Chương 2 THỰC TRẠNG KÝ KẾT HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 63

Chương 2 THỰC TRẠNG KÝ KẾT HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Khái quát tình hình hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam
2.1.1. Thực trạng các doanh nghiệp ở các doanh nghiệp Việt Nam
Những năm gần đây cùng với xu hướng hội nhập nền kinh tế nước ta
đang có những bước phát triển mạnh mẽ. Cụ thể năm 2007, tốc độ tăng trưởng
GDP là 8,44%, trong quý 1 năm 2008 đạt 7,4%. Tổng kim ngạch xuất nhập
khẩu hàng hoá năm 2007 tăng 23,9% so với năm 2006. Trong đó kim ngạch
xuất khẩu tăng 20,5% và kim ngạch nhập khẩu tăng 27% (so với kế hoạch 15%)
do việc thực hiện cam kết mở cửa thị trường và cắt giảm thuế thu nhập
khẩu...Giá trị xuất khẩu hàng hoá Việt Nam năm 2007 ước đạt 48 tỷ. Tuy nhiên
trong hiện nay, tình hình kinh tế gặp nhiều bất lợi do tác động của kinh tế thế
giới, những bất cập yếu kém trong quản lý điều hành kết hợp các nguyên nhân
nội sinh từ nền kinh tế. Như giá dầu thô quý 1 năm 2008 tăng gần 40% so với
giá bình quân năm 2007 và dự báo tiếp tục ở mức cao như hiện nay.Thậm chí có
dự báo cao hơn, lên đến 150 USD\thùng.Giá phôi thép đầu năm 2008 đã tăng
45,1% so với cuối năm 2007, hiện giá chào hàng đã lên tới 900USD\tấn.Giá
phân Urê, giá bột mỳ, giá gạo tháng 3 năm 2008 đã tăng gấp đôi so với cùng kỳ
năm 2007. Chỉ số giá tiêu dùng năm 2007 tăng cao ước tính tăng 12,06% so với
tháng 12 năm 2006. Quý 1 năm 2008 lạm phát cao vẫn ở mức 2 con số, giá tiêu
dùng tháng 3 tăng 9,19% so với tháng 12 năm 2007; nhập khẩu tăng tới hơn 7 tỷ
USD và bằng 56,5% kim ngạch xuất khẩu. Vì vậy đất nước ta vừa đứng trước
những cơ hội mới, vừa có những thách thức mới tác động đến các hoạt động
kinh doanh và hoạt động tổ chức quản lý của các doanh nghiệp. Đồng thời sự ra
đời của Luật doanh nghiệp 2005, đã có những tác động tích cực đến quá trình
phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam, góp phần tạo môi trường kinh doanh
bình đẳng, thông thoáng hơn cho tất cả các loại hình doanh nghiệp. Về môi
trường chính sách, tiếp theo sự ra đời của các Nghị định, hướng dẫn Luật doanh
nghiệp, Luật đầu tư, mô hình một cửa liên thông nhằm đơn giản hoá các quy
định về thủ tục hành chính trong ba khâu đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và
cấp giấy phép khắc dấu cho doanh nghiệp. Trong 5 tháng đầu năm 2007, đã có

Các doanh nghiệp tư nhân bao gồm các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách
nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, hộ gia đình (không kể hộ gia đình trong lĩnh
vực nông, lâm, thủy hải sản) đã tăng nhanh về số lượng trong thời gian
ngắn.Năm 2003 là 92.602 doanh nghiệp. Tính riêng năm 2007 sẽ có khoảng gần
40.000 doanh nghiệp tư nhân đã thành lập và đăng ký kinh doanh. Trong đó hai
loại hình doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn có số
lượng tăng nhanh nhất.Tuy nhiên, loại hình doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn
có tỷ lệ tăng cao hơn. Mặc dù số lượng các công ty cổ phần thấp nhất nhưng lại
có tổng số vốn đăng ký là cao nhất trong các loại hình doanh nghiệp Về quy mô
của doanh nghiệp tư nhân Việt Nam phần lớn được xếp vào các doanh nghiệp
vừa và nhỏ (Doanh nghiệp vừa và nhỏ có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng
hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người). Tính đến thời
điểm hiện nay thì số các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tới khoảng 98% trên
tổng số doanh nghiệp tư nhân trên toàn quốc.Doanh nghiệp tư nhân vẫn tập
trung chủ yếu vào ngành thương nghiệp, dịch vụ, khách sạn; tiếp đến là ngành
công nghiệp; ngành xây dựng vận tải;...Các doanh nghiệp tư nhân tập trung
nhiều nhất ở các vùng trọng điểm, chủ yếu ở các tỉnh thành phố có nền kinh tế
phát triển như: Bà Rịa – Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình
Dương, Đà Nẵng, Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương,
Hưng Yên ...
Thứ ba, về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Cùng với chính sách
mở cửa, và sự ra đời của luật đầu tư các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
tăng nhanh về số lượng và quy mô hoạt động. Số doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài chiếm khoảng 17% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động hiện nay.
Năm 2007, lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI ) đổ vào Việt Nam đã
vượt con số 15 tỷ USD, vượt 15% kế hoạch dự kiến. Tổng số dự án cấp trong
năm 2007 đạt khoảng 1300 dự án, với tổng vốn 14 tỷ USD. Công nghiệp vẫn
đang là ngành thu hút vốn đầu tư lớn nhất, với 7,55tỷ USD, chiếm 56,4% tổng
vốn đầu tư đằng ký. Sau công nghiệp là ngành dịch vụ với 5,65 tỷ USD. Doanh
thu của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài năm 2007 ước đạt gần 40 tỷ

mặt bằng, về nền tảng từ trước như: cảng biển, điện lực, nước sạch, bưu chính
viễn thông, dịch vụ đóng tàu, khai thác và chế biến than, xi măng, sắt thép, rượu
bia và nước giải khát, đầu tư xây dựng nhà ở, dầu khí, dịch vụ vận tải, đường sắt
và hàng không...thì làm ăn có hiệu quả. Hiện nay tổng số nợ vốn vay ngân hàng
của các doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh khoảng 80.000 - 95.000 tỷ đồng. Một
số các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, thương mại, dịch vụ, công trình giao
thông, xây dựng, chế biến nông sản, may mặc, cung ứng vật tư hàng hóa ,in ấn
và bao bì, mía đường...thuộc địa phương là những công ty thuộc sự quản lý của
tỉnh thành phố. Số nợ xấu của khối doanh nghiệp này ước tính cũng lên tới
2.500 - 3.000 tỷ đồng. Các tổng công ty xây dựng, công ty vận tải là nhóm
doanh nghiệp có số nợ quá hạn cao nhất, kéo dài nhất. Số nợ ước tính hiện nay
lên tới 12.300 tỷ chủ yếu là nợ xấu. Theo đánh giá của Bộ Tài chính hiện nay
chỉ có 44,4% doanh nghiệp nhà nước được phân loại theo nhóm A (tức là có
lãi), 39,5% thuộc nhóm B và số còn lại thuộc nhóm. Các doanh nghiệp làm ăn
thua lỗ chiếm khoảng 19,5% tổng số các doanh nghiệp nhà nước. Có nhiều
nguyên nhân tạo ra lỗ và nợ lớn như: nguyên nhân do máy móc thiết bị hiện có
còn hạn chế; hoặc là cũ kỹ về thời gian sử dụng, chờ thanh lý nhưng không tận;
hoặc là lạc hậu về trình độ thiết bị kỹ thuật công nghệ lên đến 10 năm - 30 năm;
hoặc được đầu tư hiện đại nhưng không huy động được hết công suất (nhiều
doanh nghiệp chỉ đạt 50% - 60%); hoặc do ham đầu tư lớn dẫn đến chi phí khấu
hao quá cao, chi phí lãi vay lớn; nguyên nhân do sử dụng nguyên vật liệu vượt
định mức, lãng phí trong đầu tư sản xuất, sản phẩm hư hỏng; hoặc do vốn chủ
sở hữu ít, tỷ lệ vốn vay lớn trong khi mặt bằng lãi suất ở Việt Nam là khá cao
thường có mức là 2 chữ số, cao hơn tỷ lệ lợi nhuận sản xuất kinh doanh bình
quân chung. Hiện nay tiến trình cải cách doanh nghiệp nhà nước đã bước sang
giai đoạn quan trọng, đó là cơ cấu các doanh nghiệp nhà nước lớn. Theo báo cáo
vẫn còn khoảng 2.200 doanh nghiệp nhà nước loại lớn tổng vốn là 31 tỷ USD,
tương đương 31% GDP. Năm 2007 dự tính thực hiện cổ phần hóa các doanh
nghiệp lớn với tổng giá trị 10 tỷ USD. Thủ tướng chính phủ đã tiến hành phê
duyệt 69 dự án phải sắp xếp đối với doanh nghiệp nhà nước. Thực tế cho thấy

thế giới. Các doanh nghiệp nước ta nói chung buộc phải tiến hành hoạt động
kinh doanh trong môi trường cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt. Doanh
nghiệp thay vì chỉ chú trọng tới thị trường nội địa như trước kia thì phải tìm
cách mở rộng thị trường quốc tế thu hút nhà đầu tư nước ngoài tham gia.Đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam trong thời gian qua đã đạt được những thành tựu đáng
kể góp phần tích cực vào tăng trưởng kinh tế cũng như thực hiện các mục tiêu
phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Chỉ xét trong quý I năm 2008, các doanh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status