Chuyên đề tốt nghiệp 1 GVHD: Th.S. Lê Hương Lan
LỜI MỞ ĐẦU
Năm 2006 được coi là một năm thành công đối với cả nền kinh tế Việt
Nam từ trước đến nay. Với việc gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO
(7/11), tổ chức thành công diễn đàn kinh tế Châu Á Thái Bình Dương (APEC)…
đã và đang tạo dựng một hình ảnh rất đẹp của Việt Nam trong lòng bạn bè Quốc
tế. Hoà chung với sự thành công đó thì sự phát triển mạnh mẽ của TTCK cũng
đã tạo một kênh huy động vốn gián tiếp quan trọng cho nền kinh tế, do đó các
Công ty chứng khoán (CTCK) cũng phải đầu tư mạnh mẽ về nhiều mặt cả về
mặt số lượng nhân viên lẫn chất lượng để hoàn thiện chính mình và cạnh tranh
cùng phát triển. Và để cạnh tranh nhau một cách lành mạnh thì các CTCK phải
nhanh chóng phát triển các nghiệp vụ của mình bởi khi nhà đầu tư đánh giá về
một công ty chứng khoán họ sẽ đánh giá xem nghiệp vụ của các CTCK đó có tốt
hay không, dịch vụ ra sao và một trong những hoạt động thể hiện phần lớn điều
đó là hoạt động tự doanh, nó mang lại một phần lợi nhuận cốt lõi cho CTCK.
Hoạt động tự doanh nếu triển khai tốt sẽ giúp một CTCK nâng cao tiềm
lực tài chính, song nếu hoạt động yếu kém thì có thể gây tổn thất nặng nề, nhất là
đối với một CTCK còn non trẻ như HBBS. Trên cơ sở em đã thực tập tại CTCK
Habubank và nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động tự doanh em quyết
định chọn đề tài “Phát triển hoạt động tự doanh tại Công ty chứng khoán
Habubank” làm chuyên đề tốt nghiệp của mình.
Phạm vi nghiên cứu chuyên đề: nghiên cứu, phân tích hoạt động tự doanh
của CTCK, và cụ thể là CTCK Habubank.
SVTH: Trần Anh Tú Lớp: TTCK - 45
2
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S. Lê Hương Lan
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG TỰ DOANH CỦA CÔNG
TY CHỨNG KHOÁN
I. Những vấn đề chung về Công ty chứng khoán
1. Khái niệm và phân loại Công ty chứng khoán
1.1.Khái niệm
Mô hình đa năng một phần: theo mô hình này các Ngân hàng muốn kinh
doanh chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm phải lập công ty hoạt động tách rời.
Mô hình đa năng toàn phần: Các Ngân hàng được kinh doanh chứng khoán,
kinh doanh bảo hiểm bên cạnh kinh doanh tiền tệ.
• Ưu điểm của mô hình này là:
• Ngân hàng có thể kết hợp nhiều lĩnh vực kinh doanh nhờ đó giảm bớt rủi ro cho
hoạt động kinh doanh chung và có khả năng chịu đựng các biến động của thị
trường chứng khoán.
• Ngân hàng sẽ tận dụng được thế mạnh chuyên môn và vốn để kinh doanh chứng
khoán.
• Nhược điểm của Mô hình này là:
• Không phát triển được thị trường cổ phiếu vì các ngân hàng có xu hướng bảo
thủ và thích hoạt động cho vay hơn là hoạt động bảo lãnh phát hành cổ phiếu,
trái phiếu.
• Đồng thời, các ngân hàng cũng rất dễ gây lũng đoạn thị trường và các biến
động trên thị trường chứng khoán, nếu có sẽ ảnh hưởng mạnh tới hoạt động
kinh doanh tiền tệ của ngân hàng do không tách bạch giữa hai loại hình kinh
doanh này.
Mô hình chuyên doanh
3
SVTH: Trần Anh Tú Lớp: TTCK - 45
3
4
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S. Lê Hương Lan
Hoạt động chuyên doanh chứng khoán sẽ do các công ty độc lập, chuyên môn
hoá trong lĩnh vực chứng khoán đảm nhận, các ngân hàng không được tham gia
kinh doanh chứng khoán.
• Ưu điểm của mô hình
• Hạn chế rủi ro cho hệ thống ngân hàng.
• Tạo điều kiện cho thị trường chứng khoán phát triển
Công ty cổ phần
Công ty cổ phần là một pháp nhân độc lập với các chủ sở hữu là các cổ đông.
Đại hội cổ đông có quyền bầu hội đồng quản trị. Hội đồng này sẽ định ra các
chính sách của công ty và chỉ định giám đốc cùng các chức vụ quản lý khác để
điều hành công ty theo các sách lược kinh doanh đã đề ra.
Giấy chứng nhận cổ phiếu không thể hiện một món nợ của công ty mà thể
hiện quyền lợi của người sở hữu nó đối với tài sản của công ty. Công ty vẫn tồn
tại khi quyền sở hữu của công ty bị thay đổi.
• Ưu điểm của công ty cổ phần
• Đây là một loại công ty tồn tại liên tục không phụ thuộc vào việc thay đổi cổ
đông hoặc cổ đông nghỉ hưu hay qua đời.
• Rủi ro mà chủ sở hữu của công ty phải chịu được hạn chế ở mức nhất định.
Nếu công ty thua lỗ và phá sản,cổ đông chỉ bị thiệt hại ở mức vốn đã đầu tư
vào công ty.
• Quyền sở hữu được chuyển đổi dễ dàng thông qua việc mua bán cổ phiếu.
5
SVTH: Trần Anh Tú Lớp: TTCK - 45
5
6
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S. Lê Hương Lan
• Ngoài ra, đối với công ty chứng khoán nếu tổ chức theo hình thức công ty cổ
phần và được niêm yết tại sở giao dịch thì coi như họ đã được quảng cáo
miễn phí.
• Hình thức tổ chức quản lý chế độ báo cáo và công bố thông tin tốt hơn hai
hình thức trên.
2. Điều kiện thành lập công ty chứng khoán
2.1. Điều kiện về vốn
Vốn pháp định của công ty chứng khoán thường được quy định cụ thể cho
từng loại hình kinh doanh. Một công ty càng tham gia vào nhiều loại hình thì
càng cần phải có nhiều vốn trên cơ sở các yếu tố khác nhau như quy mô thị
2.3. Điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật
Trong lĩnh vực chứng khoán, để các nhà đầu tư có thể tiếp xúc nhau dễ
dàng trong việc mua hay bán chứng khoán thì các công ty chứng khoán cần phải
có sàn giao dịch để làm địa điểm tiếp xúc với nhà đầu tư, cần có địa điểm và
thiết bị nhận lệnh, truyền lệnh, công bố thông tin liên quan đến chứng khoán và
giao dịch chứng khoán nên để đảm bảo hiệu quả hoạt động của các công ty
chứng khoán pháp luật các nước cũng quy định điều kiện về cơ sở vật chất, kỹ
thuật khi cấp giấy phép hoạt động cho các công ty chứng khoán là một trong ba
điều kiện không thể thiếu về điều kiện thành lập.
Ví dụ một trong các điều kiện quan trọng để thành lập công ty chứng
khoán ở Trung Quốc là công ty phải có địa điểm kinh doanh cố định và có thiết
bị giao dịch đủ tiêu chuẩn, điều kiện về trụ sở kinh doanh và các điều kiện về kỹ
thuật phù hợp với bản chất của các dịch vụ đầu tư cũng là một trong các điều
kiện để uỷ ban về các công ty đầu tư và công ty tín dụng của Pháp xem xét khi
cấp giấy phép hoạt động cho các công ty đầu tư của nước này.
7
SVTH: Trần Anh Tú Lớp: TTCK - 45
7
8
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S. Lê Hương Lan
3. Nguyên tắc hoạt động của công ty chứng khoán
3.1.Nhóm nguyên tắc mang tính đạo đức
CTCK phải đảm bảo giao dịch trung thực và công bằng vì lợi ích của khách
hàng.
Kinh doanh có kỹ năng, tận tụy, có tinh thần trách nhiệm.
- Ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước khi thực hiện lệnh của công ty.
- Có nghĩa vụ bảo mật cho khách hành, không được tiết lộ các thông tin về
tài khoản khách hành khi chưa được khách hành đồng ý bằng văn bản trừ khi có
yêu cầu của cơ quan quản lý Nhà nước.
- CTCK khi thực hiện nghiệp vụ tư vấn phải cung cấp đầy đủ thông tin cho
4.1. Đối với tổ chức phát hành
Để có tiền đầu tư vào một dự án cần phải có một khoản vốn nhất đinh, để
một doanh nghiệp đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh chưa cần nói đến đã có
lãi hay chưa cũng cần phải có một khoản vốn nhất định…nhưng nếu các doanh
nghiệp, các chủ đầu tư tự đi huy động vốn hoặc đi vay thì không phải là điều đơn
giản, vì vậy cần phải có một một trung gian đứng ra đảm nhiệm vai trò này tròng
nền kinh tế đó chính là các ngân hàng, các quỹ đầu tư, các công ty chứng khoán.
Các tổ chức này có vai trò làm chiếc cầu nối và đồng thời là các kênh dẫn
cho vốn chảy từ một hay một số bộ phận nào đó của nền kinh tế có dư thừa vốn
(vốn nhàn rỗi) đến các bộ phận khác của nền kinh tế đang thiếu vốn (cần huy
động vốn). Các công ty chứng khoán thường đảm nhiệm vai trò này qua các hoạt
động bảo lãnh phát hành và môi giới chứng khoán.
4.2. Đối với thị trường chứng khoán
Khi đầu tư chứng khoán các nhà đầu tư luôn muốn có được khả năng
chuyển tiền mặt thành chứng khoán có giá và ngược lại trong một môi trường
9
SVTH: Trần Anh Tú Lớp: TTCK - 45
9
10
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S. Lê Hương Lan
đầu tư ổn định. Các công ty chứng khoán đảm nhận được chức năng chuyển đổi
này sẽ giúp cho nhà đầu tư phải chịu ít thiệt hại nhất khi tiến hành đầu tư.
Ví dụ trong hầu hết các nghiệp vụ đầu tư ở sở giao dịch chứng khoán và
thị trường OTC hiện nay một nhà đầu tư có thể hàng ngày chuyển đổi tiền mặt
thành chứng khoán và ngược lại mà không chịu bất cứ thiệt hại đáng kể nào đối
với giá trị khoản đầu tư của mình. Nói cách khác, một số nhân tố bên ngoài có
thể ảnh hưởng đến giá trị của các khoản đầu tư chẳng hạn như tin đồn về một
vấn đề nào đó trong nền kinh tế nhưng nói chung giá trị của một khoản đầu tư
không giảm đi do cơ chế mua bán.
• Luôn tạo ra các sản phẩm mới
công ty chứng khoán bắt buộc phải giành ra một tỷ lệ nhất định giao dịch của
mình để mua chứng khoán vào khi giá chứng khoán trên thị trường đang giảm và
bán ra khi giá chứng khoán trên thị trường tăng cao.
4.4. Đối với nhà đầu tư
Thông qua các hoạt động như môi giới, tư vấn đầu tư và quản lý danh mục
đầu tư, CTCK có vai trò làm giảm chi phí và thời gian giao dịch, từ đó giúp
nâng cao hiệu quả các khoản đầu tư. Đối với hàng hoá thông thường, mua bán
qua trung gian sẽ làm tăng chi phí cho người mua và người bán. Tuy nhiên trên
TTCK sự biến động thường xuyên của giá cả chứng khoán cũng như mức độ rủi
ro cao sẽ làm cho những nhà đầu tư tốn kém chi phí, công sức và thời gian tìm
hiểu thông tin trước khi quyết định đầu tư. Nhưng thông qua các CTCK, với
trình độ chuyên môn cao và uy tín nghề nghiệp sẽ giúp các nhà đầu tư thực hiện
các khoản đầu tư một cách hiệu quả.
11
SVTH: Trần Anh Tú Lớp: TTCK - 45
11
12
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S. Lê Hương Lan
II. Các hoạt động của công ty chứng khoán
1. Hoạt động nghiệp vụ
1.1. Nghiệp vụ môi giới chứng khoán
1.1.1. Khái niệm
Môi giới chứng khoán là một hoạt động kinh doanh chứng khoán trong đó
một công ty chứng khoán đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua
cơ chế giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán hay thị trường OTC mà chính
khách hàng phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả kinh tế của việc giao dịch đó.
1.1.2. Chức năng của hoạt động môi giới chứng khoán
Cung cấp dịch vụ với hai tư cách:
- Nối liền khách hàng với bộ phận nghiên cứu đầu tư
- Nối liền những người bán với những người mua
• Kỹ năng khai thác thông tin:
Một trong những nguyên tắc trong nghề môi giới là phải tìm hiểu khách
hàng, biết được khả năng tài chính, mức độ chấp nhận rủi ro của khách hàng.
Ngoài ra nó còn giúp cho nhà môi giới tăng được khối lượng tài sản quản lý, có
chiến lược khách hàng thích hợp.
1.2. Nghiệp vụ tự doanh
Tự doanh là việc CTCK tự tiến hành các giao dịch mua bán chứng khoán
cho mình. Hoạt động tự doanh của CTCK được thực hiện thông qua cơ chế giao
dịch trên SGDCK hoặc thị trường OTC. Tại một số thị trường vận hành theo cơ
chế khớp giá (quote driven) hoạt động tự doanh của CTCK được thực hiện thông
qua hoạt động tạo lập thị trường. Lúc này, CTCK đóng vai trò là nhà tạo lập thị
trường, nắm giữ một số lượng chứng khoán nhất định của một số loại chứng
khoán và thực hiện mua bán chứng khoán với các khách hàng để hưởng chênh
13
SVTH: Trần Anh Tú Lớp: TTCK - 45
13
14
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S. Lê Hương Lan
lệch giá.
Mục đích của hoạt động tự doanh là nhằm thu lợi nhuận cho chính công ty
thông qua hành vi mua, bán chứng khoán với khách hàng. Nghiệp vụ này hoạt
động song hành với nghiệp vụ môi giới chứng khoán, vừa phục vụ lệnh giao
dịch cho khách hàng đồng thời cũng phục vụ cho chính mình, vì vậy trong quá
trình hoạt động có thể dẫn đến xung đột lợi ích giữa thực hiện giao dịch cho
khách hàng và cho bản thân công ty. Do đó, luật pháp của các nước đều yêu cầu
tách biệt rõ ràng giữa các nghiệp vụ môi giới và tự doanh, CTCK phải ưu tiên
thực hiện lệnh của khách hàng trước khi thực hiện lệnh cho mình. Thậm chí
luật pháp một số nước còn quy định có 2 loại hình CTCK là công ty môi giới
chứng khoán chỉ làm chức năng môi giới và CTCK có chức năng tự doanh.
Khác với nghiệp vụ môi giới, CTCK chỉ làm trung gian thực hiện lệnh cho
o Hoạt động tạo thị trường: Khi được phát hành, các chứng khoán mới chưa có
thị trường giao dịch. Để tạo thị trường cho các chứng khoán này, các CTCK
thực hiện tự doanh thông qua việc mua và bán chứng khoán, tạo tính thanh
khoản trên thị trường cấp hai. Trên những TTCK phát triển, các nhà tạo lập thị
trường (Market - Makers) sử dụng nghiệp vụ mua bán chứng khoán trên thị
trường OTC để tạo thị trường. Theo đó, họ liên tục có những báo giá để mua
hoặc bán chứng khoán với các nhà kinh doanh chứng khoán khác. Như vậy, họ
sẽ duy trì một thị trường liên tục đối với chứng khoán mà họ kinh doanh.
Các hình thức giao dịch trong hoạt động tự doanh:
Giao dịch gián tiếp: Các CTCK đặt các lệnh mua và bán chứng khoán trên Sở
giao dịch, lệnh của họ có thể thực hiện với bất kỳ khách hàng nào không được
xác định trước.
15
SVTH: Trần Anh Tú Lớp: TTCK - 45
15
16
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S. Lê Hương Lan
Giao dịch trực tiếp: Là giao dịch tay đôi giữa hai công ty chứng khoán hay giữa
CTCK với một khách hàng thông qua thương lượng. Đối tượng của các giao dịch
trực tiếp là các loại chứng khoán đăng ký giao dịch ở thị trường OTC.
1.3. Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành
Để thực hiện thành công các đợt chào bán chứng khoán ra công chúng, đòi
hỏi tổ chức phát hành phải cần đến các CTCK tư vấn cho đợt phát hành và thực
hiện bảo lãnh, phân phối chứng khoán ra công chúng. Đây là nghiệp vụ bảo lãnh
phát hành của các CTCK và là nghiệp vụ chiếm tỷ lệ doanh thu khá cao trong
tổng doanh thu của các CTCK.
Như vậy, nghiệp vụ bảo lãnh phát hành là việc CTCK có chức năng bảo
lãnh (sau đây gọi tắt là tổ chức bảo lãnh - TCBL) giúp tổ chức phát hành thực
hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, tổ chức việc phân phối chứng
khoán và giúp bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu sau khi phát hành.
khoán phát hành trừ đi phí bảo lãnh.
1.4. Nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư
Đây là nghiệp vụ quản lý vốn uỷ thác của khách hàng để đầu tư vào chứng
khoán thông qua danh mục đầu tư nhằm sinh lợi cho khách hàng trên cơ sở tăng
lợi nhuận và bảo toàn vốn cho khách hàng. Quản lý danh mục đầu tư là một dạng
nghiệp vụ tư vấn mang tính chất tổng hợp có kèm theo đầu tư, khách hàng uỷ
thác tiền cho CTCK thay mặt mình quyết định đầu tư theo một chiến lược hay
những nguyên tắc đã được khách hàng chấp thuận hoặc yêu cầu (mức lợi nhuận
kỳ vọng; rủi ro có thể chấp nhận…).
Quy trình của nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư có thể được khái quát bao
gồm các bước như sau:
17
SVTH: Trần Anh Tú Lớp: TTCK - 45
17
18
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S. Lê Hương Lan
Bước 1: Xúc tiến tìm hiểu và nhận quản lý: CTCK và khách hàng tiếp xúc và tìm
hiểu về khả năng tài chính, chuyên môn từ đó đưa ra các yêu cầu về quản lý vốn
uỷ thác.
Bước 2: Ký hợp đồng quản lý: CTCK ký hợp đòng quản lý giữa khách hàng và
công ty theo các yêu cầu, nội dung về vốn, thời gian uỷ thác, mục tiêu đầu tư,
quyền và trách nhiệm của các bên, phí quản lý danh mục đầu tư.
Bước 3: Thực hiện hợp đồng quản lý: CTCK thực hiện đầu tư vốn uỷ thác của
khách hàng theo các nội dung đã được cam kết và phải đảm bảo tuân thủ các quy
định về quản lý vốn, tài sản tách biệt giữa khách hàng và chính công ty.
Bước 4: Kết thúc hợp đồng quản lý: Khách hàng có nghĩa vụ thanh toán các
khoản chi phí quản lý theo hợp đồng ký kết và xử lý các trường hợp khi công ty
chứng khoán bị ngưng hoạt động, giải thể họ.
1.5. Nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán
Cũng như các loại hình tư vấn khác, tư vấn đầu tư chứng khoán là việc
hỏi phải tuân thủ một số nguyên tắc cơ bản sau:
• Không đảm bảo chắc chắn về giá trị chứng khoán: Giá trị chứng khoán không
phải là một số cố định, nó luôn thay đổi theo các yếu tố kinh tế, tâm lý và diễn
biến thực tiễn của thị trường.
• Luôn nhắc nhở khách hàng rằng những lời tư vấn của mình dựa trên cơ sở phân
tích các yếu tố lý thuyết và những diễn biến trong quá khứ, có thể là không hoàn
toàn chính xác và khách hàng là người quyết định cuối cùng trong việc sử dụng
các thông tin từ nhà tư vấn để đầu tư, nhà tư vấn sẽ không chịu trách nhiệm về
những thiệt hại kinh tế do những lời khuyên đưa ra.
19
SVTH: Trần Anh Tú Lớp: TTCK - 45
19
20
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S. Lê Hương Lan
• Không được dụ dỗ, mời chào khách hàng mua hay bán một loại chứng khoán
nào đó, những lời tư vấn phải được xuất phát từ những cơ sở khách quan là quá
trình phân tích, tổng hợp một cách khoa học, logic các vấn đề nghiên cứu.
1.6. Các nghiệp vụ phụ trợ
• Lưu ký chứng khoán: Là việc lưu giữ, bảo quản chứng khoán của khách hàng
thông qua các tài khoản lưu ký chứng khoán. Đây là quy định bắt buộc trong
giao dịch chứng khoán, bởi vì giao dịch chứng khoán trên thị trường tập trung là
hình thức giao dịch ghi sổ, khách hàng phải mở tài khoản lưu ký chứng khoán tại
các CTCK (nếu chứng khoán phát hành dưới hình thức ghi sổ) hoặc ký gửi các
chứng khoán (nếu chứng khoán phát hành dưới hình thức chứng chỉ vật chất).
Khi thực hiện dịch vụ lưu ký chứng khoán cho khách hàng, CTCK sẽ được nhận
các khoản thu phí lưu ký chứng khoán, phí gửi, phí rút và phí chuyển nhượng
chứng khoán.
• Quản lý thu nhập của khách hàng (quản lý cổ tức): Xuất phát từ việc lưu ký
chứng khoán cho khách hàng, CTCK sẽ theo dõi tình hình thu lãi, cổ tức của
chứng khoán và đứng ra làm dịch vụ thu nhận và chi trả cổ tức cho khách hàng
thực hiện thông qua hoạt động tạo lập thị trường (ví dụ ở Mĩ)
2. Mục đích của hoạt động tự doanh
Mục đích của hoạt động tự doanh nhằm thu lợi cho chính mình, tuy nhiên
để đảm bảo sự ổn định và tính minh bạch của thị trường pháp luật các nước đều
yêu cầu các công ty chứng khoán khi thực hiện hoạt động tự doanh phải đáp ứng
một số điều kiện cơ bản sau:
Vốn: Để thực hiện hoạt động tự doanh các công ty chứng khoán phải có đủ
số vốn nhất định theo quy định của pháp luật.
21
SVTH: Trần Anh Tú Lớp: TTCK - 45
21
22
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S. Lê Hương Lan
Con người: kinh doanh chứng khoán là một lĩnh vực đặc thù có sự chi phối
rất lớn của nhân tố con người và thông tin, nhân viên thực hiện nghiệp vụ tự
doanh của công ty phải có một trình độ chuyên môn nhất định, có khả năng tự
quyết cao và đặc biệt là tính nhạy cảm trong công việc.
3. Yêu cầu đối với công ty chứng khoán trong hoạt động tự doanh
• Tách biệt quản lý
Các công ty chứng khoán phải có sự tách biệt giữa nghiệp vụ tự doanh và
nghiệp vụ môi giới để đảm bảo tính minh bạch rõ ràng trong hoạt động của
mình. Sự tách bạch này bao gồm cả yếu tố con người và quy trình nghiệp vụ.
Ngoài ra các công ty chứng khoán còn phải đảm bảo tính minh bạch về tài
sản của khách hàng và tài sản của công ty.
• Ưu tiên khách hàng
Pháp luật hầu hết các nước đều yêu cầu cong ty chứng khoán phải tuân thủ
nguyên tắc ưu tiên cho khách hàng khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh điều đó có
nghĩa là lệnh giao dịch của khách hàng phải được xử lý trước lệnh tự doanh của
công ty.
4. Lợi ích của hoạt động tự doanh đối với công ty chứng khoán
trong công ty tiến hành thẩm định, đánh giá chất lượng của các khoản đầu tư.
Kết quả của giai đoạn này sẽ là kết luận cụ thể về việc công ty có nên đầu tư hay
không và đầu tư với số lượng, giá cả bao nhiêu là hợp lý.
Giai đoạn 4: Thực hiện đầu tư.
23
SVTH: Trần Anh Tú Lớp: TTCK - 45
23
24
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S. Lê Hương Lan
Sau khi đã đánh giá, phân tích các cơ hội đầu tư, bộ phận tự doanh sẽ triển
khai thực hiện các hoạt động giao dịch mua, bán chứng khoán. Cơ chế giao dịch
sẽ tuân theo các quy định của pháp luật và các chuẩn mực chung trong ngành.
Giai đoạn 5: Quản lý đầu tư và thu hồi vốn.
Trong giai đoạn này, bộ phận tự doanh có trách nhiệm theo dõi các khoản
đầu tư, đánh giá tình hình và thực hiện những hoán đổi cần thiết, hợp lý. Sau khi
thu hồi vốn, bộ phận tự doanh sẽ tổng kết, đánh giá lại tình hình thực hiện và lại
tiếp tục chu kỳ mới.
Sơ đồ 1: Quy trình hoạt động tự doanh của một CTCK
Nghiên cứu đầu tư
Phân tích rủi ro, lợi nhuận
Mục tiêu đầu tư
Phân bổ tài sản
Lựa chọn chứng khoán
Xây dựng danh mục đầu tư
Đầu vào
Đầu ra
6. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tự doanh của công ty chứng
khoán
6.1. Nhân tố khách quan
• Môi trường pháp lý
phong phú và đa dạng do đó hoạt động tự doanh của các CTCK sẽ phát triển.
Ngược lại, thì với một TTCK chậm phát triển tất yếu sẽ kéo theo sự chậm chễ
của nghiệp vụ tự doanh trong các CTCK.
6.2. Nhân tố chủ quan
• Năng lực của các CTCK
25
SVTH: Trần Anh Tú Lớp: TTCK - 45
25