ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
KHOA KẾ TOÁN – TÀI CHÍNH
TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI: FDI VÀ THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ FDI
VÀO VIỆT NAM HIỆN NAY
Giảng viên hướng dẫn : Bùi Thành Công.
Những người thực hiện:
1. Trần Viền
2. Nguyễn Vĩnh Thuận
3. Nguyễn Ngọc Cường
4. Phan Việt Dũng
5. Huỳnh Công Ửng
6. Nguyễn Thị Oanh Thư
7. Bạch Thị Thùy Trang
8. Hồ Thị Ngọc Châu
9. Philadeng souliphoutta
10. Phommaxay Phoumalink
Huế, Tháng 10 năm 2012
FDI và thực trạng đầu tư FDI vào Việt Nam hiện nay
PHẦN MỞ ĐẦU
Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài lần đầu tiên được ban hành năm 1987 đã chính
thức thể hiện quan điểm mở cửa, hội nhập nền kinh tế Việt Nam với nền kinh tế khu
vực và thế giới. Nhìn lại 20 năm thực hiện, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đóng góp
một nguồn vốn đầu tư quan trọng góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa, mở ra nhiều ngành nghề và
sản phẩm mới, góp phần nâng cao năng lực quản lý và chuyển giao công nghệ tiên tiến
trên thế giới, mở rộng thị trường xuất khẩu và tạo ra nhiều việc làm mới.
Đến nay, đã có 100 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư vào Việt Nam; trong đó
Để thực hiện đề tài, chúng tôi chọn phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích.
3
FDI và thực trạng đầu tư FDI vào Việt Nam hiện nay
- Phương pháp so sánh.
- Phương pháp thống kê.
- Phương pháp miêu tả.
5. Giới hạn nghiên cứu.
- Do hạn chế về thời gian và kiến thức nên mức độ nghiên cứu chưa sâu.
- Nhận định còn mang tính chủ quan nên độ chính xác chưa cao.
- Thông tin thu thập chủ yếu từ Internet nên có thể thiếu sót và thiếu độ tin cậy.
II. Một số vấn đề lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
1. Khái niệm.
Theo quan niệm có tính tổng quan, đầu tư trực tiếp nước ngoài là một hình thức
di chuyển vốn trên thị trường tài chính quốc tế, trong đó các công ty (thường là công ty
đa quốc gia) tạo ra hoặc mở rộng chi nhánh sang nước khác, đầu tư để mở rộng thị
trường, thiết lập quyền sở hữu từng phần hoặc toàn bộ vốn đầu tư và giữ quyền quản lý
các quyết định kinh doanh và cùng với các đối tác nước sở tại cùng chia sẻ rủi ro và
hưởng lợi nhuận.
Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization – WTO) định nghĩa
về FDI như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước
(nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với
quyền quản lý tài sản đó”
Luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam quy định: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là
việc các tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước
ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính phủ Việt Nam chấp nhận để hợp tác với Việt
Nam hoặc tự mình kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam”.
2. Bản chất của FDI.
Là sự di chuyển của một khối lượng nguồn vốn kinh doanh dài hạn giữa các
quốc gia nhằm thu lợi nhuận cao hơn. Đó chính là hình thức xuất khẩu tư bản. Do đi
- FDI còn giúp cho các chủ đầu tư nước ngoài đổi mới cơ cấu sản xuất, áp
dụng công nghệ mới, nâng cao năng lực cạnh tranh. Có nghĩa là thông qua
FDI, các chủ đầu tư đã di chuyển một bộ phận sản xuất công nghiệp mà phần
lớn là máy móc ở giai đoạn lão hóa hoặc có nguy cơ bị khấu hao vô hình
5
FDI và thực trạng đầu tư FDI vào Việt Nam hiện nay
nhanh sang các nước kém phát triển hơn để tiếp tục sử dụng, kéo dài thêm
chu kỳ sống của sản phẩm, hoặc để khấu hao mau, cũng như tăng năng suất
tiêu thụ, giúp thu hồi vốn và tăng thêm lợi nhuận.
- FDI giúp các nước chủ đầu tư xây dựng được thị trường cung cấp nguyên
vật liệu ổn định với giá cả phải chăng thông qua nguồn tài nguyên dồi dào ở
các nước nhận đầu tư.
- Việc đầu tư ra nước ngoài còn ảnh hưởng đến cán cân thanh toán của nước
nhận đầu tư. Trong năm có đầu tư ra nước ngoài thì cán cân thanh toán bị
thâm hụt , sự thâm hụt này dần được giảm bớt nhờ việc xuất khẩu tư bản và
thiết bị, phụ tùng, máy móc… và sau đó là dòng lợi nhuận tư bản khổng lồ
đổ về nước. Các chuyên gia ước tính cho một dòng tư bản trung bình từ năm
đến mười năm.
4.1.2. Nhược điểm.
- Việc đầu tư trực tiếp ra nước ngoài khiến một số ngành trong nước không
được đầu tư đầy đủ. Đồng thời có nguy cơ tạo ra thất nghiệp ở nước đầu tư.
Các nhà đầu tư tư bản đầu tư ra nước ngoài nhằm sử dụng lao động không
lành nghề, giá rẻ ở các nước đang phát triển, cho nên nó làm tăng thất nghiệp
cơ cấu trong số lao động không lành nghề ở nước đầu tư.
- Rủi ro đầu tư cao nếu môi trường kinh tế, chính trị của nước tiếp nhận đầu tư
không ổn định.
Tác động của FDI là rất lớn với các nước chủ đầu tư, tuy nhiên nếu đầu tư quá
nhiều ra nước ngoài thì sẻ làm giảm nguồn vốn cần thiết cho đầu tư phát triển trong
nước. Mặt khác, nếu không nắm vững và xữ lý tốt các thông tin thị trường và luật pháp
nước sở tại thì chủ đầu tư có thể gặp rủi ro trong quá trình đầu tư với mức độ lớn.
hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa và quốc tế hóa.
- FDI ảnh hưởng tích cực đối với cán cân thanh toán.
FDI cho phép các nước đang phát triển tránh được gánh nặng nợ nần và do
đó ảnh hưởng tích cực tới cán cân thanh toán trong thời gian trước mắt. Tuy
nhiên về dài hạn, để phân tích ảnh hưởng của FDI đến cán cân thanh toán
7
FDI và thực trạng đầu tư FDI vào Việt Nam hiện nay
như thế nào thì cần xem xét trong một thời kì nhất định với các con số kiểm
soát được.
- FDI bổ sung nguồn vốn cho sự phát triển, cũng cố sức mạnh của đồng bản
tệ, và thúc đẩy sự phát triển của thị trường tài chính trong nước.
Loại hình FDI không quy định mức vốn tối đa nhưng quy định mức vốn tối
thiểu do vậy cho phép các nước nhận đầu tư khai thác được nguồn vốn bên
ngoài, làm tăng thêm nguồn lực để tăng trưởng và phát triển kinh tế. Nguồn
vốn FDI có thể hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế
xã hội và thường là vốn đầu tư dài hạn do các nhà đầu tư nước ngoài “tự
làm, tự chịu” nên có hiệu quả để tăng trưởng kinh tế bền vững. Hơn nưa nhờ
dòng ngoại tệ và các nguồn lực từ ngoài đưa vào làm gia tăng sức sản xuất
trong nước, tạo cơ sở vật chất kinh tế để củng cố sức mạnh đồng bản tệ.
- FDI giải quyết một phần tình trạng thất nghiệp và giúp tăng thu nhập, tạo
phong cách và tư duy lao động mới ở các nước đang phát triển.
4.2.2. Nhược điểm.
- Vì mục đích của nhà đầu tư là hiệu suất của vốn cao và thời gian thu hồi vốn
nhanh nên chủ đầu tư chỉ tập trung vào các ngành và vùng có điều kiện
thuận lợi nhất phục vụ cho mục đích đó. Điều này dẫn đến hậu quả là cơ cấu
ngành và vũng của nước nhận đầu tư phát triển không đồng đều, mất cân đối.
Ví dụ: tại nước ta, các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài thường đầu tư vào
các lĩnh vực có lợi nhuận cao như công nghiệp (công nghiệp khai thác tài
nguyên, khoáng sản, công nghiệp chế biến), dịch vụ tại Hà Nội, TP.HCM,
Đồng Nai…
Doanh nghiệp có vốn FDI có thể dùng lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh
doanh trong quá khứ để đầu tư thêm.
- Vốn vay nội bộ hay giao dịch nợ nội bộ.
Giữa các chi nhánh, công ty con trong cùng một công ty đa quốc gia có thể cho
nhau vay để đầu tư hay mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp của nhau.
9
FDI và thực trạng đầu tư FDI vào Việt Nam hiện nay
5.3. Phân theo động cơ của nhà đầu tư.
- Vốn tìm kiếm tài nguyên.
Đây là các dòng vốn nhằm khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên rẻ và dồi dào ở
nước tiếp nhận, khai thác nguồn lao động có thể kém về kỹ năng nhưng giá thấp hoặc
khai thác nguồn lao động kỹ năng dồi dào. Nguồn vốn loại này còn nhằm mục đích
khai thác các tài sản sẵn có thương hiệu ở nước tiếp nhận (như các điểm du lịch nổi
tiếng). Nó cũng nhằm khai thác các tài sản trí tuệ của nước tiếp nhận. Ngoài ra, hình
thức vốn này còn nhằm tranh giành các nguồn tài nguyên chiến lược để khỏi lọt vào
tay đối thủ cạnh tranh.
- Vốn tìm kiếm hiệu quả.
Đây là nguồn vốn nhằm tận dụng giá thành đầu vào kinh doanh thấp ở nước tiếp
nhận như giá nguyên liệu rẻ, giá nhân công rẻ, giá các yếu tố sản xuất như điện nước,
chi phí thông tin liên lạc, giao thông vận tải, mặt bằng sản xuất kinh doanh rẻ, thuế suất
ưu đãi, v.v
- Vốn tìm kiếm thị trường.
Đây là hình thức đầu tư nhằm mở rộng thị trường hoặc giữ thị trường khỏi bị đối
thủ cạnh tranh dành mất. Ngoài ra, hình thức đầu tư này còn nhằm tận dụng các hiệp
định hợp tác kinh tế giữa nước tiếp nhận với các nước và khu vực khác, lấy nước tiếp
nhận làm bàn đạp để thâm nhập vào các thị trường khu vực và toàn cầu.
5.4 Phân theo hình thức tồn tại.
- Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh.
Đây là một văn bản được ký kết giữa một chủ đầu tư nước ngoài và và một chủ
đầu tư trong nước để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước nhận đầu tư
5.5. Một số hình thức khác.
5.5.1. Hợp đồng B-T-O.
Theo đó nhà đầu tư nước ngoài sẻ xây dựng và sau đó chuyển giao quyền sở
hữu công trình đó cho chính phủ nước sở tại. Chính phủ nước sở tại sẻ dành cho nhà
đầu tư quyền tổ chức kinh doanh từ công trình đó trong một khoảng thời gian xác định
trước để nhà đầu tư nước ngoài có thể thu hồi lại vốn đầu tư cùng một tỷ lệ lợi nhuận
hợp lý.
5.5.2. Hợp đồng B-O-T.
11
FDI và thực trạng đầu tư FDI vào Việt Nam hiện nay
Theo đó nhà đầu tư nước ngoài xây dựng, tổ chức vận hành trong một khoảng
thời gian nhất định sau đó chuyển giao lại cho chính phủ nước sở tại quản lý tiếp.
Thường thì thời gian vận hành của nhà đầu tư được tính sao cho họ vừa đủ thu hồi vốn
đầu tư và một tỷ lệ lợi nhuận hợp lý nên khi chuyển giao lại cho chính quyền địa
phương thì doanh nghiệp đó đã hết khấu hao rồi.
5.5.3. Hợp đồng B-T.
Theo đó nhà đầu tư nước ngoài xây dựng sau đó chuyển giao quyền sở hữu công
trình đó cho chính phủ nước sở tại. Chính phủ nước sở tại sẻ tạo điều kiện cho nhà đầu
tư được thực hiện những dự án đầu tư khác nhằm thu hồi lại vốn đầu tư và một tỷ lệ lợi
nhuận hợp lý.
III. Thực trạng của nguồn vốn đầu tư trực tiếp vào Việt Nam.
1.Môi trường đầu tư tại Việt Nam.
1.1.Thuận lợi.
Thứ nhất, Việt Nam đã tạo dựng được những tiền đề phát triển kinh tế xã hội
trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nhất là khi Việt Nam đang trở
mình thành nền kinh tế thị trường.
Thứ hai, Việt Nam đã đạt được sự chuyển dịch cơ cấu nhanh chóng theo hướng
phát huy lợi thế so sánh trong từng ngành, từng vùng, phát triển mạnh các ngành công
nghiệp và dịch vụ.
Thứ ba, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể trong việc giải quyết
Bảng 1. Số liệu về GDP, xuất nhập khẩu và FDI của Việt Nam từ 2000 – 2010.
Cùng với tốc độ tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc nội GDP, nguồn vốn FDI vào
Việt Nam tăng đều qua các năm trong giai đoạn 2000-2006, và tăng trưởng nhanh
chóng trong giai đoạn tiếp theo. Nguyên nhân chủ yếu chính là Việt Nam chính thức
được gia nhập vào WTO và trong giai đoạn này, nền kinh tế thế giới đang phát triển
mạnh trước năm 2008. Sau năm 2008, nền kinh tế thế giới và Việt Nam phải hứng chịu
những hậu quả sau cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ Mỹ, do đó, nguồn vốn vào
Việt Nam cũng có sự sụt giảm rõ rệt. Nguồn vốn đăng ký giảm từ 71.7 tỷ USD năm
2008 xuống còn 23.1 tỷ USD vào năm 2009 và còn 18.6 tỷ USD vào năm 2010. Tuy
nhiên, nguồn vốn thực hiện lại không suy giảm nhiều. Từ 11.5 tỷ vào năm 2008 giảm
nhẹ còn 10 tỷ vào năm 2009 và khôi phục nhanh chóng lên 11 tỷ vào năm 2010. Qua
đó cho thấy rằng, nền kinh tế nước ta đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới
tuy nhiên mức độ hội nhập còn chưa sâu rộng, cho nên tác động của cuộc khủng hoảng
tài chính năm 2008 mặc dù có tác động nhưng không nặng đến Việt Nam.
14
FDI và thực trạng đầu tư FDI vào Việt Nam hiện nay
2.2. Liều lượng của dòng chảy của FDI vào Việt Nam.
Bảng 2: Dòng vốn FDI trên thế giới, các quốc gia ASEAN, Việt Nam 2001-2011.
Bảng trên cho thấy rằng dòng vốn đầu tư nước ngoài trong toàn cầu đã tăng gấp hai
lần từ 824.445 triệu đô la Mỹ trong năm 2001 đến 1.524.422 triệu đô la Mỹ vào năm
2011. Trong những năm qua, sự gia tăng trong dòng vốn FDI là do tăng qua biên giới
sáp nhập và mua lại trong ngành ngân hàng, khai thác và các ngành công nghiệp dịch
vụ có liên quan. Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên Hiệp quốc (UNCTAD) ước
tính rằng dòng vốn FDI toàn cầu trong năm 2007 đạt đến một tầm cao mới 1.833.324
triệu USD (2006: 1.411.018 triệu USD). Điều này ngụ ý rằng dòng vốn đầu tư nước
ngoài vẫn không bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng trong các thị trường tài
chính.Trong năm 2007, dòng vốn FDI thế giới đã tăng gấp đôi so với năm 2005.
Cụ thể, tại ASEAN, dòng vốn FDI đã tăng trên năm lần từ 20.781 triệu đô la Mỹ
trong năm 2001 đến 116,539.20 triệu đô la Mỹ trong năm 2011. Tương tự, dòng vốn
FDI vào Việt Nam đã tăng lên đáng kể từ 1.289 triệu USD (chiếm 5,5% tổng nguồn
FDI đã có mặt hầu hết trên tất cả các tỉnh thành trong cả nước nhưng chủ yếu
vẫn tập trung ở vùng kinh tế phía Bắc và phía Nam như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Bình
17
FDI và thực trạng đầu tư FDI vào Việt Nam hiện nay
Dương, Hải Phòng, Bà Rịa – Vũng Tàu. Đây là những tỉnh thành có cơ sở hạ tầng hoàn
chỉnh, nguồn lao động có chất lượng và có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh
tế. Trong đó, TP Hồ Chí Minh luôn đứng đầu trong cả nước về thu hút vốn đầu tư nước
ngoài với tổng vốn đầu tư đăng ký trên 32 tỷ đồng. Tiếp theo đó là các tỉnh thành Bà
Rịa - Vũng Tàu, Hà Nội, Đồng Nai, Bình Dương… Hiện nay, nhà nước đang áp dụng
các biện pháp khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào vùng sâu vùng xa,
những vùng khăn như miễn thuế, miễn tiền thuê đất, miễn thuế nhập khẩu với các
nguyên liệu khô nhưng mà kết quả vẩn còn hạn chế. Tuy nhiên đầu tư FDI là một động
lực lớp góp phần tăng trưởng kinh tế của Việt Nam nói chung và các tình thành nói
riêng.
IV. Thực trạng FDI trong 2 năm 2011 – 2012.
Gia nhập WTO là động lực thúc đẩy nguồn vốn FDI đầu tư vào Việt Nam, sau ba
năm tăng trưởng nhanh chóng và liên tục từ 2006 – 2008, nguồn vốn FDI có xu hướng
giảm xuống từ năm 2009 và tiếp tục giảm vào năm 2010. Trong hai năm tiếp theo,
lượng vốn đăng kí vào Việt Nam tiếp tục giảm, tuy nhiên số vốn thực hiện lại không
chênh lệch nhiều.
Đơn vị
(tỷ USD)
Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
Vốn đăng kí 18.60 14.70 13.01
Vốn thực hiện 11.00 11.00 10.46
Có thể thấy vốn đăng ký mới và đăng ký tăng thêm tại Việt Nam đang có xu
hướng giảm, vốn đăng kí năm 2011 đạt 14,7 tỷ USD, giảm tới 26% so với năm 2010,
năm 2012 đạt 84,7% so với năm 2011. Đối với vốn thực hiện, năm 2011 đạt 11 tỷ USD
18
FDI và thực trạng đầu tư FDI vào Việt Nam hiện nay
2
SX,pp
điện,khí,nước,đ.h
òa
5 2,525.6
6
3
Xây dựng 14
0
1,033.1
8
4
KD bất động sản 22 741.63
5
Dvụ lưu trú và ăn
uống
19 252.78
6
Thông tin và
truyền thông
70 495.75
7
Bán buôn,bán
lẻ;sửa chữa
15
4
414.03
8
Cấp nước;xử lý
chất thải
sản
10
1,356.1
4
3
Bán
buôn,b
án
lẻ;sửa
chữa
175
430.88
4
Thông
tin và
truyền
thông
79
395.46
5
Vận tải
kho bãi
28
209.48
6
Xây
đào tạo
6
14.09
20
FDI và thực trạng đầu tư FDI vào Việt Nam hiện nay
Năm 2010, điểm đáng quan tâm nhất là ngành bất động sản, chiếm tỷ trọng thu
hút vốn FDI nhiều nhất với tổng vốn là 6.8 tỷ USD và số dự án đầu tư mới là 27 dự án,
tiếp đến là nhóm công nghiệp chế tạo, với 5,08 tỷ USD và số dự án mới lên tới 385 dự
án, thứ 3 là nhóm sản xuất phân phối điện, khí, hóa, nước, điều hòa với 2,95 tỷ USD.
Đến năm 2011, cơ cấu này có sự thay đổi, nhóm ngành công nghiệp chế tạo dẫn
đầu, với số vốn đăng ký cấp mới là 5.2 tỷ USD. Tiếp theo là nhóm ngành sản xuất phân
phối điện, khí, hóa, nước, điều hòa với 2.5 tỷ, thứ 3 là ngành xây dựng và tiếp nữa mới
đến bất động sản. Điều này cho thấy các nhà đầu tư nước ngoài trong năm 2011 vẫn có
sự đánh giá tích cực về môi trường đầu tư tại Việt Nam nhưng lại đang chuyển hướng
đầu tư ra khỏi ngành bất động sản.
Sang năm 2012, nhóm ngành công nghiệp chế biến và chế tạo vẫn dẫn đầu về
lượng thu hút đầu tư mới. Ngành bất động sản có xu hương tăng trong năm này, từ vị
trí thứ 4 trong năm 2011 đã lên đến vị trí thứ hai trong năm 2012 với gần 1.4 tỷ USD.
Thứ 3 là nhóm ngành bán buôn, bán lẻ và sửa chữa.
21
FDI và thực trạng đầu tư FDI vào Việt Nam hiện nay
Nhìn chung, trong hai năm gần đây ngành thu hút FDI nhiều nhất của nước ta là
công nghiệp chế biến, chế tạo, các ngành còn lại đều có xu hướng biến động.
2. Các đối tác đầu tư nhiều vốn FDI nhất trong hai năm.
TT Đối tác
Số
dự
án
cấp
Singapor
e
105 2,004.65
4
Hàn
Quốc
270 873.13
5
Trung
Quốc
78 599.79
6 Đài Loan 64 371.68
7
BritishVi
rginIslan
ds
19 402.33
8 Malaysia 21 360.02
9
Luxemb
ourg
3 13.11
10 Hà Lan 13 198.68
Năm 2011 Năm 2012
22
FDI và thực trạng đầu tư FDI vào Việt Nam hiện nay
Trong hai năm 2011 và 2012, số vốn FDI từ các đối tác vào Việt Nam có sự thay
đổi. Năm 2011 Việt Nam thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài kể cả vốn cấp mới và
tăng thêm nhiều nhất từ Hồng Kông, tiếp theo là Nhật Bản và cuối cùng là Singapore.
Mặc dù Nhật Bản có số vốn cấp mới nhiều nhất nhưng số vốn đăng ký cấp mới lại chỉ
636.37
5 Bình Dương
79
464.55
6 Bà Rịa-Vũng
Tàu
22
880.82
7 Đồng Nai
33
215.82
8 Bắc Ninh
53
518.55
9 Tây Ninh
7
481.40
10 Đà Nẵng
30
285.31
Năm 2012
23
FDI và thực trạng đầu tư FDI vào Việt Nam hiện nay
TT Địa phương Số dự
án cấp
mới
Vốn đăng
ký cấp mới
(triệu USD)
390.44
10 Hưng Yên
27
166.35
24
Theo số liệu từ bộ kế hoạch và đầu tư, năm 2010, Quảng Nam vượt lên thành địa
phương thu hút được nhiều vốn FDI nhất với 4,2 tỉ USD vốn đăng ký mới và tăng thêm,
chiếm 22,5% tổng vốn đầu tư đăng ký trong cả nước. Đến năm 2011, TP.HCM là địa
phương dẫn đầu về thu hút vốn đầu tư FDI với tổng số vốn cấp mới và tăng thêm gần 3 tỷ
USD. Tiếp theo là hai địa phương Hải Dương và Hà Nội.
Đến năm 2012, Bình Dương lại chính là địa phương thu hút nhiều vốn đầu tư nhất
cả nước với 121 dự án cấp mới và tổng số vốn cấp mới và tăng thêm là 2.5 tỷ USD. Tiếp
theo là hai tỉnh Hải Phòng và TP.HCM. Hải Phòng luôn là địa phương có số dự án cấp
mới ít nhưng tổng số vốn cấp mới lại nhiều, cho thấy quy mô đầu tư tại tỉnh này rất cao.
Nhìn chung, những tỉnh thành có điều kiện thuận lợi để phát triển, có cơ sở hạ tầng
vững chắc là những tỉnh thu hút được nguồn vốn FDI nhiều nhất. Để tạo điều kiện cho
các địa phương khác thu hút được nguồn vốn này, nhà nước đang áp dụng một số biện
pháp nhằm khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các địa phương còn khó
khăn và có một số thành quả đáng khích lệ.
V. Những tác động của FDI đến nền kinh tế Việt Nam.
1. Tác động tích cực.
1.1 Tăng trưởng GDP.
Trong những năm qua, đầu tư nước ngoài góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực đầu tư trong nước. Khu vực FDI phát triển
năng động nhất với tốc độ tăng GDP cao hơn tốc độ tăng trưởng cả nước. Tiêu biểu
như năm 1995, GDP của khu vực FDI tăng 14,98%, trong khi GDP cả nước tăng
9,54%; tốc độ này tương ứng là 11,44% và 6,79% (năm 2000), 13,22% và 8,44% (năm
2005), 8,12% và 6,78% (năm 2010). Tỷ trọng đóng góp của khu vực FDI trong GDP
tăng dần, từ 2% GDP (1992), lên 12,7% (2000), 16,98% (2006) và 18,97% (2011).
1.2. Tăng tổng vốn đầu tư xã hội.