Lời nói đầu
Từ sau khi mở cửa, cải cách nền kinh tế, Việt Nam đã đạt đợc những
thành tựu nhất định trên đờng phát triển: tốc độ tăng trởng GDP giai
đoạn 1991-1996 bình quân đạt 8,4%, năm 1997 và 1998 đạt 8,15%, mặc
dù chịu ảnh hởng của cuộc khủng hoảng tài chính chính tiền tệ, tốc độ vẫn
đạt 5,83%. Đây là những con số rất có ý nghĩa. Nó khẳng định tính đúng
đắn trong đờng lối, chính sách phát triển của Đảng và Nhà nớc ta. Để có
đợc kết quả đó, chúng ta không thể phủ nhận những đóng góp to lớn của
ngoại thơng-chiếc cầu nối giữa kinh tế Việt Nam và kinh tế thế giới.
Trong giai đoạn hiện nay, khi xu hớng toàn cầu hoá và khu vực hoá
bùng nổ thì Việt Nam lại càng cần mở cửa để hoà nhập với sự phát triển
của quốc tế, tránh tụt hậu. Càng mở cửa, hoà nhập thì hơn bao giờ hết,
ngoại thơng lại càng khẳng định vị trí quan trọng của mình. Vì vậy, việc
nghiên cứu hoạt động ngoại thơng của nớc ta là cần thiết, không thể chậm
trễ. Qua bài viết này, chúng ta có thể đa ra những cái nhìn rõ hơn về thực
trạng, hớng đi cho ngoại thơng Việt Nam. Từ đó đề xuất những chính
sách, giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của lĩnh
vực này. Làm tốt đợc điều này cũng có nghĩa là góp phần thực hiện thắng
lợi công cuộc CNH-HĐH đất nớc, đa Việt Nam phát triển ở một vị trí
xứng đáng trên trờng quốc tế.
1
Phần I
Ngoại thơng và vai trò của nó đối với
phát triển kinh tế
I-/ Nguồn gốc ra đời và lợi thế cạnh tranh của hoạt động
ngoại thơng.
1-/ Nguồn gốc ra đời của hoạt động ngoại thơng.
Từ khi xuất hiện trên trái đất, con ngời đã biết tự tìm kiếm, khai thác những
vật thể trong tự nhiên để sinh tồn. Qua thời gian, trớc những thử thách khắc nghiệt
của tự nhiên con ngời đã phát triển không ngừng, kinh nghiệm sống đợc đúc rút.
Cũng qua quá trình phát triển, phân công lao động (PCLĐ) nảy sinh và ngày càng
xuất, trao đổi hàng hoá. Khi cha có ngoại thơng, mỗi quốc gia đều phải cố gắng sản
xuất ra sản phẩm phục vụ tiêu dùng xã hội bằng mọi giá, nhng khi phát hiện ra lợi thế
trong mua bán, trao đổi quốc tế, vấn đề này đã đợc giải quyết. Đó là lợi thế tuyệt đối và
lợi thế tơng đôi (lợi thế so sánh) của hoạt động ngoại thơng. Lợi thế tuyệt đối là lợi thế
có đợc trong điều kiện so sánh chi phí để sản xuất ra cùng một loại sản phẩm. Mỗi
quốc gia sẽ tập trung vào sản xuất những mặt hàng có chi phí sản xuất thấp hơn các n-
ớc khác, sau đó đem trao đổi. Còn các quốc gia khác, khi có chi phí sản xuất ra mặt
hàng này bất lợi thì nên nhập khẩu. Với việc nhập khẩu và xuất khẩu nh vậy sẽ đem lại
lợi ích cho cả 2 bên. Đối với các nớc xuất khẩu sẽ càng thu đợc nhiều lợi nhuận hơn
khi bán sản phẩm trên thị trờng quốc tế, còn các nớc nhập khẩu không phải lãng phí
nguồn lực khi cố gắng sản xuất ra những sản phẩm không có hoặc ít có điều kiện để
sản xuất.
Nhng liệu một nớc, mà việc sản xuất ra tất cả các hàng hoá đều bất lợi hơn
tất cả các nớc khác thì có thể tham gia vào quá trình thơng mại quốc tế đợc
không? Câu trả lời đợc lợi thế so sánh đa ra là có. Nếu lợi thế tuyệt đối đợc xem
xét dựa vào chi phí sản xuất, thì lợi thế so sánh dựa vào chi phí so sánh. Đó là chi
phí có đợc trên cơ sở thực hiện chuyên môn hoá sản xuất vỡi những sản phẩm có
năng suất cao hơn. Lợi thế so sánh chỉ ra một nớc nên tập trung vào việc sản xuất
3
ra những sản phẩm mà mình có khả năng sản xuất tốt nhất trên cơ sở so sánh về
năng suất lao động với nớc trao đổi. Là nh vậy sẽ tận dụng đợc tối đa nguồn lực
của từng nớc, đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất.
Để làm rõ hơn, ta xét một ví dụ về chi phí sản xuất thép và quần áo giữa Việt
Nam với Nga theo số liệu cho ở bảng sau:
Bảng 1: Chi phí sản xuất
Sản phẩm
Chi phí sản xuất
(ngày công lao động)
Việt Nam Nga
- Thép (1 đơn vị) 25 16
nhiên. Trong 6 nhân tố trên thì 4 nhân tố đầu giữ vai trò quyết định. Hơn thế nữa,
nếu lợi thế dựa trên một trong 4 nhân tố đó đợc phát huy ở mực độ cao thì lợi thế
dựa trên các nhân tố khác sẽ dần xuất hiện do sự tác động qua lại lẫn nhau giữa
chúng. Ngợc lại, việc để mất lợi thế cạnh tranh dựa trên 1 trong những nhân tố kể
trên cũng dễ dẫn đến việc mất lợi thế dựa trên những nhân tố khác.
Trên cơ sở lí thuyết của M. Porter, xem xét đến Việt Nam, ta thấy trong giai
đoạn hiện nay có những lợi thế cạnh tranh nh sau:
Lợi thế về nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng: theo đánh
giá của các chuyên gia kinh tế Việt Nam cũng nh nớc ngoài, Việt Nam là quốc gia
có nguồn tài nguyên tơng đối phong phú, đa dạng. Việt Nam là quốc gia có rừng
đa sinh vật, có biển với nguồn thuỷ sản đa dạng và có nhiều loại khoáng sản khác
nhau từ dầu khí cho đến đất hiếm, than nâu...Với khi hậu nhiệt đới, nớc ta cũng
thuận lợi cho việc phát triển cây nông nghiệp và cây công nghiệp. Bên cạnh đó,
Việt Nam còn có nguồn nớc dồi dào. Tiềm năng nớc bề mặt rất lớn và phân bố đều
khắp ở các vùng. Nớc ngầm của ta tuy không lớn nhng cũng có thể đáp ứng đợc
nhu cầu nớc công nghiệp và nớc tiêu dùng của dân c.
Về vị trí địa lí: Việt Nam nằm ở Tây Thái Bình Dơng-khu vực phát triển
kinh tế cao, ổn định, nơi cửa ngõ giao lu quốc tế. Do đó, VN có nhiều khả năng để
5
phát triển các loại hình kinh tế khác nhau dựa trên những lợi thế về vận tải biển,
dịch vụ viễn thông, du lịch...
Về tài nguyên con ngời: Với khoảng 78 triệu dân, VN là quốc gia có dân số
đông thứ 13 trên thế giới. Ước tính, mỗi năm nớc ta có khoảng 1,2 triệu ngời bớc
vào tuổi lao động. Đây là nguồn lực lao động dồi dào, sẵn sang cung cấp cho nền
kinh tế. Không những thế, giá lao động của ta lại thuộc vào loại rẻ so với thế giới
và khu vực.
Những lợi thế trên của VN, theo quan điểm của M.Porter, thực chất là những
lợi thế về chi phí sản xuất dựa trên các điều kiện sản xuất vốn có. Nhờ đó, hàng
hoá và dịch vụ sản xuất tại VN có sức cạnh tranh về giá cả, đặc biệt là những hàng
hoá có hàm lợng lao động và nguyên liệu cao. Tuy nhiên, đây cũng là những lợi
thác tài nguyên thiên nhiên, sản xuất các sản phẩm sơ chế, từ đó, nó thúc đẩy các
ngành công nghiệp khai khoáng, chế biến không ngừng phát triển cả về số lợng và
chất lợng. Kết quả là tạo ra nhiều việc làm cho ngời lao động, tăng đội ngũ công
nhân lành nghề và tất yếu dẫn đến tăng quy mô sản xuất của nền kinh tế.
Làm nảy sinh các mối liên kết trong kinh tế: Với sự phát triển của công
nghiệp khai khoáng, chế biến, trớc hết, nó tác động ngợc trở lại với các ngành
cung ứng nguyên liệu, tạo ra mối liên hệ ngợc. Chẳng hạn, sự phát triển của
công nghiệp dệt sẽ tạo ra nhu cầu đối với nguyên liệu bông và thuốc nhuộm, do
đó, đẩy mạnh sản xuất những ngành này. Sự phát triene của các ngành có liên
quan còn đợc thể hiện qua mối liên hệ gián tiếp thông qua nhu cầu về hàng tiêu
dùng. Mối liên hệ này nảy sinh khi phần lớn lực lợng lao động có mức thu nhập
ngày càng tăng, tạo ra nhu cầu tăng thêm về hàng tiêu dùng. Kết quả là công
nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng cũng đợc kích thích phát triển.
Tạo ra sự thay đổi cơ cấu của nền kinh tế: Ban đầu là sự phát triển của
công nghiệp khai khoáng và các ngành nông nghiệp chăn nuôi, trồng cây lơng
thực và cây công nghiệp có khả năng xuất khẩu. Tiếp đến là sự phát triển của công
nghiệp chế biến tạo ra các sản phẩm sơ chế nh gạo, cà phê, cao su...
7
Trớc những năm 50 chiến lợc này đã mang lại sự tăng trởng đáng kể cho
nhiều nớc, trong đó có cả 1 số quốc gia phát triển nh Mĩ, Canada, Cộng hoà liên
bang Đức...do có các lợi thế so sánh về xuất khẩu lơng thực, thực phẩm và 1 số
khoáng sản thô khác. Cũng bằng con đờng này, 1 số nớc nghèo nh Côlômbia,
Mêhicô, Malaysia, Philipin...trong thời kì đầu CNH (những năm 50-60) đã tạo ra
đợc những động lực đầu tiên cho sự phát triển nhờ có lợi thế so sánh về một số sản
phẩm xuất khẩu nh: cao su, cà phê, dầu dừa, dầu cọ, quặng kim loại...Thực trạng
này đã lý giải vì sao đến cuối những năm 60, xuất khẩu hàng thô và sơ chế chiếm
đến 80% tổng kim ngạch xuất khẩu của các nớc đang phát triển. Tuy nhiên, việc
thực thi chiến lợc này cũng có nhiều hạn chế, trở ngại đối với các nớc. Nó thể
hiện:
Hiệu quả kinh tế không cao: Nhiều nàh kinh tế đã đa ra kết luạn rằng: đây
về cà phê (ICO). Tổ chức này đã đa ra hạn mức xuất khẩu cho từng nớc tham gia.
Tổ chức của các nớc xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) cũng đạt đợc những thành công
nhất định. Từ năm 1974 đến 1982, OPEC đã tăng đợc giá dầu từ 4USD/ thùng lên
hơn 30USD/ thùng. Nhng giải pháp này cũng có hạn chế của nó. Đó là mức độ
thực hiện cam kết của các nớc thành viên. Thờng các nớc có xu hớng tăng thêm
sản lợng so với hạn mức để tranh thủ giá trên thị trờng, kết quả là xảy ra phản ứng
dây chuyền với các nớc khác và trật tự kinh tế quốc tế bị phá vỡ.
Giải pháp kho đệm dự trữ quốc tế
Với giải pháp này, Liên hợp quốc kêu gọi các nớc xây dựng các kho đệm dự
trữ quốc tế mà mỗi loại kho phục vụ cho 1 loại sản phẩm thô. Vẫn đề đóng kinh
phí cho hoạt động các các kho khác với trật tự kinh tế mới là Liên hợp quốc bắt
buộc đối với cả nớc xuất khẩu lẫn nớc nớc nhập khẩu. Nhiệm vụ của kho là duy trì
một lợng sản phẩm thô trên thị trờng sao cho giá cả của nó không gây bất lợi cho
cả nớc xuất khẩu và nớc nhập khẩu. Thực thi giải pháp này cũng vấp phải vấn đề là
nhiều khi không cod đầy đủ thông tin từ kho đệm đến sản xuất dễ khiên cho ngời
sản xuất nhận đợc những tín hiệu không đúng về cung-cầu sản phẩm và làm cho
kho hoạt động kém hiệu quả, thậm chí còn gây ra tác hại xấu đến thị trờng.
9
Nhìn chung cả 2 biện pháp có khác nhau về cách thức thực hiện nhng đều tác
động đến lợng hàng hoá cung ứng trên thị trờng và từ đó tác động đến giá cả để nó
không gây ra những bất lợi cho các nớc xuất khẩu và kể cả với nớc nhập khẩu.
2-/ Chiến lợc thay thế hàng nhập khẩu (chiến lợc hớng nội)
Những năm của thập niên 50-60, hầu hết các nớc đang phát triển ở châu á,
châu Phi, Mĩ-Latinh đều thực hiện CNH đất nớc bằng chiến lợc phát triển kinh tế
hớng nội mà nội dung chủ yêú của nó là việc đề cao sản xuất hàng thay thế nhập
khẩu.
Phơng pháp tiếp cận với chiến lợc này là: Trớc hết, các nhà sản xuất trong n-
ớc cần xác định rõ nhu cầu thị trờng trong nớc qua số lợng nhập khẩu thực tế hàng
năm để lập kế hoạch phát triển sản xuất kinh doanh. Sau đó, sẽ tiến tới đẩy mạnh
phát triển sản xuất trong nớc, mà trớc hết là công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng,
Bên cạnh những điều kiện trên, thực thi chiến lợc hớng nội còn vấp phải nhng
khó khăn khác nữa. Những cái khó của hớng nội thể hiện ở một số điểm sau:
- Từ cuối những năm 60, chiến lợc thay thế nhập khẩu đã bị hạn chế dần tác
dụng ở một loạt nớc, trớc tiên là các nớc Mĩ-Latinh, sau đó lan rộng ra các nớc
châu á, châu Phi. Nguyên nhân sự thất bại này là do chiến lợc ngày càng tỏ ra lạc
hậu trớc xu thế mở cửa, phát triển mạnh các quan hệ hợp tác và phân công lao
động quốc tế. Với việc đề cao hớng nội sẽ làm hạn chế tự do hoá thơng mại, vi
phạm quy luật lợi thế so sánh qua đóng cửa, bế quan toả cảng nền kinh tế.
- Do đề cao quan điểm tự lực cánh sinh, nhiều khi các nớc phải sản xuất ra
sản phẩm thay thế nhập khẩu với bất cứ giá nào. Làm nh vậy sẽ gây lãng phí
nguồn lực sản xuất.
- Một lí do nữa là công nghiệp thay thế nhập khẩu thờng phải tách rời những
khu vực sản xuất vật chất truyền thống, vì thế nảy sinh ra 1 mâu thuẫn là để phát
triển mạnh công nghiệp thay thế nhập khẩu thì lại càng phải tăng nhập khẩu
11
nguyên liệu, máy móc...Điều này trái với chính sách tiết kiệm ngoại tệ, mà hầu hết
các nớc áp dụng chiến lợc này đều nằm trong diện kém và cha phát triển. Từ đó,
các nớc này ngày càng lâm vào tình trạng vay nợ, phụ thuộc vào các nguồn vốn
đầu t của t bản nớc ngoài.
Nh vậy, chiến lợc này cũng có khá nhiều nhợc điểm. Nó đòi hỏi khi áp dụng
chiến lợc, các nớc phải có sự nghiên cứu kĩ càng, tránh áp dụng 1 cách dập khuôn
máy móc. Một điển hình cho việc áp dụng không thành công chiến lợc phát triển
hớng nội là Myanma. Nhìn lại lịch sử ta thấy Myanma đã kiên trình theo đuổi
chiến lợc này trong suốt những năm 50-60. Nhng trong quá trình thực hiện, do
điều kiện không phù hợp, các chính sách đa ra không hợp lí đã dẫn đến thất bại.
Kết quả là Myanma lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế trầm trọng, trở thành
một nớc nghèo nhất thế giới: GDP/ ngời chỉ có 200USD, mặc dù Myanma có lực l-
ợng lao động đông, diện tích đất đai lớn, có trữ lợng khá về dầu lửa và nhiều
nguồn tài nguyên khác, đặc biệt là có nhiều khả năng phát triển nông-lâm-ng
nghiệp. Nhng nh vậy, không có nghĩa là chiến lợc này lợi ít hơn hại. Thất bại của
hớng ngoại, lấy xuất khẩu dẫn đờng, thúc đẩy kinh tế phát triển. Kết quả là chỉ sau
20-30 năm kể từ khi bắt đầu tiến hành CNH, các nớc này đã đạt đợc nhiều thành
tựu trên con đờng phát triển, trở thành các nớc công nghiệp của châu á (NIES).
Năm 1960, kim ngạch xuất khẩu của 4 con rồng mới chỉ chiếm 1,6% kim ngạch
xuất khẩu của thế giới, nhng sau một thời gian hớng ngoại mạnh mẽ, con số này
đã tăng lên tới 8,6% vào năm 1991. Điều đáng quan tâm là, trong suốt 30 năm
qua, từ khi các nớc NIES châu á tiến hành CNH, mặc dù thế giới có nhiều biến
động phức tạp nhng họ vẫn luôn giữ đợc tốc độ tăng trởng kinh tế cao và ổn định.
Trong thập kỉ 60, tốc độ tăng trởng bình quân hàng năm của 4 con rồng là 9%,
những năm của thập niên 70 là 9,1% và thập kỉ 80, mặc dù đã chậm lại song vẫn
giữ đợc tốc độ tăng trởng hàng năm khá cao là 7,5%. Để đạt đợc kết quả trên là sự
kết hợp, tác động tổng hợp của nhiều nhân tố, nhng nhân tố quan trọng nhất làm
nên thành tựu đó, là họ đã lựa chọn và sử dụng chiến lợc hớng ngoại một cách hợp
lí, sáng tạo. Việc thực thi chiến lợc này tạo ra nhiều tác động tích cực đối với phát
triển kinh tế. Điều này đợc thể hiện:
13
Hớng ngoại tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nớc ngày càng nâng
cao sức cạnh tranh trên thị trờng quốc tế. Trái ngợc với hớng nội là tạo ra sức ỳ,
tính ỷ lại của các doanh nghiệp trong nớc, với chiến lợc hớng ngoại, nó đẩy các
doanh nghiệp vào tình thế cạnh tranh khốc liệt và đòi hỏi các doanh nghiệp phải
năng động để có thể tự đứng vững trên thị trờng. Qua quá trình tôi luyện, sức cạnh
tranh của các doanh nghiệp tăng lên, không chỉ trong nớc mà có thể vơn xa ra thị
trờng thế giới.
Thúc đẩy việc tạo ra một cơ cấu kinh tế mới năng động hơn, thông qua việc
phát huy đầy đủ các mối liên kết trong kinh tế. Với việc tạo ra các mối liên kết
trực tiếp và gián tiếp, nền kinh tế sẽ có đợc những kích thích cho sự phát triển và
tiến tới một cơ cấu kinh tế mới năng động hơn, sẵn sàng hoà nhập, sẵn sàng cạnh
tranh với trình độ chuyên môn hoá sản xuất ngày càng sâu rộng, kĩ thuật và năng
lực sản xuất không ngừng biến chuyển theo hớng hiện đại hoá.
Hớng ra thị trờng thế giới còn góp phần tạo thêm việc làm cho ngời lao
loại chiến lợc thành chiến lợc phát triển hỗn họp, mặc dù khi thực hiện nó, tuỳ
theo từng thời kì lịch sử cụ thể, những đặc điểm, quy định cụ thể của tiến trình
CNH mà mỗi nớc đều có sự nhấn mạnh trọng tâm vào phát triển loại chiến lợc này
hay chiến lợc khác. Cũng qua thực tiễn áp dụng, ta có thể khẳng định tính u việt,
hơn hẳn của nó đối với phát triển kinh tế. Bởi lẽ nó tạo ra một sự kết hợp hài hoà,
cân đối giữa các chiến lợc, từ đó có thể phát huy u điểm, hạn chế nhợc điểm của
từng chiến lợc. Khó có thể thực thi riêng biệt, rạch ròi từng chiến lợc cụ thể mà
cần có sự tơng trợ lẫn nhau giữa chúng, đặc biệt là giữa hớng nội và hớng ngoại.
Không thể hớng ngoại khi cha hớng nội, cha đủ sức cạnh tranh; cũng không nên
bỏ qua hớng ngoại khi hớng nội đã đến giai đoạn chín muổi.
Với Việt Nam, việc lựa chọn một chiến lợc phát triển tổng hợp sẽ là hợp lí
hơn cả. Điều này có thể lí giải nh sau:
- Đối với loại chiến lợc xuất khẩu sản phẩm thô và sơ chế: đó là loại chiến l-
ợc hớng về xuất khẩu ở trình độ sơ đẳng và đợc đánh giá là chiến lợc bán rẻ tài
nguyên, song nó cũng có những đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế-xã hội.
Với thực tiễn còn kém phát triển, trong khi nguồn tài nguyên khá dồi dào nh Việt
15
Nam, nhất là lại đang trong giai đoạn đầu của quá trình CNH-HĐH đất nớc hiện
nay thì Việt Nam khong thể bỏ qua chiến lợc này. Tuy bán rẻ tài nguyên nhng
đây sẽ là điểm nhất bổ trợ cho giai đoạn sau của phát triển với việc tạo ra ngoại tệ,
tăng nguồn thu cho đất nớc, cộng thêm những kinh nghiệm khi tham gia vào thị tr-
ờng thế giới thông qua xuất khẩu. Thực tế những năm qua, sản phẩm thô và sơ chế
là mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam, chiếm tới 70-80% trong tổng kim
ngạch xuất khẩu của đất nớc. Nhng đã đến lúc Việt Nam cần xem xét lại cơ cấu
xuất khẩu của mình, không nên tập trung, nhng cũng không nên xem nhẹ chiến l-
ợc này. Điều cốt yếu là đa ra đợc mức độ, cơ cấu mặt hàng hợp lí nhất cho xuất
khẩu sản phẩm thô và sơ chế. Vấn đề này chúng ta sẽ đề cập đến ở phần III.
- Về loại chiến lợc thay thế nhập khẩu: cần phải nhận thấy rằng, tự bản thân
chiến lợc này không phải là chiến lợc tiêu cực, bế tắc mà ngợc lại, nó hoàn toàn có
tác dụng tích cực đối với tăng trởng và phát triển kinh tế nếu biết vận dụng 1 cách
cộng thêm các chính sách hỗ trợ thích đáng, hợp lí từ phía chính phủ, chiến lợc
này sẽ phát huy tác dụng một cách cao nhất.
III-/ Vai trò của ngoại thơng với phát triển kinh tế:
Tromg cơ chế mở, ngoại thơng giữ vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình
tăng trởng và phát triển kinh tế. Điều này đợc thể hiện qua 3 tác động cơ bản sau của
ngoại thơng:
1-/ Thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng CNH, HĐH:
Những nhân tố cơ bản tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của
một đất nớc đó là sự phát triển của lực lợng sản xuất, sự tác động của tiến bộ khoa
học kỹ thuật và các quan hệ hợp tác quốc tế về đầu t và thu hút vốn đầu t nớc
ngoài. Chính ngoại thơng là chủ thể tác động trực tiếp , sâu sắc tới những nhân tố
này, từ đó thúc đẩy các nhân tó phát triển không ngừng và kết quả là cơ cấu kinh
tế cũng không ngừng đợc chuyển dịch, tạo ra một cơ cấu kinh tế năng động, phù
hợp và ngày càng hoàn thiện theo hớng CNH, HĐH.
- Sự tác động của ngoại thơng đến phát triển lực lợng sản xuất đợc thể hiện
qua việc chuyên môn hoá sản xuất và phân công lao động xã hội. Phân công lao
17
động xã hội càng cao, chuyên môn hoá càng sâu sắc, cũng có nghĩa là lực lợng sản
xuất càng phát triển.
Ngoại thơng với quy luật chi phối là lợi thế cạnh tranh đã đã hớng các hoạt
động sản xuất đi vào chuyên sâu trong việc sản xuất ra các hàng hoá, dịch vụ. Các
sản phẩm có lợi thế cạnh tranh cao nhất sẽ đợc các nớc tập trung sản xuất, với các
sản phẩm bất lợi họ sẵn sàng nhập khẩu từ các nớc khác và dành việc sản xuất
chúng cho những nớc có điều kiện thuận lợi hơn. Sự phân công lao động quốc tế từ
đâu nảy sinh và không ngừng tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng
ngày càng hiện đại.
Nh đã đề cập, phân công lao động quốc tế là điều kiện tiên quyết để phát
triển ngoại thơng. Điều này đã đẩy nhanh quá trình quốc tế hoá lực lợng sản xuất
đang diễn ra đồng bộ ở tất cả các quốc gia và hầu hết các lĩnh vực khác nhau của
quan hệ kinh tế quốc tế. Thông qua cầu nối thơng mại quốc tế, các nớc dù ở trình
nhiều bộ phận, trong đó cán cân ngoại thơng ( hay còn gọi là cán cân mậu dịch
hay cán cân hữu hình) là một bộ phận cấu thành quá trình nhất. Trong cán cân
ngoại thơng thì cán cân thanh toán vãng lai (do cán cân dịch vụ và cán cân chuyển
tiền đơn phơng hợp thành) lại giữ vị trí quan trọng nhất. Sự d thừa hay thiếu hụt
của nó có tác động trực tiếp đến cung - cầu ngoại tệ trên thị trờng ngoại hối của
một nớc, nghĩa là trực tiếp ảnh hởng đến tỷ giá của các ngoại tệ so với đồng nội tệ
của nớc đó. Nh vậy, phát triển hoạt động ngoại thơng góp phần cải thiện cán cân
thanh toán quốc tế, thông qua đó, nó điều tiết đến tỷ giá, lạm phát và vấn đề ổn
định kinh tế vĩ môcủa một đất nớc.
Song song với sự phát triển của hoạt động ngoại thơng hữu hình, các hoạt
động ngoại thơng vô hình cũng không ngừng gia tăng, sôi động nh: Du lịch quốc
tế, GTVT quốc tế, thông tin liên lạc quốc tế, bảo hiểm quốc tế, dịch vụ kiều hối...
Các hoạt động nảy không chỉ làm tăng hiệu quả của hoạt động ngoại thơng mà nó
còn những tác động tích cực thúc đẩy các hoạt động kinh tế đối ngoại khác phát
triển. Các hoạt động kinh tế đối ngoại khác, nếu đạt đợc hiệu quả tốt, đến lợt mình
lại tác động tích cực trở lại để ngoại thơng tiếp tục phát triển tốt hơn và do đó sẽ
19