Nguyễn Hữu Lĩnh QTCL 44 Chuyên đề thực tập
LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế thị trường và xu thế hội nhập ở Việt Nam hiện nay đả tạo ra
một môi trường cạnh tranh sôi nổi và gay gắt giửa các doanh nghiệp thuộc
mọi thành phần kinh tế trong nước và cả các doanh nghiệp có tên tuổi của
nước ngoài, nhất là khi hàng rào thuế quan được hạ xuống với các sản phẩm
trong khu vực. Trong tình hình đó, vấn đề tiêu thụ sản phẩm hàng càng trở
nên vấn đề sống còn, quyết định sự tồn tại và phát triển đối với mổi doanh
nghiệp. Bởi lẻ doanh thu và lợi nhuận của mổi doanh nghiệp là bao nhiêu,
nhiều hay ít, có đủ để doanh nghiệp bù đắp chi phí bỏ ra và thực hiện tái sản
xuất mở rộng hay không phụ thuộc vào việc doanh nghiệp có tiêu thụ dược
sản phẩm hàng hoá sản xuất ra hay không và tiêu thụ như thế nào để đạt được
hiệu quả.
Tiêu thụ sản phẩm là một khâu quan trọng trong quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp nhưng có mối liên quan mật thiết với các khâu khác.
Để tiêu thụ được sản phẩm một cách nhanh chóng nhất và đạt hiệu quả cao
nhất không đơn thuần chỉ là việc doanh nghiệp làm tốt công tác bán hàng.
Tiêu thụ sản phẩm trở thành một công cụ sắc bén giúp doanh nghiệp đứng
vững trên thị trường. Muốn vậy, đòi hỏi doanh nghiệp phải giải quyết tốt
nhiều vấn đề khác như: Nghiên cứu, phân tích, đánh giá mọi hoạt động của
doanh nghiệp, tình hình thị trường và các đối thủ cạnh tranh, không ngừng
nâng cao chất lượng của sản phẩm cũng như uy tín của doanh nghiệp, tìm tòi
những hướng đi và các giải pháp linh hoạt và nhạy bén trong quản lý, kinh tế
tài chính....
Xuất phát từ nhận thức về vai trò quan trọng của vấn đề tiêu thụ sản
phẩm đối với doanh nghiệp trong tình hình hiện nay, trong thời gian thực tập
tại công ty Cổ phần bánh kẹo Hải Hà, tôi đã có những hiểu biết nhất định về
công tác tiêu thụ sản phẩm của công ty. Dưới sự hướng dẩn tận tình của thầy
giáo Đặng Ngọc Sự và tập thể cán bộ nhân viên trong công ty, em đã hoàn
1
Nguyễn Hữu Lĩnh QTCL 44 Chuyên đề thực tập
_Đơn vị bán xuất giao sản phẩm hàng hoá.
_Đơn vi mua thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán
Doanh nghiệp có thể xuất giao sản phẩm hàng hoá cho đơn vị mua ngay
tại kho của doanh nghiệp hoặc vận chuyễn tới địa điểm tiêu thụ nhất định theo
thoã thuận .Tuy nhiên hành vi này mới chỉ phản ánh sự dịch chuyển sản phẩm
về mặt đia lý, chưa phản ánh bản chất tiêu thụ sản phẩm là sự chuyển giao
quyền sỡ hữu hàng hoá cho người mua để thu được một lượng giá trị. Cho
nên cần thiết phải có cả hành vi thứ hai: Đơn vị mua thanh toán hoặc đã chấp
nhận thanh toán. Tuy nhiên hai hành vi này có thể tách rời nhau về thời gian
và không gian, tạo ra nhiều thức thanh toán.
3
Nguyễn Hữu Lĩnh QTCL 44 Chuyên đề thực tập
Đứng trên góc độ luân chuyển vốn, tiêu thụ sản phẩm là quá trình
chuyển hoá hình thái của vốn từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ, làm
cho vốn trở về hình thái ban đầu trước khi bước vào mỗi chu kì sản xuất kinh
doanh. Ban đầu là những đồng vốn mà nhà sản xuất bỏ ra để mua các yếu tố
đầu vào phụ vụ cho quá trình sản xuất như công cụ lao động, đối tượng lao
động và sức lao động. Khi vốn bằng tiền đã được chuyển thành vốn dưới dạng
hiện vật, sau đó qua quá trình sản xuất để tạo ra các sản phẩm hàng hoá. Nhà
sản xuất đem hàng hoá của mình di tiêu thị và thu được tiền về. Đồng vốn của
doanh nghiệp lúc này lại quay về với hình thái vốn có của nó: Hình thái tiền
tệ.
Qúa trình này cứ lặp đi lặp lại theo đúng chu kì sản xuất của doanh
nghiệp gọi là quá trình tái sản xuất, thể hiện qua sơ đồ sau:
_____________>Sức lao động
T-H_____________> Tư liệu sản xuất ......... sản xuất........ H’—T’
Như vậy, tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng của quá trình luân
chuyển thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá thông qua quan hệ
trao đổi , thu tiền về cho doanh nghiệp để doanh nghiệp có thể tiếp tục chu kì
là một việc quan trọng liên quan đến rất nhiều vấn đề khác nhau trong hoạt
động quản lý tài chính doanh nghiệp như công tác quản lý tiền mặt, khoản
phải thu, quan lý vốn tồn kho dư trữ, quản lý việc thực hiện nghĩa vụ với nhà
nước …
1.2. Các hình thức tiêu thụ sản phẩm.
Hình thức tiêu thụ sản phẩm dược gắn với doanh thu mà hoạt động tiêu
thụ sản phẩm mang lại cho doanh nghiệp.
Doanh thu là biểu hiện bằng tiền các lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp
thu được từ các hạot động sản xuất kinh doanh trong một kỳ nhất định của
doanh nghiệp. Đây là bộ phận chủ yếu trong tổng doanh thung của doanh
nghiệp.
5
Nguyễn Hữu Lĩnh QTCL 44 Chuyên đề thực tập
Việc xác định nội dung doanh thụ tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
góp phần giúp doanh nghiệp hoạch toán đầy đủ, chính xác doanh thu của
daonh nghiệp, phả ánh trung thực kết quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm cũng không đồng nhất với tiêu thụ bán
hàng, Tiieu thụ bán hàng là số tiền đã được doanh nghiẹp thu về còn doanh
thu tiêu thụ sản phẩm bao gồm cả khoản tiền khách hàng đả chấp nhận trả
nhưng chưa thanh toán với doanh nghiệp. Doanh thu tiêu thụ sản phẩm cũng
có thể được thanh toán bằng nhiều hình thức khác nhau như thanh toán bằng
tiền mặt, chuyển khoản... và vào nhiều thời điểm káhc nhau. Tuỳ từng trường
hợp cụ thể, doanh thu tiêu thụ sản phẩm dược xác định vào những thời điểm
khác nhau như sau:
_Trường hợp 1: Doanh nghiệp xuất giao sản phẩm hàng hoá và được
khách hàng thanh toán ngay. Lúc này lượng hàng hoá được xác định là tiêu
thụ và số tiền bán hàng cùng doanh thu bán hàng cũng được xác định và trùng
nhau về mặt thời điểm .
_Trương hợp 2:Doanh nghiệp xuất giao sản phẩm hàng hoá và được
Trong ngành nông nghiệp, do sản xuất mang tính thời vụ nên việc tiêu
thụ cũng mang tính thời vụ dẫn đến doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong năm
được tập trung vào thời vụ thu hoạch .
Trong ngành xây dựng, các doanh nghiệp tiến hành sản xuất theo đơn
đặt hàng, diễn ra tại thời điểm bên đặt hàng yêu cầu với tiêu chuẩn về chất
lượng và giá trị sữ dụng nhất định. Vì vậy, quá trình tiêu thụ sản phẩm xây
dựng cơ bản chỉ là việc bàn giao các công trình xây lắp đã hoàn thành và thu
tiền về .
Trong ngành dịch vụ công cộng, doanh thu có thể rất lớn, phụ thuộc vào
thời điểm và tính chất phục vụ.
1.3.2:Khối lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ:
Trong trường hợp giá bán sản phẩm không thay đổi thì khối lượng sản
phẩm tiêu thụ có ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong
7
Nguyễn Hữu Lĩnh QTCL 44 Chuyên đề thực tập
kì. Nhưng sản phẩm đưa ra quá lớn ,vựơt quá nhu cầu thị trường thì dù sản
phẩm có chất lượng như thế nào, có hấp dẫn người tiêu dùng đến mấy giá cả
hợp lý đến đâu thì việc tiêu thụ cũng rất khó khăn. Ngược lại nếu không dự
đoán chính xác nhu cầu thị trường, đưa ra khối lượng tiêu thu quá nhỏ thì
doanh nghiệp đả đánh mất đi cơ hội tăng doanh thu, làm ảnh hưởng đến lợi
nhuận doanh nghiệp .
Trong điều kiện các nhân tố khác không thay đổi thì mức doanh thu bán
hàng sẻ tỉ lệ thuận với số lượng sản phẩm trong kì của doanh nghiệp, vì vậy,
để tăng doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong trường hợp này cần phải tăng khối
lượng sản phẩm sản xuất hoặc khối lượng lao vụ hoàn thành. Muốn vậy,
doanh nghiệp phải sử dụng giải pháp tổng hợp: Đầu tư lớn để tăng quy mô
sản xuất kinh doanh, nghiên cứu thị trường, tổ chức tốt công tác tiêu thụ cũng
như thu hồi kịp thời số tiền mà khách hàng phải trả về những sản phẩm hàng
hoá dịch vụ mà doanh nghiệp đã cung cấp.
1.3.3:Chất lượng sản phẩm :
Trong cơ chế thị trường, giá cả do quan hệ cung cầu quyết định. Khi
cung lớn hơn cầu thì người bán cạnh tranh nhau để bán được sản phẩm, làm
cho giá cả sản phẩm nhỏ hơn giá trị thị trường. Ngược lại, khi cung nhỏ hơn
cầu, sản xuất không đáp ứng kịp nhu cầu nhưng người mua muốn mua sản
phẩm phải trả giá cao hơn, đẩy giá cao hơn làm giá cả hàng hoá cao hơn giá
cả thị trường. Nếu doanh nghiệp đưa ra một mức giá cả phù hợp vợi chất
lượng sản phẩm tốt được đông đảo người tiêu dùng chấp nhận thì doanh
nghiệp sẻ dễ dàng tiêu thụ sản phẩm của mình và đạt doanh thu cao. Nhưng
việc định giá của doanh nghiệp còn phụ thuộc rất nhiều vào từng loại thị
trường mà doanh nghiệp thâm nhập với số lượng người mua va người bán
khác nhau. Như vậy, đễ có một mức giá có tính cạnh tranh cao thì doanh
nghiệp phải phấn đấu hạ thấp chi phí cá biệt để hạ giá thành sản phẩm cùng
loại trên thị trường. Đây là lợi thế cạnh tranh giúp doanh nghiệp có thể thu hút
được khách hàng của đối thủ canh tranh, chiếm lĩnh thị trường .
9
Nguyễn Hữu Lĩnh QTCL 44 Chuyên đề thực tập
1.3.5: Kết câu mặt hàng tiêu thụ:
Kết cấu mặt hàng tiêu thụ là tỉ trọng về mặt giá trị của từng loại sản
phẩm tiêu thụ chiêm trong tổng giá trị sản phẩm tiêu thụ trong kì. Do nhu cầu
thị trường rất đa dạng, để đáp ứng kịp thời và tăng doanh thu, các doanh
nghiệp thường đưa ra thị trường nhiều loại sản phẩm khác nhau về chũng loại,
kích cở, mẫu mã, phẩm cấp, giá bán…tuy nhiên khi đưa ra tiêu thụ không
phải măt hàng nào cũng được tiêu thụ như nhau. Điều này không chỉ phụ
thuộc vào việc sản phẩm đó có chất lượng tốt, giá cả phải chăng hay không
mà còn phải hợp với thị hiếu, nhu cầu thị trường.Trên thực tế, có những mặt
hàng sản xuất tương đối đơn giản, chi phí thấp nhưng tiêu thụ mạnh do hợp
thị hiếu khach hàng tại thời điểm đó. Như vậy, khi đưa sản phẩm ra thị
trường, mặt hàng nào phùi hợp vối nhu cầu thị trường, giá cả hợp lý, chất
lượng đảm bảo thì tiêu thụ nhanh và ngược lại mặt hàng nào không được thị
trường chấp nhận thì việc tiêu thụ sản phảm sẽ gặp rất nhiều khó khăn.Tóm
tiêu của doanh nghiệp la tối đa hoá lợi nhuận.
b) Xét về mặt thanh toán :
Thông thường trong tiêu thụ sản phẩm, sự vận động của hàng hoá và
của tiền vốn là đòng thời.Tuy nhiên trong nền kinh tế thị trường, không phải
khách hàng nào củng có sẵn một lượng tiền mặt lớn để trả cho doanh nghiệp
khi mua sản phẩm. Nếu doanh nghiệp không dành cho khách hàng của mình
sự ưu đải nhất định khi thanh toán tiền hàng thì nguy cơ mất khách hàng cho
các đối thủ cạnh tranh sẽ là tất yếu.
Chính vì thế các doanh nghiệp thường áp dụng nhiều cách thức thanh
toán như bàng tiền mặt, sec, chuyễn khoản, trao đổi hàng; Thồi điểm thanh
toán củng tuy thuộc vào khách hàng: Có thể thanh toán ngay hoặc trả chậm.
Điều đó sẽ giúp cho doanh nghiệp thu hút được nhiều khách hàng với khả
năng tài chính khác nhau, thói quen chi trả khác nhau tìm đến với các doanh
nghiệp. Bên cạnh đó nếu doanh nghiệp có những khuyến khích đối với những
khách hàng thanh toán nhanh, hay mua số lượng lớn, thanh toán trước thì sẽ
giúp đẫy mạnh tốc độ tiêu thụ sản phẩm.
11
Nguyễn Hữu Lĩnh QTCL 44 Chuyên đề thực tập
c)Xét về dịch vụ sau bán hàng:
Trong nền kinh tế thị trường “ Khách hàng là thượng đế”. Điều này
phản ánh một thực tế là các doanh nghiệp muốn tiêu thụ sản phẩm phải phụ
thuộc rất nhiều vào khách hàng. Vì thế, muốn giữ được khách hàng một cách
lâu dài, doanh nghiệp phải dành được ưu đãi cho khách hàng không chỉ vào
lúc bán hàng mà còn cả sau khi bán hàng. Các doanh nghiệp cung cấp các
dich vụ như dịch vụ vận chuyễn, bảo hành sản phẩm, lắp đặt…giúp cho khách
hàng cảm thấy yên tâm khi đang sư dụng sản phẩm của doanh nghiệp, tăng
thêm uy tín của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh khốc liệt.
d) Quang cáo, xúc tiến bán hàng :
Trong nền klinh tế thị trường, người yiêu dùnh đúng trước rất nhiều lụa
chọn và quền quyết định lụa chọn sản phẩm nào hoàn toàn phụ thuộc vào
thủ cạnh tranh nhằm xây dựng cho mình chính sách tiêu thụ hợp lý cho từng
thị trường, từng loại khách hàng.
Ngoài ra, các nhân tố thuộc về môi trường vĩ mô như đường lối chính
sách của nhà nước, trình độ phát triển của nền kinh tế, cơ sở hạ tầng…cũng
ảnh hưỡng không nhỏ đến việc tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.
2. SỰ CẦN THIẾT PHẢI DẨY MẠNH TIÊU THỤ SẢN PHẨM Ở DOANH NGHIỆP
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
2.1: Mối quan hệ giữa tai chính doanh nghiệp và tiêu thụ sản phẩm:
Tài chính doanh nghiệp xét về bản chất là các mối quan hệ phân phối
dưới hình thức giá trị gắn liền với việc tạo lập và sữ dụng các quỹ tiền tệ của
doanh nghiệp trong qua trình kinh doanh. Xét về hình thức, tài chính doanh
nghiệp phản ánh sự vận động và chuyển hoá của các nguồn lực tài chính trong
quá trình phân phối đẻ tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ của doanh nghiệp.
Nếu nhìn nhận tài chính doanh nghiệp trên cả hai trạng thái tĩnh và
độngằnh trên chúng ta mới có cái nhìn toàn diện hơn khi xem xét sự tác động
của tiêu thụ sản phẩm tới tài chính doanh nghiệp. Tiêu thụ sản phẩm xét trên
13
Nguyễn Hữu Lĩnh QTCL 44 Chuyên đề thực tập
các mặt lượng và tốc độ tiêu thụ nhanh, chậm đều tác động đến tài chính
doanh nghiệp.
Tình hình tài chính doanh nghiệp được đặc trưng bởi 4 nhóm chỉ tiêu:
_ Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán: Biểu hiện khả năng trả nợ của
doanh nghiệp, chỉ ra phạm vi, quy mô của các khoản nợ và mức độ đảm bảo
tài chính của các doanh nghiệp đối với các khoản nợ đó trong các thời kì phù
hợp với thời hạn nợ phải trả.
_ Nhóm chỉ tiêu về kết cấu tài chính: Thể hiện kết cấu vốn của doanh
nghiệp cho biết vốn của doanh nghiệp gồm những nguồn nào, tỷ trọng mỗi
nguồn là bao nhiêu, nguồn nào là chủ yếu…
_ Nhóm chỉ tiêu về hoạt động kinh doanh: Cho biết doanh nghiệp khai
thác và sử dụng các nguồn lực tài chính có hiệu quả hay không, việc quay
đến phá sản. Trong trường hợp doanh nghiệp không tiêu thụ được sản phẩm
thì hàng tồn kho tăng, vốn kinh doanh bị ứ đọng không thể quay vòng. Nếu
doanh nghiệp không có các giải pháp khắc phụ kịp thời thì sẽ đẫy đén bờ vực
phá sản
Như vậy, tiêu thụ sản phẩm có mối quan hệ chặt chẽ và tác động mạnh
mẽ đến tình hình tài chính của doanh nghiệp và đến lượt tài chính của doanh
nghiệp cũng có tác động không nhỏ tới công tác tiêu thụ, tới tất cả các khâu
của quá trình tiêu thụ:
_ Tài chính doanh nghiệp có vai trò tổ chức huy động, đảm bảo đầy đủ
kịp thời vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được
thường xuyên liên tục. Nhờ đó, doanh nghiệp mới có thể sản xuất ra những
sản phẩm đáp ứng đầy đũ yêu cầu về số lượng chất lượng, quy cách chủng
loại... theo yêu cầu của khách hàng.
_ Tài chính doanh nghiệp có nhiệm vị phân tích đánh giá và lựa chọn
phương án sản xuất kinh doanh với chi phí hợp lý nhất đảm bảo sản xuất ra
các sản phẩm có chất lượng tốt mà mà giá thnàh thấp nhất. Đây là cơ sở để
doanh nghiệp hạ giá bán sản phẩm, tạo thế mạnh trong cạnh tranh đễ kích
thích tiêu thụ.
15
Nguyễn Hữu Lĩnh QTCL 44 Chuyên đề thực tập
_ Tài chính doanh nghiệp căn cứ vào các thông tin về giá cả, quy mô thị
trường, đánh giá năng lực máy móc thiết bị, nhân công… để đề ra kế hoạch
tiêu thụ. Vì khi sản phẩm được sản xuất quá nhiều, không tiêu thụ hết nên làm
ứ đọng vốn, tăng các chi phí bảo quản, lưu kho bải, gây thiệt hại cho doanh
nghiệp. Hay khi kế hoạch đưa sản phẩm ra thị trường với khối lượng lớn
nhưng không đúng thời điểm cũng sẽ anh hưỡng đén tốc độ tiêu thụ sản phẩm
cũng như khối lượng tiêu thụ
_Tài chính doanh nghiệp thông qua chức năng giam đốc thực hiện quản
lý và giám sát thường xuyên các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Đối với khâu sản xuất, qua sổ sách số liệu ké toán, định mức kĩ thuật…
có lợi nhất cho doanh nghiệp , có vậy mới thúc đẩy sự phát triễn và tính hiệu
quả của cả công tác tiêu thụ sản phẩm và tài chính doanh nghiệp nói chung.
Đặc biệt trong bối cảnh các doanh nghiệp cạnh tranh gay gắt như hiện nay,
tiêu thụ sản phẩm trở nên khó khăn hơn rất nhiều, các doanh nghiệp áp dụng
các biện pháp phi tài chính vẫn chưa đủ mà còn cần phải quan tâm thích đáng
hơn nữa đến các chính sách về tài chính.
2.2: Sự cần thiết phải đẫy mạnh tiêu thụ sản phẩm bằng các giải
pháp kinh tế tài chính :
Trước khi chuyển sang nền kinh tế thi trường, các doanh nghiệp Việt
Nam không hề bận tâm đến viêc tiêu thụ sản phẩm. Họ chỉ cần thực hiện sản
xuất đủ chỉ tiêu kế hoạch nhà Nước . Khi chuyễn sang nền kinh té thị trường,
các doanh nghiệp phải đảm nhận toàn bộ các khâu từ sản xuất đén tiêu dùng,
tự xoay xỡ tìm đâù ra cho sản phẩm của mình . Lúc này, đẩy mạnh tiêu thụ đã
trở thành nhu cầu cấp thiết của tất cả ccá doanh nghiệp không muốn bị đào
thải bởi các quy luật khắc nghiệt trên thương trường .
Tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng của một chu kì sản xuất kinh
doanh và mỡ đầu cho một chu kì sản xuất mới. Doanh nhiệp đầu tư vốn mua
các yếu tố đầu vào, tiến hanh sản xuất kinh doanh đẻ cuối cùng thu lại được
đồng vốn của mình dưới hình thái tiền tệ. Với hình thái này, vốn lại dược sữ
17
Nguyễn Hữu Lĩnh QTCL 44 Chuyên đề thực tập
dụng cho chu kì sản xuất kinh doanh mới. Như vậy vốn của doanh nghiệp chỉ
trở lại hình thái tiền tệ thông qua con đường tiêu thụ sản phẩm hàng hoá.
Thực hiện tốt công tác tiêu thụ sản phẩm sẽ làm tăng hiệu quả sử dụng vốn
lưu động của doanh nghiệp. Vốn lưu động là toàn bộ số tiền ứng trước để
mua sắm tái sản lưu động phụ vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Qua mỗi giai đoạn của chu kì kinh doanh, vốn lưu động lại thay đôir
hình thái biểu hiện, từ hình thái vốn tiền tệ ban đầu chuyển sang hình thái vốn
vật tư hàng hoá dự trữ và vốn sản xuất, rồi cuối cùng trở lại hình thái vốn tiền
tệ. Sau mỗi chu kỳ sản xuất, vốn tiền tệ hoàn thành một vòng luân chuyển.
nghiệp còn có tích luỹ để mở rộng tái sản xuất hoặc chớp cơ hội liên doanh
liên kết …
Việc đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm đến mức độ nào đó sẽ giúp doanh
nghiệp khẳng định được vị trí của mình trên trương trường. Bởi lẽ khối lượng
sản phẩm hàng hoá, dịch vụ doanh nghiệp dược tiêu thụ càng nhiều thể hiện
thị phần mà doanh nghiệp chiếm lĩnh ngày càng tăng, sản phẩm của doanh
nghiệp ngày càng được đông đảo người tiêu dùng biết đến. (( quen mặt,đắt
hàng)), uy tín của doanh nghiệp ngày càng cao, thương hiệu của doanh nghiệp
dần được định vị, nhờ vậy khả năng canh tranh của doanh nghiệp so với các
đối thủ khác tăng lên rất nhiều.
Ngày nay khi nước ta chuẩn bị hội nhập về thương mại với khu vực và
thế giới , tăng cường thương mại quốc tế , xoá bỏ các hàng rào thuế quan bảo
hộ thì các doanh nghiệp Việt Nam lại đứng trước những yêu cầu mới, khó
khăn hơn rất nhiều. Trong đó một nhiệm vụ vô cùng cấp thiết đang đặt ra đối
với các doanh nghiệp Việt Nam là pahỉ tìm mọi cách đãy mạnh tiêu thụ sản
phẩm nhằm nhanh chân chiếm lĩnh thị trường, khẵng định thương hiệu của
các daonh nghiệp Việt Nam. Bởi lẽ nếu không tận dụng thời cơ chiếm lĩnh thị
trường trong nước thì khi hội nhập,việc cạnh tranh với các công ty, tập đoàn
lớn nước ngoài sẽ khó khăn hơn gấp bội đối với các doanh nghiệp Việt Nam,
đấy là chưa kể đến việc tìm đến một chổ đứng trên thị trường nước ngoài. Vì
lẽ đó các doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp, sữ dụng mọi công cụ có
19
Nguyễn Hữu Lĩnh QTCL 44 Chuyên đề thực tập
trong tay để có thể đẫy mạnh tiêu thụ sản phẩm. Bên cạnh những giải pháp về
quản lý và giải pháp kinh tế kỹ thuật, các giải pháp về tài chính để đẩy nhanh
quá trình tiêu thụ tỏ ra rất hiệu quả. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác
nhau trong đó có nguyên nhân về nhận thức và trinh độ, ccá giải pháp về tài
chính trong lĩnh vực tiêu thụ sản phẩm chưa được các doanh nghiệp quan tâm
đúng mức. Vì thế công tác tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp vẩn còn nhiều
bất cập là ảnh hưỡng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh:
Địa chỉ: 778/13/ Nguyễn Kiệm - P4 - quận Phú Nhuận
Tel: 08 8955854
Fax: 08 8421823
21
Nguyễn Hữu Lĩnh QTCL 44 Chuyên đề thực tập
Chức năng của công ty:
Là một doanh nghiệp nhà nước chuyên sản xuất kinh doanh bánh kẹo,
Công ty có chức năng sau:
Công ty chuyên kinh doanh, sản xuất bánh kẹo phần lớn đáp ứng nhu
cầu trong nước và một phần dành cho xuất khẩu.
Lịch sử ra đời và các giai đoạn phát triển
Haihaco là một doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Bộ công nghiệp
quản lý. Trải qua 44 năm xây dựng trưởng thành với nhịp bước thăng trầm
gắn liền với từng thời kỳ phát triển. Quá trình phát triển có thể tóm tắt như
sau:
* Giai đoạn từ 1959 - 1960:
Tháng 1/1959, Tổng công ty nông thuỷ sản miền Bắc đã xây dựng một
cơ sở thực nghiệm nghiên cứu hạt trân châu (TAPIOCA) với 9 cán bộ công
nhân viên của Tổng công ty gửi sang do đồng chí Võ Trị làm giám đốc.
Từ giữa năm 1959 đến tháng 4/1960, thực hiện chủ trương của Tổng
công ty nông thuỷ sản miền Bắc, anh chị em trong công ty đã bắt tay vào
nghiên cứu, thử nghiệm và sản xuất mặt hàng miến từ nguyên liệu đậu xanh
để cung cấp miến cho nhu cầu tiêu dùng của nhân dân.
Ngày 25/12/1960 xưởng miến Hoàng Mai ra đời đánh dấu bước ngoặt
đầu tiên cho sự phát triển của nhà máy sau này.
* Giai đoạn từ 1962 - 1967:
Từ năm 1961 - 1965, Xưởng miến Hoàng Mai đã tập trung nhân lực và
mở rộng sản xuất và là mặt hàng chính của xí nghiệp. Đồng thời xí nghiệp đã
thử nghiệm thành công và đưa vào sản xuất mặt hàng xì dầu cung cấp nước
Công ty liên doanh với công ty kameda Nhật Bản thành lập liên doanh
Hâih-Kotobuki.
Công ty liên doanh với công ty của Hàn Quốc thành lập liên doanh
Haiha-Miwon.
23
Nguyễn Hữu Lĩnh QTCL 44 Chuyên đề thực tập
Tháng 7/1992, theo quyết định số 216/CNN-TCLD của bộ công nghiệp
nhẹ (24/3/1992) nhà máy đổi tên thành Công ty bánh kẹo Hải Hà với tên giao
dịch là HAIHACO thuộc Bộ Công nghiệp nhẹ quản ld .
Tháng 9/1995, công ty sát nhập nhà máy Việt Trì
Tháng 7/1996 công ty sát nhập thêm nhà máy bột dinh dưỡng Nam Định.
Như vậy với chỗ đứng hiện nay, Công ty bánh kẹo Hải Hà đã phải trải
qua nhiều khó khăn. Hiện nay rất nhiều các cơ sở sản xuất đã phải giải thể
hoặc sát nhập với công ty khác để hợp tác sản xuất kinh doanh do khả năng
cạnh tranh suy giảm thế nhưng Công ty bánh kẹo Hải Hà bằng tiềm lực sẵn có
với nỗ lực không ngừng vươn lên đã tự khẳng định mình và tiếp tục thực hiện
chức năng sản xuất kinh doanh phục vụ nhu cầu xã hội ngày càng tốt hơn.
Tính đến nay, Công ty có 5 xí nghiệp thành viên và 2 công ty liên doanh.
Năm 2003, thực hiện chủ trương cổ phần hoá công nghiệp nhà nước của
Chính phủ và theo quyết định số 191/2003/QĐ-BCN ngày 14/11/2003 của Bộ
trưởng bộ công nghiệp Công ty chuyển thành "Công ty cổ phần bánh kẹo Hải
hà" với 51% vốn nhà nước, 49% còn lại bán cho nhân viên.
Đồng thời với việc thành lập công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà thì công
ty cũng phải cải cách lại cơ cấu công ty đặc biệt là quyền quản lý đối với hai
liên doanh HaiHa-Kotobuki và Haiha-Miwon.
Haiha-Kotobuki chuyển về cho bộ công nghiệp quản lH ý.
Haiha-Miwon chuyển thành công ty 100% vốn nước ngoài.
Ngày 20/1/2004 công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà chính thức đi vào hoạt
động.
Trong quá trình phát triển, công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà luôn là lá cờ
Cơ cấu tổ chức của công ty được thể hiện dưới sơ đồ sau:
Sơ đồ 1: Bộ máy tổ chức của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà
25