TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài :
Những giá trị của triết học phương đông trong nghiên cứu và quản lý kinh tế.
Giảng viên hướng dẫn: TS. Lê Ngọc Thông
Lớp: CH20I – Quản trị doanh nghiệp
Nhóm 2: Nguyễn Tuấn Anh (1983)
Nguyễn Thị Thu Giang
Vũ Thái Hà
Nguyễn Đình Hải
Tạ Thị Hương Lan
Trần Đức Thành
I. LỜI MỞ ĐẦU
Tiểu luận triết học Nhóm 2 – CH20I
Theo quan điểm cổ đại:“ Triết học là một hình thái ý thức xã hội; là hệ thống tri
thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí, vai trò của con người
trong thế giới ấy”
Quan niệm macxit cho rằng: "Triết học là một trong những hình thái ý thức xã
hội, là học thuyết về những nguyên tắc chung nhất của tồn tại và nhận thức, của thái
độ con người đối với thế giới; là khoa học về những quy luật chung nhất của tự nhiên,
xã hội và tư duy".
Xét về chức năng, triết học ra đời với tư cách là hạt nhân lý luận của thế giới
quan, làm cho thế giới quan phát triển như một quá trình tự giác dựa trên sự tổng kết
kinh nghiệm thực tiễn và tri thức do các khoa học đem lại. Đó là chức năng thế giới
quan của triết học.
Trên cơ sở chức năng đó, triết học có vai trò và ảnh hưởng rất lớn đến sự phát
triển của xã hội vì nó là cơ sở của phương pháp luận cho nhiều ngành khoa học trong
đó có khoa học nghiên cứu và quản lý kinh tế. Tuy nhiên do lịch sử phát triển của triết
học rất đa dạng và phong phú nên cũng hình thành ra nhiều trường phái, nhiều quan
điểm, lập trường nhưng tựu trung lại có thể phân ra làm hai dòng triết học lớn là triết
học phương đông và triết học phương tây.
Nếu như ở phương Tây, triết học được xây dựng bởi chủ yếu là các nhà khoa
đạo cấp cao.
- Tư tưởng Đức trị trong quản lý cán bộ
- Tư tưởng Pháp trị trong điều hành doanh nghiệp
- Chữ “ Tín” trong quan hệ kinh doanh .
- Ảnh hưởng tính “ Thiện” của Phật giáo trong hoạt động kinh doanh và hoạt
động xã hội của doanh nghiệp, doanh nhân.
Do còn hạn chế trong thực tiễn và nhận thức, chúng em rất mong nhận được sự
góp ý, nhận xét của thấy giáo TS. Lê Ngọc Thông để bài tiều luận được hoàn thiện
hơn. Chúng em xin chân thành cám ơn.
II – Những giá trị của triết học phương đông trong nghiên cứu và quản lý
kinh tế trên góc độ tác động đến con người.
3
Tiểu luận triết học Nhóm 2 – CH20I
Các doanh nghiệp và các hoạt động của doanh nghiệp được coi là những yếu tố
cơ bản của nền kinh tế và là đối tượng phổ biến được nghiên cứu hiện nay. Sự phát
triển của các doanh nghiệp được lấy làm hình ảnh cho sự phát triển của nền kinh tế.
Hoạt động của doanh nghiệp có thể chia ra làm hai loại : hoạt động bên trong doanh
nghiệp, hoạt động quản lý; hoạt động bên ngoài doanh nghiệp, hoạt động kinh doanh.
Phần trình bày dưới đây sẽ nghiên cứ theo hướng hoạt động của doanh nghiệp từ bên
trong ra bên ngoài ngoài.
1. Ứng dụng học thuyết âm dương ngũ hành trong kinh doanh và lựa chọn
cán bộ lãnh đạo cấp cao trong doanh nghiệp.
Đây là học thuyết kết hợp 2 học thuyết khác học thuyết về Âm dương và học thuyết về
Ngũ hành.Nói lên quan điểm Phương Đông về vũ trụ và vạn vật. Âm Dương là quy
luật bao trùm vũ trụ, mọi thứ sinh ra đều có thuộc tính âm hoặc
dương. Ngũ hành, gồm Kim, Thuỷ, Mộc, Hoả, Thổ cũng là như
thế, mỗi thứ đều có thuộc tính ngũ hành.
Quan hệ giữa năm hành là quan hệ sinh khắc. Tính theo thứ tự
Kim, Thuỷ, Mộc, Hoả, Thổ thì 2 hành kề nhau là tương sinh, 2
hành cách nhau là tương khắc. Quan hệ này cũng chỉ diễn ra
phòng ban đó.
Hoạt động kinh doanh luôn chứa đựng nhiều bất ổn, rủi ro, đòi hỏi người quản lý, lãnh
đạo luôn phải cố gắng đương đầu với những thách thức và lựa chọn cho doanh nghiệp,
tổ chức của mình những cán bộ lãnh đạo cấp dưới phù hợp. Trong các yếu tố phù hợp
đó, các nhà lãnh đạo hiện nay cũng chú ý hơn đến yếu tố về mệnh với mong muốn
duy trì được sự ổn định và phát triển của doanh nghiệp, tổ chức mình. Theo đó, trong
việc tuyển chọn nhân sự, cán bộ cấp cao thường có một số chú ý sau:
- Chọn bản mệnh chủ đạo của công ty theo bản mệnh người có quyền hành cao
nhất như chủ tịch hội đồng quản trị hay tổng giám đốc.
- Khi chọn các nhân viên cấp dưới mà có thể nắm giữ những vị trí quan trọng
trong công ty hay trong tổ chức không được xung khắc với bản mệnh của
người đứng đầu. Trong trường hợp có thể tương sinh với bản mệnh của người
đứng đầu là tốt nhất, nhưng cần phải theo chiều vượng cho người đứng đầu.
- Khi phân chia nhóm để làm việc cũng cần xem xét bản mệnh của các thành
viên trong nhóm để việc hợp tác được diễn ra suôn sẻ, đặc biệt với những tác
vụ cần sự phối hợp các thành viên trong một thời gian dài và kết quả của tác vụ
có ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển của công ty hay tổ chức đó.
- Các nhân viên dưới quyền của các cấp quản lý cũng cần phải xem xét và so
sánh với bản mệnh của người quản lý trực tiếp.
- Các bộ phận giám sát lẫn nhau thì có thể chọn các cán bộ có mệnh sung khắc
lẫn nhau
Trong tư tưởng của người Trung Quốc cổ thì Âm dương ngũ hành là những
phạm trù cơ bản nhất, nó đi xuyên suốt một thời gian rất dài trong lịch sử và vẫn còn
ảnh hưởng nhiều trong thời đại ngày nay. Đó cũng là những khái niệm trừu tượng đầu
tiên của người xưa để giải thích sụ sinh thành, biến hóa của vũ trụ. Thuyết âm dương
ngũ hành được phát triển mạnh từ thời Chiến quốc, và trở thành phổ biến trong các
lĩnh vực khoa học tự nhiên. Song học thuyết âm dương ngũ hành cũng như các học
thuyết triết học Trung Quốc cổ đại là thế giới quan của người Trung Hoa ở vào một
thời kỳ lịch sử mà lúc đó lực lượng sản xuất và khoa học còn ở trình độ thấp, cho nên
không khỏi có những hạn chế do những điều kiện lịch sử đương thời quy định. Tư
quản lý xã hội muốn có đức nhân phải có 5 điều:
+ Một là trọng dân
+ Hai là khoan dung độ lượng với dân
+ Ba là giữ lòng tin với dân
+ Bốn là mẫn cán (tận tụy trong công việc): lo việc chung
6
Tiểu luận triết học Nhóm 2 – CH20I
+ Năm là đem lòng nhân ái đối xử với dân
Như vậy, quan niệm về đức nhân của Khổng Tử là một đóng góp lớn trong việc
giáo dục đào tạo con người giúp con người phát triển toàn diện, vừa có đức vừa có tài.
Với Khổng Tử đạo đức là gốc của con người, nói đến con người trước hết là
nói đến đạo đức: “Làm người có nết hiếu dễ thì ít ai dám xúc phạm bề trên. Không
thích xúc phạm bề trên mà thích làm loạn thì chưa từng có. Người quân tử chăm chú
vào việc gốc, gốc mà vững thì đạo đức sinh ra. Hiếu, đễ là cái gốc của đức nhân ”
Đức với Khổng Tử là lời nói đi đôi với việc làm trên cơ sở cái thiện: “Người xưa thận
trọng lời nói, sợ sẽ xấu hổ nếu nói mà không làm được:
Trên cơ sở đó, mà Khổng Tử đã đề xuất đường lối “Đức trị”-Đường lối trị nước
bằng đạo đức mang đậm dấu ấn độc đáo của ông. Khổng Tử quan niệm “Làm chính trị
(trị dân) mà dùng đức (để cảm hóa dân) thì như sao Bắc Đẩu ở một mơi mà các ngôi
sao khác hướng về cà (tức thiên hạ theo về).
Trước sau Khổng Tử vẫn tin rằng: “dùng chính lệnh để dẫn dắt dân, dùng hình
phạt để bắt dân vào khuôn phép, dân tránh khỏi tội nhưng không biết hổ thẹn. Dùng
đạo đức để dẫn dắt dân, dùng lễ giáo để đặt dân vào khuôn phép, dân biết hổ thẹn mà
lại theo đường chính”
Trong quản trị nhân sự hiện nay tư tưởng “Đức trị” là một phần không thể thiếu
đặc biệt trong quản trị nhân sự cấp cao. Thị trường kinh tế hội nhập, tri thức là một
phần không thể thiếu cho sự thịnh tồn của mỗi doanh nghiệp. Khi đó bài toán giữ
người hiền tại phục vụ cho doanh nghiệp được đặt ra hàng đầu. Ngoài những lợi ích
kinh tế mà người lao động được hưởng thì quan hệ giữa ông chủ, nhân viên, giữa
người chủ công ty và người được thuê rất được chú trọng. Với mức lương xấp xỉ giữa
nước thì vua phải dùng công cụ pháp luật. “Phải dựa vào cái khiến cho những người
nhát có thể chinh phục được con hổ và cái làm cho vị vua tầm thường có thể gìn giữ
nước. Đó chính là pháp luật. Lo cái kế trung cho vị vua chúa, kế đức với thiên hạ thì
cái lợi không gì lâu dài hơn pháp luật”. Hệ thống phát luật phải thoả mãn 3 yếu tố cơ
bản:
- Pháp luật quan trên ban ra tất cả đều phải tuân theo và nó cần thay đổi cho phù
hợp với thời thế: thời thay mà pháp không đổi thì nước loạn. Đời đã thay đổi
mà cấm lệnh không biến thì nước sẽ bị chia cắt và chính sách cai trị phải dựa
vào ý dân, dân muốn thì gì thì cấp cho cái đó, không muốn cái gì thì trừ cho cái
đó.
- Pháp luật phải viết cho mọi người đều dễ hiểu và dễ thi hành: Cái gì mà kẻ sĩ
có óc tinh tế mới biết thì không nên ban làm lệnh vì dân không phải người nào
cũng có đầu óc tinh tế cả. Cái gì mà bậc hiền mới làm được thì không nên dùng
làm phép tắc vì không phải người dân nào cũng hiểu cả.
- Pháp luật phải được áp dụng một cách rộng rãi và công bằng cho mọi người:
Định pháp luật, đặt ra hình phạt nghiêm khắc để cứu loạn cho quần chúng, trừ
hoạ cho thiên hạ, khiến cho kẻ mạnh không lấn kẻ yếu, đám đông không hiếp
đáp số ít, người già được hưởng hết tuổi trời, bọn trẻ mồ côi được nuôi lớn,
biên giới không bị xâm phạm.
8
Tiểu luận triết học Nhóm 2 – CH20I
Ngày nay các công ty, các tập đoàn các tô chức muốn tồn tại và phát triển lâu
dài đều phải áp dụng một phần tư tưởng Pháp trị như xây dựng một hệ thống văn bản
quy chế, nguyên tắc, quy phạm hành động Chức năng của nó là:
- Răn đe, ngăn chặn những người có ý định xấu muốn gây thiệt hại cho công ty.
- Tạo ra một môi trường làm việc, phấn đấu thật an toàn cho mọi người, ai có
công được thưởng, ai làm sai bị phạt, công lớn thưởng lớn, công nhỏ thưởng
nhỏ.
Các công việc, thể hiện cụ thê hướng đến Pháp trị trong việc quản lý hiện nay
có thể kể ra bao gồm:
4. Chữ “ TÍN” trong hoạt động quản lý kinh doanh
Chữ Tín là một khái niệm quan trọng trong tư tưởng triết học của Khổng Tử và
là một bộ phận quan trọng trong tư tưởng quản lý đức trị. Chữ tín cuả Khổng Tử bao
gồm sự tín nhiệm của dân chúng và sự trung thực của người quản lý theo Khổng Tử
chữ tín còn đứng trên cả “thực túc”, “binh cường”.
Ngày nay chữ Tín được hiểu:
- "Tín" trong đời thường được hiểu là lòng tin mà mình tạo dựng được bởi một
chủ thể khác.
- "Tín" trong kinh doanh được hiểu là giữ đúng lời hứa, cam kết giữa các đối tác,
là đảm bảo chất lượng hàng hoá phục vụ người tiêu dùng.
- "Tín" trong đối nhân xử thể giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với tập thể
trong được hiểu là giữ đúng lời hứa, lòng tin giữa cá nhân với nhau.
"Một lần bất tín- vạn lần bất tin”, là một trong những bài học đầu tiên cho bất
cứ ai làm quản lý kinh tế nói riêng cũng như các doanh nghiệp nói chung, nó không
chỉ biểu hiện triết lý kinh doanh bền vững mà sâu xa hơn là nhân cách của người làm
nghề quản lý, kinh doanh.
Chữ Tín dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng vẫn giữ nguyên giá trị. Dù cho có
bị ràng buộc bởi luật pháp, thì chữ Tín vẫn phát huy được vai trò của nó. Trong quan
hệ với khách hàng, doanh nghiệp phải đảm bảo được chữ Tín, một lần bất tín vạn sự
bất tin, muốn làm ăn lâu dài thì phải đặt chữ Tín lên hàng đầu. Khiến cho người khác
tin mình đã là khó, làm sao giữ được lòng tin ấy lâu bền còn khó hơn nữa. Giữ chữ
Tín đó là bước đầu tiên thiết lập cơ hội tạo mối Lợi lâu dài. Bỏ qua chữ Tín lần này,
lần khác ta sẽ không được tin tưởng và mất cơ hội làm ăn. Xem nhẹ chữ Tín đối với
người tiêu dùng, người tiêu dùng sẽ nhìn ta bằng cặp mắt khác. Đối với đối tác làm ăn,
quyền lợi trước tiên phải đảm bảo cho cả hai bên qua những ràng buộc về pháp lý, rồi
tuân thủ theo hợp đồng, đó là giữ chữ Tín với nhau.
Giữ chữ Tín, tạo lòng tin là cách tốt nhất, nhanh nhất, bền vững nhất để quảng
bá thương hiệu của doanh nghiệp và phát triển mạng lưới kinh doanh. Không ít các
doanh nghiệp, để cạnh tranh, thu hút khách hàng bằng cách giảm giá thành sản phẩm.
Nhưng cách thực hiện nó lại không được minh bạch ví dụ: sử dụng những nguyên,
5. Ảnh hưởng tính “ Thiện” của Phật giáo trong hoạt động kinh doanh và
hoạt động xã hội của doanh nghiệp, doanh nhân.
Phật giáo là một trong những tôn giáo lớn nhất trên thế giới và có phát triển
mạnh mẽ đặc biệt ở các nước Nam Á, Đông Á và Đông Nam Á trong đó có Việt Nam.
Phật giáo là một tôn giáo ra đời vào cuối thế kỉ VI trước Công nguyên ở Ấn Độ, sau
đó phát triển thành một trong 3 tôn giáo lớn nhất trên thế giới (cùng với đạo Kitô và
đạo Hồi). Người sáng lập ra Phật giáo là Thích Ca Mâu Ni. Phật giáo xuất hiện với tư
cách một tôn giáo, đề cao nếp sống đạo đức trong sáng, coi nhẹ hình thức nghi lễ.
Theo giáo lý của Thích Ca Mâu Ni, thế giới tự nó tồn tại, không do ai tạo ra cả. Vạn
vật là vô thường, luôn luôn biến chuyển theo luật nhân quả, sinh ra và diệt đi, tuần
hoàn không ngừng. Bốn chân lý lớn: 1) Cuộc sống là bể khổ (sinh, lão, bệnh, tử). 2)
Nguyên nhân của khổ là lòng tham, sự tức giận, sự ngu si (vô minh). 3) Diệt khổ tức
là diệt những nguyên nhân ấy, chấm dứt vòng luân hồi, đến cõi Niết Bàn; 4) Con
đường giải thoát là tu tập theo Bát chính đạo. Phật giáo đặt vấn đề số phận con người
là do bản thân con người tạo ra và tự mình chịu trách nhiệm, không do thần thánh định
11
Tiểu luận triết học Nhóm 2 – CH20I
đoạt. Chủ trương bình đẳng (ai cũng có khổ và đều có thể được giải thoát), đề cao
lòng từ bi (yêu thương mọi loài, chống lại điều ác, làm mọi điều lành)
Đạo Phật đã đưa ra bốn chân lý kỳ diệu, với yếu tố biện chứng, kết cấu chặt chẽ
khi đưa ra lý thuyết “ngũ uẩn”, chỉ rõ căn nguyên của khổ đau là do thâm, sân , si
cùng với lý luận về thập nhị nhân duyên, đồng thời khẳng định con đường diệt khổ đó
là “trung đạo”… hướng con người đến nếp sống thiện lánh xa cái ác. Dạy con người
sống cảm thông, hỷ xả với nhau. Vị tha dạy con người sống vì người khác, bao dung
độ lượng đó là phương pháp giúp con người đạt được đức hạnh. Tư tưởng chủ chổt
giáo dục con người, giúp con người hướng thiện trong đạo Phật chính là Từ bi,đã có
khẳng định rằng “Từ bi là gốc rễ của đạo Phật”.
“Từ bi” là “từ” và “bi”, là hai đức tính (tinh thần) cơ bản trong bốn đức tính mà
Phật giáo gọi là “tứ vô lượng” hay còn gọi là “tứ vô lượng tâm”. Về đối tượng vô
lượng, bao quát mọi chúng sinh, không hạn chế một ai cả (vô lượng chúng sinh) và
những giá trị tốt đẹp cho xã hội cũng như cho chính các doanh nghiệp tham gia. Theo
một báo cáo vừa được công bố trong tuần này của Trung tâm Phát triển cộng đồng
LIN, các doanh nghiệp đang tổ chức ngày càng nhiều các hoạt động từ thiện tại Việt
Nam, và xu hướng này sẽ lớn dần lên trong tương lai gần.
Hàng trăm doanh nghiệp là thương hiệu mạnh, trong đó có 11/30 thương hiệu
được công nhận là thương hiệu quốc gia, cũng tích cực hưởng ứng và tham gia các
hoạt động hỗ trợ cộng đồng. Các hình thức hoạt động từ thiện của doanh nghiệp bao
gồm:
+ Trợ cấp và tài trợ
Đối phó với cơn bão nhiệt đới Ketsana đổ bộ vào Việt Nam cuối tháng 9/2009,
Công ty Sabeco đã quyên góp được 470 triệu đồng từ nhân viên và khách hàng để hỗ
trợ các nạn nhân cơn bão và gia đình tại các vùng Kontum, Quảng Ngãi, Quảng Bình,
Quảng Trị, Thừa Thiên Huế và Đà Nẵng.
Các doanh nghiệp tài trợ cho các sự kiện phi lợi nhuận như cuộc thi Cyclo
Challenge hàng năm của Saigon Children Charity, đấu giá nghệ thuật của tổ chức
Phẫu thuật Nụ cười, Đi bộ từ thiện hàng năm của tổ chức Lawrence S.Ting, tất cả ba
sự kiện đều gây quỹ cho những nhóm người thiệt thòi ở Việt Nam
+ Trợ cấp hiện vật
Nhằm giúp cho bà con nghèo tháo gỡ một phần khó khăn trong dịp Xuân Tân
Mão 2011, Bộ tư lệnh Quân khu 9 đã chỉ đạo và vận động Công ty 622 (Quân khu 9);
các công ty đứng chân trên địa bàn gồm: Công ty Địa Cầu, Công ty Nam Trường
Sơn ủng hộ 13 tấn gạo cho các gia đình chính sách, hộ nghèo ở tỉnh Cà Mau. Cụ thể,
ủng hộ các xã Tân Trung, Trần Phán, Thanh Tùng và xã Ngọc Chánh thuộc huyện
Đầm Dơi 8,5 tấn; xã Khánh Bình của huyện Trần Văn Thời 3 tấn; phường 9 thuộc
thành phố Cà Mau 1 tấn và xã Tân Lộc, huyện Thới Bình 500kg. Tổng số gạo ủng hộ
trị giá gần 200 triệu đồng.
Nhằm góp phần chia sẻ với những đau thương mất mát mà bà con miền Trung
đang gánh chịu, Công ty TNHH Saehwa Vina (TP.HCM) đã thông qua TNO, gửi tặng
10.000 sản phẩm quần áo mới đến với đồng bào vùng lũ lụt.
+ Các chương trình tình nguyện của nhân viên
khi biết những đóng góp của mình đã đem niềm vui đến cho nhiều người, giúp nhiều
gia đình vượt qua cơn khốn khó.
Tham gia các sự kiện cộng đồng, hoạt động từ thiện là cách thức khác để biểu
lộ sự cam kết của doanh nghiệp với xã hội. Hoạt động này không trực tiếp đánh giá
mức độ hoàn thành công việc của nhân viên, mà gửi thông điệp cho thấy doanh
nghiệp biết quan tâm tới hạnh phúc của những người khác và muốn là một công dân
tốt trong cộng đồng. Và khi làm như thế, các nhân viên có thể tự hào về công ty của
mình.
14
Tiểu luận triết học Nhóm 2 – CH20I
Tuy nhiên hiện nay cũng có nhiều doanh nghiệp làm từ thiện với động cơ PR.
Hoạt động từ thiện là một phần không thể thiếu trong kế hoạch marketing. Hằng năm,
các doanh nghiệp đều có chi phí riêng cho hoạt động từ thiện với nhiều hình thức. Họ
còn có bộ phận chuyên phụ trách lĩnh vực này, làm việc chuyên nghiệp. Làm từ thiện
gắn liền với xây dựng thương hiệu đã trở thành xu thế chung của các doanh nghiệp
Điều này rất dễ thấy vì đa số hoạt động từ thiện đều có điều kiện, trong đó điều
kiện truyền thông là quan trọng nhất. Mục tiêu truyền thông của “từ thiện” là cho cộng
đồng biết được doanh nghiệp đó “tốt bụng”, với chủ đích xây dựng một hình ảnh
“quý” của doanh nghiệp trong mắt người tiêu dùng. Đây là mục tiêu rất có lợi cho
doanh nghiệp, được về thương hiệu, được về thành tích và nhất là được về nhân cách
kinh doanh trong tâm trí cộng đồng tiêu dùng. Đáng buồn là hiện nay nhiều doanh
nghiệp đã sử dụng “từ thiện” để làm công cụ đánh lạc hướng dư luận, người tiêu dùng,
lấy thành tích với cơ quan chức năng, che lấp những khiếm khuyết về sản phẩm, về
động cơ kinh doanh, về lao động, môi trường sống, thậm chí về luật pháp. Có khi số
tiền họ bỏ ra làm từ thiện so với chi phí đáng lý phải bỏ ra để xử lý chất thải, giảm
khói bụi, giảm tiếng ồn, hoặc để cải thiện điều kiện làm việc, đóng bảo hiểm xã hội
cho nhân viên là rất nhỏ. Làm như thế, xét về mặt văn hóa, doanh nghiệp đã làm tổn
thương hai chữ “từ thiện” vốn dĩ rất tốt đẹp.
Những hoạt động từ thiện của các doanh nghiệp, doanh nhân, các tổ chức phần
lớn đều mang lại những ý nghĩa và giá trị tốt đẹp. Làm từ thiện chính là làm theo lời
giá trị cho sự phát triển bền vững cho doanh nghiệp.
Chúng em xin chân thành cám ơn sự góp ý, nhận xét tận tình của thầy giáo TS.
Lê Ngọc Thông đã giúp chúng em hoàn thiện nội dung của bài tiểu này.
16