể huy
động số dư đó làm nguồn vốn tín dụng để cho vay.
b) Tiền gửi có kỳ hạn: Là loại tiền gửi mà khi khách hàng gửi tiền có sự
thỏa thuận về thời hạn rút tiền giữa Ngân hàng và khách hàng.
- Tiền gửi có kỳ hạn: là nguồn vốn mang tính chất ổn định, Ngân hàng có
thể sử dụng loại tiền gửi này một cách chủ động để làm nguồn vốn kinh doanh.
Vì vậy, để khuyến khích khách hàng gửi tiền, các Ngân hàng thường đưa ra
nhiều loại kỳ hạn khác nhau để đáp ứng nhu cầu gửi tiền của khách hàng. Thông
thường có các loại kỳ hạn như sau: 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 12 tháng,… với
mỗi kỳ hạn Ngân hàng áp dụng mỗi mức lãi suất khác nhau phù hợp theo nguyên
thương mại sẽ được Ngân hàng Trung Ương cho vay vốn.
- Việc vay vốn của Ngân hàng Trung Ương đối với các Ngân hàng thương
mại thông qua hình thức tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng có đảm bảo của
Ngân hàng Trung Ương nhằm cung cấp vốn ngắn hạn và các phương tiện thanh
toán cho các Ngân hàng thương mại. Ngân hàng Trung Ương thực hiện tái cấp
vốn cho các Ngân hàng thương mại thông qua các hình thức sau:
+ Cho vay theo hồ sơ tín dụng.
+ Chiết khấu các chứng từ có giá trị ngắn hạn.
+ Cho vay có đảm bảo bằng cầm cố các chứng từ có giá.
2.2.4. Lãi suất huy động vốn.
Là lãi suất mà các tổ chức tín dụng sử dụng để huy động vốn cho các mục
tiêu hoạt động kinh doanh của mình như: lãi suất tiền gửi không kỳ hạn (LKK),
lãi suất tiền gửi có kỳ hạn (LCK), lãi suất tiền gửi của các tổ chức kinh tế (LTC),
lãi suất tiền gửi của dân cư (LDC).
Theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, thì các Ngân hàng thương mại
không được huy động vốn vượt mức 20% so với vốn điều lệ của Ngân hàng.
Chuyên đề tài chính ngân hàng
GVHD: Th.S Trần Bá Trí SVTH: Huỳnh Thị Thùy Trang Trang
7
CHƯƠNG 3
TÌM HIỂU TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÁC NGÂN HÀNG
VIỆT NAM HIỆN NAY
3.1. CÁC THỊ TRƯỜNG MỤC TIÊU CỦA NGÂN HÀNG
Do nét đặc thù về sản phẩm và mục tiêu kinh doanh của Ngân hàng nên ta
có thể chọn thị trường ra thành các nhóm có những nét đặc trưng khác nhau:
3.1.1 Nhóm khách hàng truyền thống
Nhóm khách hàng truyền thống là những đơn vị xây lắp, đơn vị sản xuất
kinh doanh vật liệu xây dựng: Với đặc điểm là tỉnh mới thành lập, cơ sở hạ tầng
còn thiếu thốn, nên việc đầu tư nâng cấp, sửa chữa và xây dựng mới là nhu cầu
rất cần thiết.
pháp tích cực để thực hiện tốt công tác huy động vốn có hiệu quả, góp phần thúc
đẩy Ngân hàng kinh doanh ngày càng có hiệu quả hơn.
Để hiểu rõ hơn về tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng trong
năm qua tôi phân tích từng mặt, từng lĩnh vực hoạt động.
3.2. TÌM HIỂU TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG NGUỒN VỐN CỦA CÁC NGÂN
HÀNG
3.2.1. Tình hình hoạt động của hệ thống ngân hàng nước ta trong thời
gian qua
Trong thời gian qua, hệ thống ngân hàng nước ta có 6 ngân hàng thương
mại nhà nước, 37 ngân hàng thương mại cổ phần, 31 chi nhánh ngân hàng nước
ngoài, 6 ngân hàng liên doanh, 6 công ty tài chính và 10 công ty cho thuê tài
chính, 926 tổ chức tín dụng nhân dân và 46 văn phòng đại diện của các ngân
hàng nước ngoài. Hơn nữa, hiện nay ngân hàng nhà nước đã chấp nhận về
nguyên tắc cho ra đời thêm 4 ngân hàng nhà nước cổ phần, càng chứng tỏ hệ
thống ngân hàng đang vững mạnh hơn. Nếu so với cách đây hơn chục năm thì
đây quả là một sự trưởng thành vượt bậc.
Thứ nhất, hệ thống ngân hàng đã huy động và cung cấp một lượng vốn khá
lớn cho nền kinh tế, ước tính hàng năm chiếm khoảng 16-18% GDP, gần 50%
vốn đầu tư toàn xã hội. Tăng trưởng tín dụng liên tục tăng trong các năm và năm
2006 ước tăng khoảng 24%, cao hơn mức 19% năm 2005. Hệ thống ngân hàng
cũng có nhiều đóng góp cho tăng trưởng, phát triển và ổn định nền kinh tế trong
những năm qua. Chuyên đề tài chính ngân hàng
GVHD: Th.S Trần Bá Trí SVTH: Huỳnh Thị Thùy Trang Trang
9
HÌNH 1: TỐC ĐỘ TĂNG DƯ NỢ TÍN DỤNG QUA CÁC NĂM
(Nguồn: Báo cáo thông tin Ngân hàng Nhà nước)
đồng, số dư huy động vốn tăng trên 32,5% so với năm 2005. Như vậy, tổng số dư
vốn huy động chỉ ở riêng hai thành phố nói trên sẽ bằng số dư vốn huy động của
các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng tăng trưởng nhanh trong năm
2006. Nguyên nhân mức huy động vốn của ngân hàng ở hai thành phố lớn tăng là
do:
Thứ nhất: Thu nhập của người dân ngày càng cải thiện. Nhiều gia đình,
nhiều người có nhu cầu tích lũy, nguồn tiết kiệm bằng tiền lớn. Thực tế này
không chỉ thấy qua kênh tiền gửi ngân hàng, mà còn thấy một lượng vốn không
nhỏ của người dân đầu tư mua chứng khoán, mua cổ phiếu trên thị trường OTC,
mua cổ phiếu của các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa, mua bảo hiểm nhân
thọ,…Nhưng kênh ngân hàng vẫn là nơi thu hút vốn trong dân lớn nhất.
Thứ hai: Trong các kênh để dành và tiết kiệm: mua vàng, cất trữ ngoại tệ
trong nhà và gửi Đồng Việt Nam tại ngân hàng, thì kênh đầu tư vào tiền gửi ngân
hàng là sự lựa chọn tối ưu và minh bạch hơn cả.
Thứ ba: Sau hơn 20 năm đổi mới đất nước, gần 18 năm đổi mới hoạt động
ngân hàng, thay cho để dành dưới nhiều hình thức khác nhau tại nhà hay trong
dân cư. Hệ thống ngân hàng ngày càng vững mạnh.
Thứ tư: dịch vụ ngân hàng hiện đại và tiện ích, các loại tiền gửi đa dạng
như tiền gửi bậc thang, tiền gửi với lãi suất lũy tiến, tiền gửi ngắn hạn,…tạo sự
thuận lợi lựa chọn cho khách hàng và doanh nghiệp.
Thứ năm: Lãi suất tiền gửi hấp dẫn và được điều chỉnh linh hoạt theo diễn
biến của thị trường. Đặc biệt lãi suất tiền gửi USD của các ngân hàng thương mại
nước ta thường xuyên được điều chỉnh tăng theo xu hướng tăng lên của lãi suất
Chuyên đề tài chính ngân hàng
GVHD: Th.S Trần Bá Trí SVTH: Huỳnh Thị Thùy Trang Trang 11
USD trên thị trường quốc tế, với mức tăng khoảng 0,5% - 0,55% năm trong năm
2006. Vốn huy động tăng nhanh đó là xu hướng tích cực và đáng mừng. Vốn
nhàn rỗi trong dân cư được huy động tối đa vào các tổ chức trung gian tài chính
từ đó đầu tư cho các nhu cầu phát triển kinh tế.
Năm 2007 tiếp tục là một năm sôi động của ngành ngân hàng Việt Nam
Chuyên đề tài chính ngân hàng
GVHD: Th.S Trần Bá Trí SVTH: Huỳnh Thị Thùy Trang Trang 12
lãi suất, dẫn đến sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng và gây ảnh
hưởng đến nền kinh tế trong bối cảnh chỉ số tiêu dùng đang ở mức cao.
Năm 2008 được đánh giá là một năm đầy khó khăn và với ngành ngân
hàng. Từ đầu năm đến nay, sự biến động của nền kinh tế trong và ngoài nước đã
tác động mạnh mẽ đến hoạt động sản xuất kinh doanh của ngân hàng, nguyên
nhân là do:
* Lạm phát: Đầu năm phải đối mặt với lạm phát tăng cao (theo tính tóan sơ
bộ lạm phát năm nay của Việt Nam là 24%) do đó việc thắt chặt tiền tệ đã gây
khó khăn không nhỏ cho ngân hàng. Thứ nhất: họ phải tăng lãi suất vay vì thế
cho nên phải tăng lãi suất cho vay. Lãi suất cho vay quá cao khiến càng ít doanh
nghiệp vay vốn, làm cản trở đến việc kinh doanh của ngân hàng. Thứ hai: Do lãi
suất cao nên khả năng hoàn trả của các con nợ bị giảm sút, việc thu hồi nợ khó
khăn hơn, các khoản nợ xấu gia tăng, làm tăng khả năng rủi ro của các ngân
hàng. Thứ ba: Do lý do thứ hai nên các ngân hàng trở nên dè dặt trong việc cho
vay vốn, tiền không được mang ra sử dụng lưu thông trở thành những khoản tiền
vô ích, làm tăng chí phí cho ngân hàng.
* Cơn bão tài chính Mỹ: Gần cuối năm, ngành tài chính ngân hàng phải
đón nhận tin cơn bão tài chính ở Mỹ. Nhưng có lẽ nó có ít tác động đến ngành
ngân hàng Việt Nam mà nhiều khi còn là tin tốt. Tin tốt là vì: Khi nhìn thấy sự
khủng hoảng của ngành ngân hàng tại Mỹ, các ngân hàng Việt Nam sẽ suy xét và
nhìn nhận lại cách làm ăn của mình. Họ sẽ thận trọng hơn với các khoản cho vay
của mình; họ sẽ tìm cách giảm rủi ro trong quá trình cho vay; họ sẽ đề phòng và
miễn dịch với các dự án đầu tư hay cho vay mà ở đó các khoản nợ xấu, khó đòi là
cao; họ sẽ tập trung vào các khoản mục sinh lợi tốt, khả năng hoàn vốn cao và có
sự phát triển trong tương lai.
* Cạnh tranh giữa các ngân hàng: Đầu tiên là sự cạnh tranh các ngân
hàng trong nước và các ngân hàng nước ngoài. Càng ngày càng có nhiều ngân
hàng nước ngoài vào Việt Nam. Lợi thế của họ là có nhiều vốn, có tiềm lực tài
Bảng 2: QUI MÔ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM
(ĐVT: Tỷ đồng)
Ngân
hàng
Tài sản có Vốn huy động ROA (%) ROE (%)
2007 2008 2007 2008 200
7
200
8
2007
2008
NHTMN
N
923.35
9
1.14315
5
710.63
9
842.78
7
0,64
7
NHLD,
NN
201.78
2
255.538
112.68
0
124.09
5
1,25
1,31
14,6
5
15,0
3(Nguồn: Đầu Tư và Tài chính, 2009)
Qua bảng trên cho ta thấy tài sản có của các ngân hàng tăng lên từ năm
2007 sang năm 2008, bên cạnh đó nguồn vốn huy động cũng tăng theo. tỷ suất
lợi nhuận ròng trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất lợi nhuận ròng trên vốn chủ sơ
đáng kể 1,13% so với cuối năm trước. lãnh đạo Vietcombank nhận định, nhu cầu
vay vốn của DN trong năm 2009 tăng mạnh theo chương trình hỗ trợ LS của
Chính phủ, đặc biệt với các khoản vay VND là động lực để NH tung ra các sản
phẩm mới với LS ưu đãi nhằm làm tăng vốn huy động. Ở một khía cạnh khác,
khi LS cơ bản của NHNN giảm liên tục và có khả năng được giữ ở mức 7% trong
ngắn hạn, mức LS huy động kỳ hạn 12 tháng tại các NH như hiện nay (8,0-
8,2%/năm) thực sự đang là mức LS hấp dẫn.
Tình hình hoạt động của các ngân hàng trong nước vào những tháng đầu
năm 2009 cho thấy vốn huy động ngắn hạn trên thị trường hiện cũng không dồi
dào như năm trước.
Chứng khoán có nhiều triển vọng đi lên, khả năng sinh lời từ
vàng và tỷ giá, bất động sản khó giảm thêm…là những lý do khiến tiền nhàn rỗi
tìm đường đến với các kênh đầu tư sinh lợi cao hơn lãi suất tiết kiệm. Bên cạnh
nguồn vốn huy động ngắn hạn không khả quan thì vốn trung dài hạn cũng không
dễ huy động. Trong tháng 4/2009 nhu cầu vốn trung dài hạn ở một số ngân hàng
đã tăng lên khiến các ngân hàng thương mại đang tăng trưởng phát hành các giấy
tờ có giá với lãi suất cao để huy động nguồn vốn trung dài hạn. Tuy nhiên, không
phải ngân hàng cũng có điều kiện để thực hiện huy động này. Trong khi đó có
khá nhiều ngân hàng lớn đều xúc tiến cho việc ra đời các sản phẩm nhằm thu hút
vốn trung dài hạn để phục vụ cho các khách hàng của mình. Trong giữa tháng 4
ngân hàng VietinBank đã phát hành chứng chỉ tiền gửi đợt 1 năm 2009 với lãi
suất khá hấp dẫn (mức cao nhất là 9%) so với mức lãi suất trung bình 7,8 – 8,4%
của các ngân hàng trên thị trường. Tổng giá phát hàng trong đợt là 6.000 tỉ đồng
với năm loại kỳ hạn là 6, 9, 12, 24 và 36 tháng. Lãi suất nằm trong khoản từ
7,9% đến 9%/năm, cao hơn khoảng một điểm phần trăm so với lãi suất huy động
cùng kỳ hạn của ngân hàng cổ phần. Tuy nhiên, chứng chỉ tiền gửi này không
được rút vốn trước hạn. Trong khi đó ngân hàng ACB, có dành ngân sách cho
vay dài hạn với các tổng công ty lớn khoảng 10.000 tỉ đồng, nhưng ngân hàng sẽ
Chuyên đề tài chính ngân hàng
Không chỉ riêng VIB, đây cũng chỉ là cách mà các ngân hàng áp dụng để huy
động vốn trung và dài hạn. Sacombank cũng nhận được chấp nhận của ngân hàng
Nhà nước huy động 10.000 tỷ đồng, Vietinbank nhận được hạn mức 10.000 và
Chuyên đề tài chính ngân hàng
GVHD: Th.S Trần Bá Trí SVTH: Huỳnh Thị Thùy Trang Trang 17
400 triệu USD. Tuy nhiên, tăng lãi suất chưa chắc đủ sức thu hút người dân gửi
tiền vào các kỳ hạn dài như các ngân hàng kỳ vọng. Theo nhận định của các
chuyên gia thì việc thu hút vốn là một khó khăn đối với các ngân hàng vì người
giữ tiền đang có nhiều lựa chọn khi chứng khoán và bất động sản bắt đầu ấm lại,
đầu tư vàng, ngoại tệ vẫn còn sôi động. Không chỉ vậy, khi kinh tế còn biến
động, người gửi tiền thường có tâm lý gửi tiền ngắn hạn để ứng phó với biến
động thị trường. Hơn nữa, khi các ngân hàng tạo ra xu thuế tăng lãi suất, người
gửi tiền cũng có tâm lý gửi ngắn hạn để có thể quay vòng nhanh khi lãi suất tăng
cao hơn trong các giai đoạn tiếp theo.
3.2.2.2.Lãi suất huy động tăng nhưng các ngân hàng vẫn khó hút vốn
Vốn huy động ngắn hạn trên thị trường hiện cũng không dồi dào như năm
trước, do các kênh đầu tư khác đã có dấu hiệu phục hồi. Nó được thể hiện đỉnh
lãi suất huy động đã được thiết lập ở mức 10,1% /năm trong ngày 16/6/2009 tại
HDBank cho kỳ hạn 36 tháng và xu hướng chung của lãi suất được nhiều chuyên
gia ngành ngân hàng dự báo, sẽ tiếp tục tăng cùng với nhiều chương trình khuyến
mãi tiết kiệm được ngân hàng tung ra. Song do lãi suất tăng chủ yếu ở kỳ hạn dài
ngày, từ 18 tháng trở lên, nên vẫn khó thu hút vốn nhàn rỗi trong dân cư. Trong
khi đó dư nợ tiếp tục được cải thiện. Đến cuối tháng 5/2009, số dư huy động bình
quân của Dong Á Bank đạt 31.368 tỷ đồng, tăng 27,5% so với cùng kỳ năm
2008, bằng 98% kế hoạch năm 2009; dư nợ tín dụng đạt 26.999 tỷ đồng, tăng
23,2% so với cùng kỳ và bằng 100% kế hoạch. Hiện lãi suất tiền gửi tăng mạnh ở
một số ngân hàng quy mô vừa và nhỏ. Chẳng hạn, ABBank có ABBank có 2 sản
phẩm tiết kiệm mới với lãi suất rất hấp dẫn lên tới 9,99%/năm. Lãi suất cao nhất
áp dụng cho kỳ hạn 18 tháng tại DaiA Bank hiện là 8,6%/năm. Gửi tiết kiệm tại
OCB từ ngày 16/6, khách hàng sẽ được tặng lãi suất thưởng tùy theo số tiền gửi.
thu hút được vốn nhàn rỗi trong dân cư. Trong khi đó, tăng trưởng dư nợ tiếp tục
được cải thiện. Số liệu thống kê hoạt động 5 tháng đầu năm của các ngân hàng
cho thấy, tỷ lệ dư nợ tăng cao, đạt gần bằng tốc độ huy động vốn.
Bảng 3: LÃI SUẤT BÌNH QUÂN THỊ TRƯỜNG LIÊN NGÂN HÀNG
TRONG THÁNG 6/2009
(Đơn vị tính: %/năm)
Kỳ hạn 1 tháng 3 tháng 6 tháng 12 tháng
VND
7,33 8,14 7,95 8,48
USD 1,18 1,62 0,95 2,09
(Nguồn: Ngân hàng nhà nước Việt Nam)
Đến cuối tháng 5/2009, số dư huy động bình quân của DongA Bank đạt
31.368 tỷ đồng, tăng 27,5% so với cùng kỳ năm 2008, bằng 98% kế hoạch năm
Chuyên đề tài chính ngân hàng
GVHD: Th.S Trần Bá Trí SVTH: Huỳnh Thị Thùy Trang Trang 19
2009; dư nợ tín dụng đạt 26.999 tỷ đồng, tăng 23,2% so với cùng kỳ và bằng
100% kế hoạch năm. Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết, khoảng 2 tháng trở
lại đây, tỷ lệ dư nợ luôn tăng cao hơn huy động vốn. Hiện lãi suất tiền gửi tăng
mạnh ở một số ngân hàng quy mô vừa và nhỏ. Chẳng hạn, ABBank có 2 sản
phẩm tiết kiệm mới với lãi suất rất hấp dẫn lên tới 9,99%/năm. Lãi suất cao nhất
áp dụng cho kỳ hạn 18 tháng tại DaiA Bank hiện là 8,6%/năm. Gửi tiết kiệm tại
OCB từ ngày 16/6, khách hàng sẽ được tặng lãi suất thưởng tùy theo số tiền gửi.
Ngoài ra, khi sổ tiết kiệm đến hạn, khách hàng tiếp tục gửi lại (với số tiền không
hạn chế) thì sẽ được tặng lãi suất thưởng lên đến 0,50%/năm…
So với đầu năm 2009, lãi suất tiền gửi đã tăng bình quân khoảng 2%/năm tùy
từng kỳ hạn khác nhau, cho dù NHNN tiếp tục giữ nguyên lãi suất cơ bản. Các
dự báo được đưa ra từ nhiều chuyên gia cũng cho thấy, khả năng lãi suất cơ bản
sẽ tiếp tục ổn định trong những tháng tới, không thay đổi nhiều so với hiện nay.
Không kỳ
hạn
(% năm)
3 tháng
(% năm)
6 tháng
(% năm)
12 tháng
(% năm)
Nhóm
NHTMNN
VND 2,88 7,52 7,71 8,05
USD 0,22 1,14 1,30 1,50
Nhóm
NHTMCP
VND 2,91 7,91 8,19 8,42
USD 0,41 1,49 1,66 1,99
(Nguồn: theo vntrade.com, 6/2009)
Mặt khác, lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND của nhóm Ngân hàng
thương mại nhà nước phổ biến ở mức từ 8,5-10%/năm, trung và dài hạn từ 10-
10,5%/năm. Lãi suất cho vay VND của nhóm NHTMCP phổ biến ở mức từ 10-
10,5%/năm. Lãi suất cho vay sau khi trừ đi phần hỗ trợ lãi suất phổ biến ở mức
từ 4,5-6%/năm. Lãi suất cho vay thỏa thuận đối với các nhu cầu vốn phục vụ đời
sống, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng phổ biến từ
12-16,5%/năm. Lãi suất cho vay USD tương đối ổn định so với tuần trước. Hiện
tại lãi suất cho vay ngắn hạn bằng USD của nhóm Ngân hàng thương mại nhà
nước phổ biến ở mức 3%/năm, trung và dài hạn từ 3,5-5%/năm. Lãi suất cho vay
ngắn hạn bằng USD của nhóm NHTMCP phổ biến ở mức từ 3-5%/năm, trung và
(tương đương tăng 1,96%); hộ gia đình, cá nhân 57.905,57 tỷ đồng, tăng
1.116,36 tỷ đồng (tương đương tăng 1,96%); tổ chức khác 1.082,98 tỷ đồng, tăng
684,69 tỷ đồng (tương đương tăng 171,9%).
Tỷ giá bán USD/VND của ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương
chiều ngày 11/6 ở mức 17.795, tăng 6 đồng so với ngày 4/6 và sát trần. Giá vàng
bán ra của Bảo Tín Minh Châu giao dịch ở mức 2,120 triệu đồng/chỉ, giảm
15.000 đồng/chỉ so với ngày 4/6.
Thị trường chứng khoán: từ ngày 3/6 đến ngày 10/6, chỉ số VN-Index tăng
11,85% (52,72 điểm) lên mức 497,51 điểm, chỉ số Hastc-Index tăng 16,06%
(24,87 điểm) lên mức 179,73 điểm. Về khối lượng giao dịch, các nhà đầu tư nước
ngoài bán ròng 15,4 triệu cổ phiếu tương đương 572,3 tỷ đồng và mua ròng 5,7
triệu trái phiếu tương đương 593,36 tỷ đồng.
Từ những nguyên nhân trên cho thấy những tháng đầu năm 2009 các ngân
hàng trong nước đang khó khăn trong tình hình huy động nguồn vốn để triển khai
tín dụng, nhất là khi dư nợ tín dụng cho vay hỗ trợ lãi suất và tín dụng tiêu dùng
có xu hướng gia tăng.
Chuyên đề tài chính ngân hàng
GVHD: Th.S Trần Bá Trí SVTH: Huỳnh Thị Thùy Trang Trang 22
3.3. TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA
DOANH NGHIỆP
Tình hình hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp và hộ sản
xuất, vòng quay vốn lưu động trong 01 năm khoảng 2 - 4 vòng (từ 3 - 6
tháng/vòng); theo đó, thời hạn trả nợ vay ngân hàng đối với các khoản vay hỗ trợ
lãi suất cũng được xác định tương ứng khoảng từ 3 - 6 tháng. Trong những tháng
đầu năm 2009, doanh nghiệp và hộ sản xuất đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm, trả các
khoản vay đến hạn và tiếp tục vay vốn, quay vòng vốn lưu động để sản xuất -
kinh doanh và được hưởng hỗ trợ lãi suất theo quy định của pháp luật là hoạt
động kinh tế diễn ra bình thường. Qua 4 tháng cho vay hỗ trợ lãi suất, đến cuối
tháng 5/2009, dư nợ vay được hỗ trợ lãi suất của doanh nghiệp, hộ sản xuất
hàng được đẩy mạnh, các ngân hàng đổi mới từng ngày dịch vụ ngân hàng của
mình. Thời gian qua các ngân hàng ngân hàng trong nước trãi qua cơn bảo tài
chính nhưng sự tác động không đáng kể, mặt khác đã tạo ra dòng vốn ổn định
đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
3.4.2. Hạn chế
Hệ thống ngân hàng có nhiều đổi mới và có những bước tiến nổi bật, nhưng
để hội nhập, hệ thống ngân hàng còn nhiều bất cập như: nợ xấu tăng cao là do
chủ trương thắt chặt tín dụng chống lạm phát, các ngân hàng đã cắt giảm hạn
mức tín dụng. Đồng thời lãi suất tín dụng tăng cao, tình hình vay vốn của doanh
nghiệp gặp nhiều khó khăn dẫn tới chi phí giá thành sản phẩm cao, lợi nhuận
giảm, kèm theo đó là năng lực tài chính suy giảm, vốn luân chuyển chậm, không
thực hiện đúng kế hoạch trả nợ ngân hàng dẫn tới nợ quá hạn tăng đột biến. Các
doanh nghiệp khó khăn về tài chính đều gặp phải trở ngại trong việc thanh toán
tiền hàng, việc thu tiền bán hàng chậm, doanh nghiệp không trả nợ đúng hạn dẫn
đến các ngân hàng phải điều chỉnh kỳ hạn nợ, gia hạn nợ và chuyển nợ quá hạn
vào các nhóm nợ thích hợp. Một số tổ chức tín dụng cho vay chưa khảo sát kỹ
khách hàng, phương án khả thi, cho vay vốn sai mục đích, khách hàng kinh
doanh không hiệu quả, có nguy cơ phá sản, ngân hàng khó thu hồi hoặc không
thể thu hồi được vốn và lãi vay. Việc tiếp cận được vốn tín dụng từ ngân hàng
của các doanh nghiệp trở nên khó khăn hơn dẫn đến tâm lý không muốn trả các
khoản nợ đến hạn từ phía khách hàng.
- Hệ thống dịch vụ ngân hàng trong nước còn đơn điệu, chất lượng chưa
cao, chưa định hướng theo nhu cầu khách hàng và nặng về dịch vụ ngân hàng
Chuyên đề tài chính ngân hàng
GVHD: Th.S Trần Bá Trí SVTH: Huỳnh Thị Thùy Trang Trang 24
truyền thống. Cơ cấu hệ thống tài chính còn mất cân đối, hệ thống ngân hàng vẫn
là kênh cung cấp vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế chủ yếu. Tình hình nợ xấu
vẫn có xu hướng giảm chưa chắc chắn, trong đó đáng chú ý là khối các tổ chức
tín dụng nhà nước. Nợ tồn đọng trong cho vay đầu tư xây dựng cơ bản bằng
VNĐ đang ở mức cao trên tổng dư nợ.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
4.1. KẾT LUẬN
Trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu ập đến trong những tháng còn
lại của năm 2008 có thể xem là một vị cứu tinh của hệ thống ngân hàng Việt
Nam. Tình hình trở nên dễ thở hơn khi chính sách tiền tệ đảo chiều, lãi suất sụt
giảm, thanh khoản trở nên dồi dào hơn khi ngân hàng Nhà Nước nới lỏng các
biện pháp tiền tệ thắt chặt và gói kích cầu hỗ trợ lãi suất bỗng trở thành một liều
thuốc tiên cho các ngân hàng Việt Nam, quốc doanh cũng như cổ phần. Nhưng
điều đó không có nghĩa là chúng nên được lặp lại. Nhìn lại những năm 2006,
2007 để thấy rằng vì động cơ lợi nhuận, các ngân hàng chúng ta đã hành động
một cách rủi ro như thế nào đối với việc tài trợ kinh doanh nhà đất và chứng
khoán không khác gì các ngân hàng Mỹ khi họ khởi động các nghiệp vụ cho vay
dưới chuẩn lãi suất cao cho khách hàng mua nhà. Chỉ có điều khác, may mắn
thay, là chúng ta không có một hệ thống tài chính có đủ công nghệ tinh vi và
chuyên nghiệp để tạo ra các sản phẩm tài chính phức tạp nhằm chuyển các rủi ro
này cho người khác trong khi nhân nó lên nhiều lần cấp số nhân. Bên cạnh đó,
các ngân hàng nước ta phải đối mặt với sự cạnh tranh hoạt động với các ngân
hàng nước ngoài, sự diễn biến phức tạp của tình hình kinh tế, tình hình nợ xấu
phát sinh nhưng các ngân hàng đã hoạt động tích cực và có những giải pháp vượt
qua thử thách, kiểm soát danh mục đầu tư theo hướng an toàn hiệu quả theo mỗi
hướng khác nhau.
Nhìn chung, tình hình hoạt động của các ngân hàng ở nước ta chưa cao, khả
năng huy động nguồn vốn gặp nhiều khó khăn, nhưng vẫn đảm bảo nguồn vốn
cho hoạt động kinh tế của nền kinh tế nói chung và của doanh nghiệp nói riêng,
sử dụng một phần vốn huy động ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn, đồng thời
áp dụng một số chính sách hỗ trợ để đảm bảo khả năng thanh toán. Để đáp ứng
được nhu cầu vốn cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, các ngân hàng phải
cố gắng và nổ lực nhiều hơn nữa.
4.2. KIẾN NGHỊ