những nội dung ôn thi môn tư tưởng hồ chí minh - Pdf 11

Ni dung 1, Những tiền đề tư tưởng lý luận HCM
Thứ nhất, là giá trị truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam
Với lịch sử dựng nước và giữ nước lâu đời đã hình thành nên những giá trị truyền thống tốt đẹp của
dân tộc ta và đó chính là chủ nghĩa yêu nước, giá trị này chính là hành trang mang theo của HCM trong
quá trình ra đi tìm đường cứu nước. Chủ nghĩa yêu nước được hình thành trong quá trình đấu tranh
dựng nước và giữ nước của dân tộc ta qua hàng nghìn năm lịch sử, trở thành động lực lớn cho dân tộc
trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù xâm lược. Chủ nghĩa yêu nước luôn đứng đầu bảng giá trị trong
truyền thống văn hóa của dân tộc Việt, “là dòng sữa tinh thần nuôi sống dân tộc Việt Nam từ thời lập
quốc cho đến ngày nay và mãi mãi về sau”. Chủ nghĩa yêu nước sẽ biến thành lực lượng vật chất thực
sự khi nó ăn sâu vào tiềm thức, vào ý chí và hành động của mỗi con người Việt nam. Chính vì lẽ đó
HCM đã đúc kết thành chân lý: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý
báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một
làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán
nước và lũ cướp nước”.
Cùng với chủ nghĩa yêu nước thì trong truyền thống văn hóa của dân tộc VN với những giá trị văn
hóa tốt đẹp như tinh thần kiên cường bất khuất, tinh thần tương thân tương ái, đoàn kết cộng đồng, tinh
thần khoan dung, nhân nghĩa thủy chung; tinh thần lạc quan yêu đời; tinh thần trọng trí thức, hiền tài…
ảnh hưởng đến sự hình thành tư tưởng HCM.
Thứ hai, Tinh hoa văn hóa nhân loại.
HCM đã ảnh hưởng rất nhiều những giá trị tinh hoa văn hóa nhân loại,trước hết là văn hóa phương
Đông (như Nho gia, Đạo gia, Pháp gia, Phật giáo…) trong đó, Nho giáo là ảnh hưởng sâu đậm đối với
sự hình thành tư tưởng của Người, Người đã chắt lọc những mặt tích cực hợp lý, loại bỏ những tiêu cực
để xây dựng một xã hội tốt đẹp. Những mặt tích như: Những chuẩn mực để tu dưỡng đạo đức trong xã
hội của Nho giáo; Tư tưởng về một xã hội Đại đồng của Khổng Tử; Tư tưởng lấy dân làm gốc; tư
tưởng hành đạo giúp đời; hay Nho giáo là luôn đề cao việc học, coi trọng hiền tài…Còn những mặt tiêu
cực mà HCM phê phán như: Nho giáo phân chia xã hội thành những đẳng cấp khác nhau trong xã hội,
người tiểu nhân và người quân tử, kẻ lao tâm và người lao lực; tư tưởng trọng nam khinh nữ; những hủ
tục lạc hậu, tư tưởng trông chờ ỷ lại, tâm lý tự ti, thụ động, coi khinh lao động chân tay…
1
Về chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn như: Dân sinh, dân quyền và dân quốc, đó là dân tộc thì
được độc lập, dân quyền thì được tư do và dân sinh thì được hạnh phúc. Đặc biệt, sau khi Lênin lãnh

loại, HCM khẳng định phương hướng phát triển của dân tộc trong bối cảnh thời đại mới là CNXH.
Hoạch định con đường phát triển của dân tộc thuộc địa là 1 vấn đề hết sức mới mẽ.Từ 1 nước
thuộc địa đi lên CNXH phải trải qua nhiều giai đoạn chiến lược khác nhau.Trong cương lĩnh chính trị
đầu tiên của ĐCSVN,Người viết: “làm tư sản dân quyền CM và thổ địa CM để đi tới xã hội Cộng sản”
con đường đó xét về thực chất chính là con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.
Con đường đó phù hợp với hoàn cảnh của các nước thuộc địa, nó hoàn toàn khác biệt với các nước đã
phát triển đi lên CNTB ở phương Tây.Đây là nét độc đáo trong tư tưởng HCM.
b) Đc lập dân tc là ND cốt lõi của vấn đề dân tc thuc địa:
- Hồ Chí Minh tiếp cận quyền dân tộc từ quyền con người được xác lập từ giá trị cách mạng thế giới
mang lại.
HCM tiếp cận quyền con người hoàn toàn khác với các học giả tư sản và những nhà tư tưởng
hay triết học của nhân loại, cách tiếp cận của Người hoàn toàn mới mẻ và sâu sắc, Người xuất phát từ
truyền thống dân tộc, từ đặc điểm của thời đại và con người hiện thực để xem xét và giải quyết vấn đề
quyền con người. Với cách xem xét đó thì quyền con người ở Việt Nam chỉ có thể được giải quyết
thông qua một cuộc CM hiện thực. Nhận thức về quyền con người của HCM là sự kế thừa những giá trị
tư tưởng trong 2 bản Tuyên ngôn Độc lập của CM Mỹ (1776) và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân
quyền của CM Pháp (1791). Trong Tuyên ngôn độc lập của Mỹ khẳng định: “Tất cả mọi người đều
sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong
những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Bản Tuyên ngôn
Nhân quyền và Dân quyền của CM Pháp khẳng định: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền
lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Như vậy, từ quyền con người mà thành
3
tựu các cuộc CM Mỹ và Pháp đưa lại, HCM đã nâng lên thành quyền dân tộc, Người khẳng định:
“Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung
sướng và quyền tự do”. Từ lý luận về quyền con người mà 2 cuộc CM Mỹ và Pháp xác lập, khi lý luận
xâm nhập vào thực tiễn, cụ thể là thực tiễn của CM Việt Nam đã hình thành một khái niệm mới, đó là
quyền dân tộc. HCM đã nâng quyền con người lên thành quyền dân tộc là hợp với lẽ tự nhiên, vì quyền
con người nằm trong quyền dân tộc, vi phạm quyền dân tộc, điều đó cũng có nghĩa là vi phạm quyền
con người. Điều này nó trái với chân lý đã được khẳng định trong Tuyên Ngôn của CM Mỹ và Pháp.
Với cách tiếp cận này, HCM đã đặt quyền con người vào trong quyền dân tộc, muốn giải phóng

Nói tóm lại nội dung về độc lập dân tộc trong tư tưởng HCM bao gồm những vấn đề sau:
- Độc lập dân tộc phải gắn liền với sự thống nhất toàn vẹn lãnh thổ quốc gia
- Độc lập dân tộc phải gắn liền với các quyền tự do cơ bản
- Độc lập dân tộc phải gắn liền với quyền tự quyết dân tộc, quyền lựa chọn con đường phát
triển dân tộc mà không phụ thuộc bên ngoài
- Độc lập dân tộc phải gắn liền với CNXH
- Độc lập dân tộc là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm
5
6
Ni dung 3. Quan điểm của Hồ Chí Minh về mục tiêu và đng lực của chủ nghĩa xã hi ở Việt
Nam.
a) Về mục tiêu:
+ Mục tiêu chung, đó là độc lập cho dân tộc, tự do hạnh phúc cho nd. Nói một cách đơn giản,
CNXH là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, trước hết là nhân dân lao
động. Đây là mục tiêu cao nhất của CNXH. Mục tiêu của CNXH theo quan niệm của HCM đã khẳng
định tính ưu việt của CNXH so với các chế độ đã tồn tại trong lịch sử là chỉ ra nhiệm vụ giải phóng con
người một cách toàn diện.
Quá trình xây dựng CNXH là lâu dài, HCM cho rằng: “chúng ta phải xây dựng một xã hội hoàn
toàn mới xưa nay chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta…”, HCM đã đề cập đến các mục tiêu cụ thể
như:
+ Mục tiêu chính trị: Xuất phất từ việc xem CNXH là một lý tưởng chính trị - xã hội, là phong
trào hiện thực là xu thế tất yếu nhằm giải phóng những người lao động ở các nước tư bản và thuộc địa.
Cho nên, chế độ chính trị mà chúng ta xây dựng là chế độ dân chủ, do nhân dân lao động làm chủ, Nhà
nước là của dân, do dân và vì dân.
+ Mục tiêu kinh tế: Nền kinh tế XHCN với công-nông nghiệp hiện đại, khoa học - kỹ thuật tiên
tiến, bóc lột bị xoá bỏ dần, cải thiện đời sống nhân dân và kết hợp các lợi ích kinh tế.
+ Mục tiêu văn hoá - xã hội: văn hoá là mục tiêu cơ bản, đó là việc: xoá mù chữ, phát triển nghệ
thuật, thực hiện nếp sống mới, nâng cao dân trí. Đặc biệt là pải kết tinh và kế thừa những giá trị của
nhân loại, nhưng vẫn bảo tồn và phát huy được bản sắc văn hóa và những truyền thống nghìn năm văn
hiến của dân tộc, nhằm biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hóa cao và đời sống tươi

Ngoài ra HCM còn nêu các động lực bên ngoài như kết hợp với sức mạnh thời đại, tăng cường
đoàn kết quốc tế, sử dụng những thành quả KH-XH thế giới.
Giữa nội lực và ngoại lực,HCM xác định rất rõ nội lực là quyết định nhất, ngoại lực là rất quan
trọng. Để phát huy cao độ những động lực của CNXH, cần phải khắc phục những cản trở kìm hãm. Đó
là: Căn bệnh thoái hoá, biến chất của cán bộ; Chủ nghĩa cá nhân; Chống tham ô lãng phí; Chống bè
phái mất đoàn kết nội bộ; chống chủ quan, bảo thủ, giáo điều; chống lười biếng
Ni dung 4: Các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng
Thứ nhất, là nguyên tắc tập trung dân chủ
Đây là nguyên tắc cơ bản nhất trong học thuyết về Đảng kiểu mới. Nguyên tắc này, vừa bảo
đảm quyền chủ động, sáng tạo của mọi thành viên trong tổ chức, vừa bảo đảm thống nhất ý chí và hành
động vì sự nghiệp chung. Nguyên tắc tập trung dân chủ là thiểu số phải phục tùng đa số, cấp dưới phải
phục tùng cấp trên, cá nhân phải phục tùng đoàn thể để đảm bảo sức chiến đấu của toàn Đảng(tất
nhiên, ý kiến cá nhân được tôn trọng và bảo lưu ý kiến). Dân chủ là cơ sở bảo đảm cho tập trung thống
nhất. Tập trung dựa trên cơ sở dân chủ làm cho Đảng ta thống nhất ý chí cùng hành động trở thành một
tổ chức chính trị tiên phong.
Thứ hai, là nguyên tắc tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách
Tập thể lãnh đạo là dân chủ, cá nhân phụ trách là tập trung. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách
là dân chủ tập trung.Tập thể lãnh đạo, nghĩa là mọi vấn đề đều đưa ra trước chi bộ bàn bạc thảo luận để
cùng nhau giải quyết, một vấn đề có nhiều ý kiến, nhiều người sẽ cho nhiều ý kiến hay. Khi đã bàn bạc
đi đến thống nhất, thì giao cho một người phụ trách để tránh tình trạng trông chờ, ỷ lại làm cho công
việc không trôi chảy. Lãnh đạo mà không tập thể thì dễ dẫn đến tệ bao biện,chuyên quyền độc đoán.
Thứ ba, là nguyên tắc tự phê bình và phê bình
9
Nguyên tắc này là vũ khí sắc bén để làm cho Đảng ta trong sạch vững mạnh, thông qua nguyên
tắc này để giúp nhau cùng tiến bộ, tăng cường sự đoàn kết, Người nhắc nhở mỗi cán bộ đảng viên,
hàng ngày phải kiểm điểm, tự phê bình sửa chữa như soi gương, rữa mặt hàng ngày. Được như vậy thì
trong cơ thể Đảng sẽ không có bệnh mà mạnh khỏe vô cùng. Mục đích của nguyên tắc tự phê bình và
phê bình là chỉ ra khuyết điểm, sữa chữa khuyết điểm để cùng nhau tiến bộ. Cho nên, khi phê bình
đồng chí mình, thì trước hết phải tự nhận lấy khuyết điểm của mình trước. HCM cũng đặc biệt lưu ý,
khi phê bình không được thêm, không được bớt, không phải bới lông để tìm vết, để nhằm mục đích nói

- Đại đoàn kết dân tộc là chiến lược tập hợp mọi lực lượng có thể tập hợp được, nhằm hình thành sức
mạnh to lớn của toàn dân tộc trong cuộc đấu tranh để chiến thắng kẻ thù. Với ý nghĩa đó, HCM đã rút ra một
kết luận có tính chân lý, đó là: “Đoàn kết làm ra sức mạnh, Đoàn kết làm ra sức mạnh của chúng ta. Đoàn kết
là then chốt của thành công. Đoàn kết đoàn kết đại đoàn kết; thành công thành công đại thành công. Đoàn kết
là điểm mẹ, điểm này mà thực hiện tốt thì đẻ ra con cháu đều tốt”. Đoàn kết của chúng ta được thể hiện rất rõ
là: Toàn dân chỉ có một lòng: quyết không làm nô lệ; quyết không chịu mất nước và cũng chỉ có một mục đích:
quyết kháng chiến để tranh thủ thống nhất và độc lập cho Tổ quốc. Sự đồng tâm của đồng bào ta đúc thành một
bức tường đồng xung quanh Tổ quốc. Dù địch hung tàn, xảo quyệt đến mức nào khi đụng đầu vào bức tường
đó, chúng đều bị thất bại. Nhờ có sự đồng tâm hiệp lực mà với gậy tầm vong và súng hỏa mai lúc đầu, chúng ta
đã liên tiếp thắng địch. Nhờ sự đoàn kết mà lần đầu tiên trong lịch sử, một dân tộc bị áp bức đã đánh bại cuộc
11
xâm lược của một đế quốc hùng mạnh, đã giành độc lập cho dân tộc, đem lại ruộng đất cho dân cày, đưa lại
quyền dân chủ thực sự cho nhân dân.
b) Đoàn kết dân tc là mục tiêu nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, của dân tc
Tư tưởng này, được HCM thể hiện rất rõ trong thư gửi các bạn cùng hoạt động ở Pháp (1923). Mở đầu
Người viết: “Chúng ta phải làm gì? Đối với tôi, câu trả lời rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh
họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do, độc lập”. Tư tưởng đại đoàn kết
của HCM hình thành và phát triển trong những điều kiện lịch sử cụ thể, đã trở thành chiến lược đoàn kết của
Đảng ta. Sớm nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, năm 1925, Người đã thành lập VN Thanh niên CM
đồng chí hội. Đây là tổ chức hạt nhân để sau khi về nước họ quy tụ toàn dân VN cùng tiến tới đồng tình, đồng
sức, đồng lòng, đồng minh nhằm cứu nước nhà.
Người căn dặn cán bộ rằng, chuẩn bị đấu tranh trước hết phải tuyên truyền mạnh mẽ để lôi cuốn đa số
quần chúng tham gia. Chính vì vậy mà Người nói, nhiệm vụ huấn luyện của ta là, thứ nhất, là đoàn kết; thứ hai
là làm cách mạng kháng chiến để giành độc lập… và điều đó được thể hiện rất rõ trong mục đích của Đảng ta
là: Đoàn kết toàn dân phụng sự Tổ quốc, khi giành được chính quyền, HCM chủ trương không ngừng tăng
cường củng cố vững chắc hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội làm cho mục đích cuộc cách mạng của dân,
do dân và vì dân ngày càng mang lại hiệu quả thiết thực cho toàn dân, đồng thời ngày càng huy động được đông
đảo nhất dân chúng, không bỏ sót một ai vào khối đại đoàn kết toàn dân.
Ni dung 6: Xây dựng mt Nhà nước thực sự do nhân dân lao đng làm chủ
Nếu vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng là vấn đề chính quyền thì vấn đề cơ bản của chính quyền là

Nhà nước đó do nhân dân lựa chọn bầu ra những đại biểu của mình, nhà nước đó do dân ủng hộ, giúp
đỡ, đóng thuế để chi tiêu, hoạt động; nhà nước đó lại do dân phê bình xây dựng, giúp đỡ. Do đó Hồ Chí Minh
yêu cầu tất cả các cơ quan nhà nước là phải dựa vào dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu
sự kiểm soát của nhân dân. Nếu chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi chính phủ nghĩa là khi cơ quan
nhà nước không đáp ứng lợi ích và nguyện vọng của nhân dân thì nhân dân có quyền bãi miễn nó. HCM khẳng
định: mỗi người có trách nhiệm ghé vai gánh vác một phần vì quyền lợi, quyền hạn bao giờ cũng đi đôi với
trách nhiệm, nghĩa vụ.
Nhà nước do dân phản ánh mối quan hệ giữa nhân dân với nhà nước, HCM khẳng định: “Không có nhân
dân thì chính phủ không đủ lực lượng, còn nhân dân mà không có chính phủ thì nhân dân không có ai dẫn
đường”; lực lượng bao nhiêu đều ở dân hết, công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân; sự nghiệp
kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân.
Nhà nước do dân tức là công việc xây dựng đất nước là trách nhiệm của dân. Do đó phải phát huy được
vai trò của mặt trận, các đoàn thể trong công tác quản lý nhà nước và xã hội. Nhà nước muốn điều hành quản lý
xã hội có hiệu lực, hiệu quả, nhất định phải dựa vào lực lượng của dân, dựa vào sáng kiến và trí tuệ của dân.
13
Nhà nước do dân trong tư tưởng HCM là “dân tự làm, tự lo thông qua các mối quan hệ xã hội, qua các đoàn thể,
chứ không phải do nhà nước bao cấp, lo thay cho dân. Chức năng của nhà nước là điều hành vĩ mô, Chính phủ
chỉ giúp kế hoạch, cổ động”. Chính vì vậy mà nhà nước do dân là nhà nước tin dân và dân tin nhà nước.
c) Nhà nước vì dân
Đó là nhà nước phục vụ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân, không có đặc quyền đặc lợi,
thực sự trong sạch, cần kiệm liêm chính. Trong nhà nước đó, cán bộ từ chủ tịch trở xuống đều là công bộc của
dân.
“Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm,
Việc gì có hại đến dân ta phải hết sức tránh”
Nhà nước vì dân là nhà nước làm lợi cho dân, theo HCM không chỉ làm lợi cho dân, mà còn phải yêu
dân, kính dân ,“chúng ta phải yêu dân thì dân mới yêu chúng ta”. Nhà nước vì dân là nhà nước mà mọi chủ
trương chính sách, mọi quy định của pháp luật từ TW xuống địa phương đều phải xuất phát từ lợi ích của nhân
dân , cả lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, cả lợi ích cá nhân và tập thể và xã hội trong sự kết hợp hài hòa. Nhà
nước vì dân phải “làm cho dân có ăn; làm cho dân có mặc; làm cho dân co chỗ ở; làm cho dân có học hành”.
Nhà nước vì dân là nhà nước có trách nhiệm và chịu trách nhiệm trước dân, Người nói: “Nếu để dân đói, Đảng

điều chỉnh hoạt động của con người. Do tập quán của nhân dân ta là kinh tế tiểu nông nên muốn hình
thành ngay một Nhà nước pháp quyền là chưa được. Vì vậy, một mặt phải nhấn mạnh vai trò của luật
pháp, mặt khác phải tăng cường tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong nhân dân, nhất là giáo dục đạo
đức.
HCM đã kết hợp một cách nhuần nhuyễn giữa quản lý xã hội bằng pháp luật với phát huy những
truyền thống tốt đẹp trong đời sống cộng động người VN được hình thành qua hàng nghìn năm lịch sử.
“Phép trị nước” của HCM là sự kết hợp cả “pháp trị” và “đức trị”, “pháp trị” rất nghiêm khắc,
công minh và “đức trị” cũng rất tình người, bao dung, thấu tình đạt lý. Trong Quốc lệnh do Người ban
hành 26/01/1946, đa đưa ra 10 điều khen thưởng (“đức trị”) và 10 hình phạt (“pháp trị”).Trong 10 điều
15
khen thưởng, Điều 3 “Ai vì nước hi sinh sẽ được thưởng”, Điều 5 “Ai làm việc gì có lợi cho nước nhà,
dân tộc và được dân chúng mến phục sẽ được thưởng”.Trong 10 điều hình phạt, Điều 1 “Thông với
giặc, phản quốc sẽ bị xử tử”, Điều 6 “Để cho bộ đội hại dân sẽ bị xử tử”, Điều 8 “Trộm cắp của công sẽ
bị xử tử”.
Thực tế đã cho thấy rằng, HCM là một nhà lập pháp sắc sảo, đồng thời là một nhà hành pháp
nghiêm minh. Pháp quyền trong tư tưởng của Người là pháp quyền nhân nghĩa sâu sắc.
Ni dung 8: Quan điểm của HCM về Văn hóa giáo dục
Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng về giáo dục luôn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
sâu sắc đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Trong sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực cho công
cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ,văn minh " ở nước ta, tư tưởng đó của Người càng có ý nghĩa thiết thực.
Có thể nói, tư tưởng giáo dục HCM là sự kế thừa, tiếp thu có chọn lọc, sáng tạo và phê phán từ
các tiền đề: Một là, chủ nghĩa yêu nước, truyền thống văn hoá, giáo dục và tinh thần nhân ái VN; Hai
là, triết lý giáo dục phương Đông. Nhưng tiền đề quan trọng nhất, cái tạo nên sự phát triển về chất
trong tư tưởng giáo dục HCM là chủ nghĩa Mác - Lênin. Trên cơ sở đó và cùng với quá trình hoạt động
thực tiễn cách mạng sinh động, phong phú của mình, HCM đã đưa ra quan điểm hết sức sâu sắc và mới
mẻ về vai trò, mục đích, nội dung và phương pháp giáo dục.
16
- Về vai trò và mục đích của giáo dục. Theo Người, giáo dục có vai trò hết sức to lớn trong việc
cải tạo con người cũ, xây dựng con người mới. Không những thế, giáo dục còn góp phần đắc lực vào

trong sáng, ý tưởng phong phú. Phong cách đó làm cho mọi người ở trình độ khác nhau đều hiểu.Theo
Người, giáo dục phải căn cứ vào "trình độ văn hoá, thói quen sinh hoạt, trình độ giác ngộ, kinh nghiệm
tranh đấu, lòng ham, ý muốn, tình hình thiết thực của quần chúng". Cần có phương pháp tổ chức giáo
dục sao cho bảo đảm được sự phù hợp giữa điều kiện, hoàn cảnh giáo dục với đối tượng giáo dục.
HCM đặc biệt coi trọng việc kết hợp các hình thức giáo dục, không tuyệt đối hoá bất cứ một hình thức
giáo dục nào. Người viết: "Giáo dục dù trong nhà trường có tốt mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia
đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn". Cuộc đời và sự nghiệp của HCM luôn là tấm
gương sáng cho mọi người noi theo. Phương pháp làm gương là một biện pháp hữu hiệu nhất trong
việc thống nhất giữa lời nói và việc làm.
Cải cách giáo dục là xây dựng hệ thống trường, lớp với chương trình và nội dung dạy học thật
khoa học, hợp lý, phù hợp với bước phát triển của ta. Học chính trị, khoa học - kỹ thuật, chuyên môn
nghiệp vụ, lao động.
Đặc biệt phải quan tâm xây dựng đội ngũ giáo viên có phẩm chất, yêu nghề; phải có đạo đức
cách mạng, phải yên tâm công tác, đoàn kết; phải giỏi chuyên môn, thuần thục phương pháp.
Ni dung 9: Quan điểm về những chuẩn mực đạo đức cách mạng
* Trung với nước, hiếu với dân
Trong mối quan hệ đạo đức thì mối quan hệ giữa mỗi người với đất nước, với nhân dân, với dân
tộc là mối quan hệ lớn nhất. Trung, hiếu là phẩm chất đạo đức quan trọng nhất, bao trùm nhất.
Trung, hiếu là những khái niệm đã có trong tư tưởng đạo đức truyền thống Việt Nam và phương
Đông, song có nội dung hạn hẹp là Trung với vua, hiếu với cha mẹ, phản ánh bổn phận của dân đối với
vua, con đối với cha mẹ. HCM đã kế thừa những giá trị đạo đức truyền thống và vượt trội. Trung với
nước là trung thành với sự nghiệp giữ nước và dựng nước, đặt lợi ích của đảng, của Tổ quốc, của cách
mạng lên trên hết; quyết tâm phấn đấu thực hiện mục tiêu của cách mạng; thực hiện tốt chủ trương,
18
chính sách của Đảng và Nhà nước. Hiếu với dân là tin dân, lắng nghe dân, học dân, tổ chức vận động
nhân dân cùng thực hiện tốt đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước; chăm lo đến đời sống vật
chất và tinh thần của nhân dân. Đây là chuẩn mực đạo đức có ý nghĩa quan trọng hàng đầu.
Đối với cán bộ đảng viên phải suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng, đó là điều chủ
chốt của đạo đức cách mạng. Phải tuyệt đối trung thành với Đảng, với dân, phải tận trung, tận hiếu,
thì mới xứng đáng vừa là đầy tớ trung thành, vừa là người lãnh đạo của dân; dân là đối tượng để phục

làm người, làm cán bộ, để phụng sự Đoàn thể, phụng sự giai cấp và nhân dân, phụng sự Tổ quốc và
nhân loại”.
Chí công vô tư, là công bằng,công tâm, không thiên tư, thiên vị, làm bất cứ việc gì cũng đừng
nghĩ đến mình trước, chỉ biết vì Đảng, vì dân tộc,“phải lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Theo HCM,
chủ nghĩa cá nhân là đồng minh của đế quốc,là một thứ vi trùng rất độc,đó là “một thứ rất gian xảo,xảo
quyệt,nó khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc”. HCM cũng phân biệt lợi ích cá nhân và chủ nghĩa cá
nhân. Chí công vô tư là tính tốt có thể gồm 5 điều: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm. Bồi dưỡng phẩm chất đạo
đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là để vững vàng qua mọi thử thách : Giàu sang không quyến
rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục.
* Yêu thương con người,sống có tình nghĩa
Kế thừa truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, kết hợp truyền thống nhân nghĩa với chủ nghĩa
nhân đạo cộng sản, tiếp thu tinh thần nhân văn của nhân loại qua nhiều thế kỷ, qua hoạt động thực tiễn,
Hồ Chí Minh đã xác định tình yêu thương con người là phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất.
Tình yêu rộng lớn dành cho những người cùng khổ, những người lao động bị áp bức, bóc lột.
HCM chỉ ham muốn cho đất nước được hoàn toàn độc lập, dân được tự do, mọi người ai cũng có cơm
ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Chỉ có tình yêu thương con người bao la đến như vậy mới có cách
mạng, mới nói đến chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.
Nghiêm khắc với mình, độ lượng với người khác. Phải có tình nhân ái với cả những ai có sai
lầm, đã nhận rõ và cố gắng sửa chữa, đánh thức những gì tốt đẹp trong mỗi con người. Người căn dặn
Đảng phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau, trên nguyên tắc tự phê bình và phê bình chân thành.
Tình yêu thương con người còn là tình yêu bạn bè, đồng chí, có thái độ tôn trọng con người,
điều này có ý nghĩa đối với người lãnh đạo.
* Tinh thần quốc tế trong sáng, thuỷ chung
20
Đó là tinh thần quốc tế vô sản, bốn phương vô sản đều là anh em. Đó là tinh thần đoàn kết với các
dân tộc bị áp bức, với nhân dân lao động các nước. Đó là tinh thần đoàn kết của nhân dân Việt Nam với
tất cả những người tiến bộ trên thế giới vì hoà bình, công lý và tiến bộ xã hội. Sự đoàn kết là nhằm vào
mục tiêu lớn của thời đại hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
21
Ni dung 10: Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của con người chiến lược trồng người

cho thanh niên. Người cho rằng, để “trồng người” có hiệu quả,cần tiến hành đồng bộ các giải pháp sau:
23
+ Trước hết,mọi người phải tự tu dưỡng,rèn luyện.Tu dưỡng hằng ngày,bền bỉ suốt đời,gắn với
thực tiễn cách mạng. Trong khi xây dựng những đức tính tốt,phải có bản lĩnh chống lại mọi thói hư tật
xấu như lối sống vị kỉ cá nhân,thiếu tinh thần trách nhiệm,chống tham nhũng,xa hoa,lãng phí…
+ Phải dựa vào sức mạnh tổ chức của cả hệ thống chính trị.Đó là vai trò của chi bộ Đảng,các tổ
chức chính trị-xã hội như công đoàn,đoàn thanh niên,hội phụ nữ…
+ Thông qua các phong trào CM như phong trào “Thi đua yêu nước”, “Toàn dân đoàn kết xây
dựng đời sống văn hóa”,phong trào “Người tốt,việc tốt”, “Uống nước nhớ nguồn”,…
Nội dung và phương pháp giáo dục phải toàn diện, cả đức, thể, trí, mỹ, phải đặt đạo đức, lý
tưởng và tình cảm cách mạng, lối sống xã hội chủ nghĩa lên hàng đầu. Đức và tài thống nhất nhau,
trong đó đức là gốc, là nền tảng phát triển.Phải kết hợp giữa nhận thức và hành động, lời nói và việc
làm…Có như vậy mới có thể “học để làm người”.
“ Trồng người” là công việc “trăm năm”,không thể nóng vội một sớm một chiều,không phải làm
một lúc là xong,cũng không phải tùy tiện,đến đâu hay đến đó.Nhận thức và giải quyết vấn đề này có ý
nghĩa thường trực,bền bỉ trong suốt cuộc đời mỗi con người,trong suốt thời kì quá độ lên CNXH.
HCM coi trọng việc nâng cao dân trí cho toàn dân tộc. Người hướng mọi hoạt động văn hoá,
giáo dục, tư tưởng vào việc rèn luyện dân tộc ta thành dân tộc cách mạng và văn minh. HCM nêu khẩu
hiệu : “Diệt giặc đói, diệt giặc dốt”. Bác đi đầu trong việc khai dân trí, mở các lớp xoá mù chữ, các lớp
bình dân học vụ. Người nói: “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”.
24
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status