Bài 24
Việt Nam trong những năm chiến tranh
thế giới thứ nhất 1914 - 1918
I. Mục tiêu bài học
1. Về kiến thức
Giúp học sinh
- Hiểu được đặc điểm của bối cảnh Việt Nam trong chiến tranh và phong trào
giải phóng dân tộc trong thời kỳ này.
- Biết được các cuộc khởi nghĩa và vận động khởi nghĩa trong những năm
chiến tranh thế giới thứ nhất: Thời gian, địa điểm, hình thức đấu tranh.
- Sự xuất hiện khuynh hướng cứu nước mới ở Việt Nam đầu thế kỷ XX.
2. Về tư tưởng
- Trân trọng truyền thống yêu nước của nhân dân ta.
3. Về kỹ năng
- Biết sử dụng phương pháp đối chiếu, so sánh các sự kiện.
- Biết tổng kết kinh nghiệm rút ra bài học.
II. Thiết bị, tài liệu dạy học
Tổ chức cho học sinh sưu tầm tranh ảnh, tư liệu lịch sử phản ánh nền kinh tế -
xã hội và các cuộc khởi nghĩa trong thời kỳ này.
III. Tiến trình tổ chức dạy học
1. Kiểm tra bài cũ:
Câu 1: Bối cảnh nảy sinh khuynh hướng mới trong phong trào vận động giải
phóng dân tộc đầu thế kỷ XX.
Câu 2: Phân tích sự giống và khác nhau giữa hai xu hướng bạo động và cải
cách đầu thế kỷ XX.
2. Dẫn dắt vào bài mới
- Giáo viên gợi cho học sinh nhớ lại những nét cơ bản về cuộc chiến tranh thế
giới thứ nhất 1914 - 1918: là cuộc chiến tranh đế quốc phi nghĩa đã lôi kéo 33 nước
trên thế giới (chủ yếu là những nước ở châu Âu) vào vòng khói lửa của chiến tranh,
chiến trường chính diễn ra ở châu Âu. Chiến tranh mặc dù diễn ra chủ yếu là ở
châu Âu song nó có tác động đến nhiều nước trên thế giới trong đó có các nước
+ Để thực hiện mưu đồ đó, Pháp đã thực hiện một loạt
các chính sách, biện pháp ráo riết về kinh tế:
- Tăng các thứ thuế.
- Bắt nhân dân ta mua công trái trong 4 năm chiến
tranh, chính quyền thuộc địa đã thu được 184.305.114
phơrăng tiền công trái và 13.816.117 phơ răng tiền
I. Tình hình kinh tế - xã
hội
1. Những biến động về
kinh tế
* Âm mưu của Pháp với Việt
Nam
Trong chiến tranh thế giới
thứ nhất 1914 - 1918: Vơ
vét tối đa nhân lực, vật lực
của thuộc địa để gánh đỡ
quyên góp.
- Vơ vét hàng trăm tấn lương thực và nông sản các loại,
hàng vạn tấn kim loại cần thiết cho việc chế tạo vũ khí
để đưa sang Pháp.
- Bắt nông dân chuyển từ trồng lúa sang trồng cây
công nghiệp phục vụ cho chiến tranh (đay, thầu dầu ).
* Hoạt động 2: Nhóm
- Giáo viên: Tình trạng chiến tranh và những chính
sách kinh tế của Pháp đã tác động không nhỏ đến nền
kinh tế Việt Nam, tạo ra những biến động về kinh tế
của Việt Nam. Yêu cầu học sinh thảo luận theo nhóm
(mỗi bàn hợp thành một nhóm) để trả lời câu hỏi: Tình
trạng chiến tranh và những chính sách kinh tế của Pháp
trong chiến tranh đã ảnh hưởng như thế nào đến Việt
+ Bắt nông dân chuyển từ
trồng lúa sang trồng cây
công nghiệp.
* Những biến động kinh tế
- Nông nghiệp: trồng lúa
nước bị tổn hại, gặp nhiều
+ Nhập khẩu từ Pháp giảm đáng kể (vì nước Pháp có
chiến tranh, sản xuất hàng hoá đình đốn), vì vậy tư sản
người Việt tranh thủ mở rộng kinh doanh và quy mô
sản xuất, đồng thời xuất hiện nhiều xí nghiệp mới →
Chứng tỏ những chính sách của Pháp ít nhiều đã kích
thích sự phát triển công nghiệp giao thông vận tải của
Việt Nam.
Giáo viên cho gọi một học sinh đọc phần chữ nhỏ
trong sách giáo khoa để thấy sự phát triển hơn của
công nghiệp Việt Nam trong chiến tranh 1914 - 1918.
- Giáo viên có thể cung cấp thêm cho học sinh tư liệu
về Bạch Thái Bưởi, một trong số những nhà tư sản
Việt Nam đầu tiên nổi lên cạnh tranh với giới kinh
doanh nước ngoài, trong và sau chiến tranh thế giới thứ
nhất. Ông đứng đầu công ty Bạch Thái Bưởi ở Hải
Phòng. Lợi dụng chính sách nới tay trong độc quyền
của tư bản Pháp, ông đã tranh thủ kinh doanh: Ông có
đội tàu chạy khắp các đường sông quan trọng ở Bắc
kỳ, Trung kỳ, chạy tuyến ven biển Hải Phòng. Năm
1914, công ty Bạch Thái Bưởi đóng được tàu trọng tải
100 tấn, năm 1916 đóng được tàu trọng tải 200 tấn,
năm 1917 đóng được tàu bằng thép dài 46m, rộng
7,2m, cao 3,6m, động cơ 400 mã lực. Năm 1919 ông
có đội tàu 25 chiếc, 20 xà lan và một cơ sở đóng mới
Gợi ý ảnh hưởng tới đời sống của giai cấp như thế
nào?
- Học sinh theo dõi SGK để trả lời:
- Giáo viên bổ sung kết luận
+ Nạn bắt lính và những chính sách trong nông nghiệp
đã làm cho sức sản xuất trong nông nghiệp giảm sút
nghiêm trọng và đời sống nhân dân ngày càng bị bần
cùng. Trong chiến tranh, gần 10 vạn thanh niên bị đưa
sang chiến trường châu Âu làm lính chiến hay lính thợ.
Từ 1915 - 1919, số lính thợ đưa sang Pháp là 48.891
người. “Viên công sứ ở Đông Dương ra lệnh cho bọn
dưới quyền ông ta trong một thời gian nhất định phải
nộp cho đủ số người quy định. Bằng cách nào điều đó
không quan trọng, các quan cứ liệu mà xoay xở. Thoạt
đầu chúng tóm những người khoẻ mạnh, nghèo khổ
sau đó chúng mới đòi đến con cái nhà giàu. Những ai
cứng cổ, thì chúng tìm ngay ra cớ để sinh chuyện với
họ và gia đình họ, tốp thì bị xích tay về tỉnh lị, tốp thì
trong khi chờ đợi xuống tàu thì nhốt trong các trường
trung học ở Sài Gòn, có lính canh gác, “lưỡi lê tuốt
trần, súng lên đạn sẵn”.
+ Do công nghiệp phát triển hơn một bước lên giai cấp
công nhân tăng lên về số lượng, năm 1913 có 12.000
người đến năm 1916 lên tới 17.000 người. Công nhân
cao sứ tăng gấp 5 lần. Công nhân trong các xí nghiệp
của tư sản Việt Nam cũng tăng lên. Trước chiến tranh,
cơ sở kinh doanh của Bạch Thái Bưởi chỉ có vài trăm
công nhân đến năm 1919 tăng lên 1.500 người.
* Hoạt động 2: Cả lớp/cá nhân
- Giáo viên nêu câu hỏi: Số lượng công nhân tăng rõ rệt
chiến tranh: đóng tàu, sửa chữa quân nhu, sản xuất cao
su, hoá chất
- Giáo viên thông báo: Trong chiến tranh do có một số
cơ hội kinh doanh nên tư sản Việt Nam tranh thủ thoát
khỏi sự kiềm chế của tư bản Pháp (Bạch Thái Bưởi)
tầng lớp tiểu tư sản thành thị cũng có bước phát triển
rõ rệt về số lượng. Tuy nhiên đến cuối chiến tranh, hai
giai tầng tư sản và tiểu tư sản vẫn chưa thực sự hình
thành. Mặc dù vậy đã giành được vai trò nhất định
trong kinh tế, tư sản Việt Nam muốn có địa vị chính trị
nhất định. Họ lập các cơ quan ngôn luận riêng như các
báo diễn đàn bản xứ, An Hà, Đại Việt nhằm bênh
vực quyền lợi kinh tế cho giai cấp mình.
- Giáo viên dẫn dắt: Trong chiến tranh phong trào đấu
tranh của các giai cấp tầng lớp diễn ra như thế nào?
Chúng ta cùng tìm hiểu mục II
* Hoạt động 1: Cả lớp
Giáo viên yêu cầu học sinh đọc sách giáo khoa các
mục 1, 2, 3, 4, 5 và lập bảng thống kê theo mẫu.
cùng.
+ Do công nghiệp phát
triển hơn một bước nên
giai cấp công nhân tăng
lên về số lượng.
- Trong chiến tranh, tư sản
Việt Nam và tiểu tư sản có
tăng về số lượng, song
chưa trở thành giai cấp.
Họ bắt đầu lên tiếng đấu
tranh bênh vực quyền lợi
Trung.
- Vũ trang - Công nhân
viên chức hoả
xa
- Thất
bại
2 - Cuộc vận
động khởi
nghĩa của
Thái Phiên
và Trần Cao
Vân.
- Trung Kỳ - Khởi nghĩa - Nhân dân
và binh lính,
có sự lãnh
đạo của vua
Duy Tân.
- Thất
bại
3 - Khởi nghĩa
của binh lính
Thái Nguyên
- Thái
Nguyên
- Khởi nghĩa lật đổ được
chính quyền địa phương,
làm chủ tỉnh lị trong thời
gian ngắn.
- Tù chính
trị và binh
đồng bào
dân tộc thiểu
số.
- Tây Bắc.
- Đông
Bắc.
- Tây
Nguyên.
- Vũ trang. - Dân tộc
thiểu số.
- Thất
bại. Góp
phần vào
cuộc đấu
tranh
chung
của dân
tộc.
* Hoạt động 2: Cá nhân
- Giáo viên gợi ý giúp học sinh nhận xét về phong trào
giải phóng dân tộc của nhân dân ta trong chiến tranh
thế giới thứ nhất:
Nhận xét về:
+ Địa bàn hoạt động của các cuộc đấu tranh.
+ Thành phần của phong trào nói lên điều gì? ý nghĩa
của việc binh lính tham gia đấu tranh.
+ Hình thức đấu trang chủ yếu là gì?
+ Sự thất bại của cuộc khởi nghĩa nói lên điều gì?
- Học sinh dựa vào kiến thức vừa tìm hiểu và dựa vào
sự gợi ý của giáo viên để nhận xét: Phong trào đấu
Cao Vân có sự tham gia của nhà vua Duy Tân: Con của
Thành Thái lên ngôi từ lúc 8 tuổi, ông có thái độ chống
Pháp kiên quyết tích cực hơn cha; từ khi còn nhỏ đã có
những việc làm và lời nói cương nghị, chống Pháp
quyết liệt. Cuối năm 1916 ông đã liên lạc với Thái
Phiên và Trần Cao Vân (hai nhà chí sĩ của Việt Nam
Quang Phục Hội – Phan Bội Châu chủ xướng) bàn mưu
khởi nghĩa song do bị lộ nên cả ba người đã bị thực dân
Pháp bắt. Thực dân Pháp tìm đủ cách dụ dỗ ông quay
lại ngai vàng song ông kiên quyêt từ chối, không chịu
khuất phục trước quân Pháp và tay sai. Duy Tân đã bị
lưu đày sang đảo Rêuyniông cùng vua cha là Thành
Thái. Trần Cao Vân, Thái Phiên cùng những người lãnh
đạo khác bị chém đầu. Trong lịch sử triều Nguyễn đã
có ba vua yêu nước bị thực dân Pháp lưu đầy.
+ Cuộc khởi nghĩa của binh lính Thái Nguyên có nhiều
nét độc đáo. Đây là cuộc vũ trang bạo động duy nhất
trong những năm chiến tranh đã lật đổ được chính
quyền ở một địa phương. Ngọn cờ “Nam binh phục
quốc” bay cao trên bầu trời tỉnh lị Thái Nguyên, lãnh
đạo nghĩa quân phát hịch tuyên bố Thái Nguyên độc
lập, đặt quốc hiệu là Đại Hùng, vạch tội ác của Pháp,
kêu gọi đồng bào vùng lên khôi phục nền độc lập của
đất nước. Đây là cuộc vùng dậy mãnh liệt của binh lính
người Việt trong quân đội Pháp, dùng súng giặc giết
giặc, tạo nên truyền thồng tốt đẹp của những binh sĩ
cứu quốc Việt Nam sau này.
+ Phong trào hội kín ở Nam Kỳ diễn ra khắp Nam Kỳ,
thành lập nhiều nhóm, hội kín khác nhau, đấu tranh
bằng nhiều hình thức khác nhau nhưng đều thống nhất
+ Năm 1918 công nhân mỏ Hà Tu đốt nhà một viên cai
thầu vì tội ngược đãi công nhân.
* Hoạt động 2: Cá nhân
- Giáo viên nêu câu hỏi: qua các hoạt động đấu tranh đó
của giai cấp công nhân trong chiến tranh, em có nhận
xét gì?
Giáo viên gợi ý: Em có thể nhận xét về: hình thức đấu
tranh, mức độ đấu tranh, mục tiêu, tính chất phong
trào,
- Học sinh dựa vào nội dung vừa học suy nghĩ trả lời.
- Giáo viên bổ sung, kết luận:
+ Bước vào thời kì chiến tranh, phong trào công nhân
vẫn tiếp diễn ở nhiều nơi.
+ Hình thức đấu tranh: đấu tranh kinh tế bằng những
hình thức hoà bình, kết hợp với bạo động vũ trang.
+ Mục tiêu: chủ yếu đòi quyền lợi kinh tế.
→ Phong trào đấu tranh mang tính chất tự phát, chỉ đòi
III. Sự xuất hiện khunh
hướng cứu nước mới
1. Phong trào công nhân
quyền lợi kinh tế, chưa ý thức được vai trò chính trị của
mình, tổ chức chưa chặt chẽ, còn đấu tranh lẻ tẻ
Phong trào công nhân trong 4 năm chiến tranh có lúc
hoà nhập với phong trào yêu nước, có lúc tạo nên một
phong trào riêng, nhưng phong trào còn mang tính tự
phát.
* Hoạt động 1: Cả lớp
- Giáo viên yêu cầu học sinh theo dõi SGK, kết hợp với
những hiểu biết xã hội của mình về Hồ Chí Minh - anh
hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới để
- Hình thức: chính trị kết
hợp với vũ trang.
- Mục tiêu: chủ yếu đòi
quyền lợi kinh tế.
→ Phong trào đấu tranh
mang tính chất tự phát.
2. Buổi đầu hoạt động
của Nguyễn ái Quốc 1911
- 1918
truyền thống. Vì vậy, Người đã quyết định đi sang
phương Tây tìm con đường cứu nước mới, sang ngay
nước Pháp với tư tưởng đúng đắn đó là: muốn đánh
thắng kẻ thù thì phải hiểu rõ về kẻ thù của mình. Người
còn muốn xem nước Pháp và các nước khác làm thế
nào, rồi trở về giúp đồng bào mình.
* Hoạt động 2:
- Học sinh theo dõi SGK những hoạt động buổi đầu của
Nguyễn ái Quốc.
- Giáo viên bổ sung:
+ Khác với Phan Bội Châu (coi Nhật là bạn), Phan Chu
Trinh (coi Pháp là bạn), Nguyễn ái Quốc đã phân biệt
rõ đâu là bạn, đâu là thù. Người nhận thức được chủ
nghĩa đế quốc ở đâu cũng là kẻ thù của nhân dân lao
động, dù ở dưới chân tượng nữ thần tự do (Mỹ) hay ở
quê hương của công thức nổi tiếng: tự do, bình đẳng,
bác ái (Pháp).
+ Hoạt động của Nguyễn ái Quốc từ năm 1911 - 1918
vừa nhằm tố cáo tội ác của thực dân Pháp ở Việt Nam,
tuyên truyền cho cách mạng Việt Nam, vừa tìm tòi để
xác định con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc →
+ Năm 1911 - 1917
Người bôn ba qua nhiều
nước làm nhiều nghề để
sống, tiếp xúc với nhiều
người → Hiểu rõ ở đâu
bọn đế quốc cũng tàn bạo,
độc ác; ở đâu người lao
động cũng bị áp bức, bóc
lột dã man (Người nhận
rõ bạn - thù).
- Năm 1917 Nguyễn ái
Quốc trở lại Pháp, tại đây
Người tích cực hoạt động
tố cáo thực dân Pháp và
tuyên truyền cho cách
mạng Việt Nam, tham gia
vào phong trào công nhân
Pháp, tiếp nhận ảnh
hưởng cách mạng tháng
mười Nga → tư tưởng của
Người dần dần biến đổi.
4. Sơ kết bài học
-Củng cố:
- Trong chiến tranh thế giới thứ nhất: do tác động của chiến tranh và do những
chính sách khai thác, bóc lột ráo riết của thực dân Pháp đã làm cho kinh tế, xã hội
Việt Nam có nhiều biến chuyển. Song những biến chuyển đó chưa đủ để tạo ra
bước ngoặt trong phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân ta. Vì vậy trong
những năm chiến tranh phong trào đấu tranh chống Pháp vẫn tiếp tục phát triển
song vẫn bế tắc về đường lối, khủng hoảng về giai cấp lãnh đạo. Hoàn cảnh đó đã
thúc đẩy người thanh niên yêu nước Nguyễn ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước.