Tình hình thực trạng huy động vốn của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay - Pdf 25

Lê Thị Kim Hoàn – QTKD Thương Mại 48C
I - MỞ ĐẦU
Để thành lập một doanh nghiệp và tiến hành các hoạt động sản xuất kinh
doanh, vốn là điều kiện không thể thiếu, nó phản ánh nguồn lực tài chính
được đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Nhu cầu về vốn là một trong những bức
xúc của doanh nghiệp, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi mà các doanh
nghiệp đều mong muốn đầu tư mở rộng sản xuất, đa dạng hoá dịch vụ nhằm
tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp sau khi Việt Nam gia nhập
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Doanh nghiệp có nhiều hình thức để
huy động vốn như phát hành cổ phiếu, trái phiếu, vay vốn ngân hàng, tín dụng
từ nhà cung cấp, thuê tài chính, v.v. Mỗi cách thức huy động vốn đều có
những ưu, nhược điểm riêng.
Các nguồn vốn của một doanh nghiệp:
• Nguồn vốn tự có của chủ doanh nghiệp là khoản đầu tư ban đầu khi
thành lập doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp Nhà nước, nguồn vốn tự có là
vốn đầu tư của ngân sách Nhà nước. Đối với công ty cổ phần hoặc công ty
tnhh, nguồn vốn ban đầu do các cổ đông hoặc thành viên đóng góp để hình
thành công ty. Đối với các Công ty cổ phần,vốn kinh doanh có thể huy động
thêm từ việc phát hành cổ phiếu. Công ty TNHH không thể phát hành cổ
phiếu mà chỉ có thể phát hành trái phiếu.
• Vốn vay: Ngoài phần vốn tự có của daonh nghiệp (vốn góp) thì nguồn
vốn vay có vị trí đặc biệt quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Nó có thể đáp ứng các nhu cầu về vốn trong ngắn hạn hoặc dài
hạn, có thể huy động được số vốn lớn, tức thời
• Vốn chiếm dụng của nhà cung cấp (Tín dụng thương mại): Đây cũng
là một nguồn vốn tương đối quan trọng trong doanh nghiệp. Nguồn vốn này
xuất phát từ việc doanh nghiệp chiếm dụng tiền hàng của nhà cung cấp (trả
chậm), việc chiếm dụng này có thể phải trả phí (lãi) hoặc không phải trả phí
nhưng lại đáp ứng được việc doanh nghiệp có nguyên vật liệu, điện, nước,...
để sản xuất kinh doanh mà chỉ phải bỏ ra ngay lập tức một số tiền ít hơn số
tiền đáng lẽ phải bỏ ra ngay lập tức để có được số nguyên vật liệu, điên, máy

sự nhất trí của các thành viên còn lại; công ty thông báo bằng văn bản nội
dung thay đổi đó đến cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn bảy ngày
làm việc, kể từ ngày chấp thuận sự thay đổi.
2
Lê Thị Kim Hoàn – QTKD Thương Mại 48C
● Công ty trách nhiệm hữu han một thành viên:Quyết định tăng vốn
điều lệ của công ty; chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của
công ty cho tổ chức, cá nhân khác.Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành
viên tăng vốn điều lệ bằng việc chủ sở hữu công ty đầu tư thêm hoặc huy
động thêm vốn góp của người khác.
Chủ sở hữu quyết định hình thức tăng và mức tăng vốn điều lệ. Trường
hợp tăng vốn điều lệ bằng việc huy động thêm phần vốn góp của người khác,
công ty phải đăng ký chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hai thành viên trở
lên trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày thành viên mới cam kết góp vốn
vào công ty.
● Công ty cổ phần ;Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và
nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào
doanh nghiệp, và vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ
phần.
● Doanh nghiệp tư nhân:
+ Vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân do chủ doanh nghiệp tự
đăng ký. Chủ doanh nghiệp tư nhân có nghĩa vụ đăng ký chính xác tổng số
vốn đầu tư, trong đó nêu rõ số vốn bằng tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển
đổi, vàng và các tài sản khác; đối với vốn bằng tài sản khác còn phải ghi rõ
loại tài sản, số lượng và giá trị còn lại của mỗi loại tài sản.
+ Toàn bộ vốn và tài sản kể cả vốn vay và tài sản thuê được sử dụng vào
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phải được ghi chép đầy đủ vào sổ kế
toán và báo cáo tài chính của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật.
+ Trong quá trình hoạt động, chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền tăng
hoặc giảm vốn đầu tư của mình vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Đây là một phương thức tạo nguồn tài chính quan trọng và khá hấp dẫn
của các doanh nghiệp
- Đặc điểm của nguồn vốn từ lợi nhuận không chia:
+ Ưu điểm của loại vốn này: giảm chi phí,giảm bớt sự phụ thuộc vào
bên ngoài so với các cach thức huy động khác,dễ huy động,tiện lợi,không
phải xin phép.Không tốn kém chi phí, không làm loãng quyền kiểm soát ngân
hàng và không phải hoàn trả. Phương pháp này giúp ngân hàng không phụ
thuộc vào thị trường vốn nên tránh được chi phí huy động vốn.
+ Nhược điểm: vốn tái đầu tư tù lợi nhuận để lại chỉ có thể thực hiện
được nếu như doanh nghiệp đã đang hoạt động có lợi nhuận và đươc phép tái
đầu tư. Nguồn vốn này phải được sự đồng ý của chủ sơ hữu,không chủ đông
4
Lê Thị Kim Hoàn – QTKD Thương Mại 48C
được và cơ hợi đầu tư là ít nên phải biết nắm thời cơ đầu tư hợp lý. Khi đem
vốn đi tái đầu tư thì doanh nghiêp cần phải chứng minh cho chủ đầu tư rằng
kỳ vọng lợi nhuận đạt được phải lớn hơn mức khi họ đem đầu tư vào các
doanh nghiệp khác.Ưu điểm: Hạn chế: Chỉ áp dụng với các ngân hàng lớn,
làm ăn có lãi liên tục và đều đặn. Hình thức này không thể áp dụng thường
xuyên vì nó làm ảnh hưởng đến quyền lợi của cổ đông.
Phương pháp này phụ thuộc vào:
a) Chính sách cổ tức của ngân hàng: Chính sách này cho biết ngân hàng
cần phải giữ lại bao nhiêu thu nhập để tăng vốn phục vụ cho mở rộng kinh
doanh và bao nhiêu thu nhập sẽ được chia cho các cổ đông. Ta có:
Tỷ lệ thu nhập giữ lại
(Lợi nhuận không chia) =
Mức thu nhập giữ lại
Thu nhập sau thuế
Tỷ lệ chi trả cổ tức =
Tổng giá trị cổ tức
Thu nhập sau thuế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status