1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ: 304 TÌM HIỂU MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH LÝ,
SINH THÁI CỦA CÁ SẶC RẰN
GIAI ĐOẠN PHÔI, CÁ BỘT, CÁ HƯƠNG
TÌM HIỂU MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH LÝ,
SINH THÁI CỦA CÁ SẶC RẰN
GIAI ĐOẠN PHÔI, CÁ BỘT, CÁ HƯƠNG
Cán bộ hướng dẫn Sinh viên thực hiện
Ts. Phạm Minh Thành Ngô Đinh Thị Phương Thảo
MSSV: 0753040087
Lớp: NTTS K2
Cần Thơ, 2011
3
XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG BẢO VỆ LUẬN VĂN
TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Luận văn: Tìm hiểu một số chỉ tiêu sinh lý, sinh thái của cá sặc rằn (Trichogaster
LỜI CẢM TẠ
Sau 4 tháng thực tập từ tháng 02 năm 2011 đến tháng 06 năm 2011, tại trại giống thực
nghiệm trường Đại học Tây Đô, áp dụng những kiến thức đã học kết hợp với kinh
nghiệm thực tế, nay luận văn đã được chỉnh sửa và hoàn thành.
Trước hết tôi xin chân thành cảm tạ Ban Giám Hiệu trường Đại học Tây Đô đã tạo mọi
điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường.
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến thầy Ts. Phạm Minh Thành
đã tận tình quan tâm, hướng dẫn chỉ bảo và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt
quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệp một cách trọn vẹn.
Tôi xin chân thành cảm ơn đến tất cả quý Thầy, Cô Khoa Sinh Học Ứng Dụng – Trường
Đại Học Tây Đô đã tận tình dạy bảo, truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong
suốt thời gian học tập tại trường, động viên tôi trong thời gian thực hiện đề tài.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn đến gia đình, bạn bè, và tập thể lớp thuỷ sản K2 đã giúp đỡ,
động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Cần thơ, ngày tháng năm 2011
Sinh viên thực hiện NGÔ ĐINH THỊ PHƯƠNG THẢO 5
1,15±0,05 mg/lít; 2,25±0,05 mg/lít.
Cường độ hô hấp của phôi, cá bột, cá hương có các giá trị tương ứng là 2,2±0,1
mgO
2
/g/giờ; 1,3±0,05 mgO
2
/g/giờ; 1,15±0,05 mgO
2
/g/giờ.
Ngưỡng pH trên của phôi, cá bột, cá hương có các giá trị tương ứng là 10±0,2;
10,5±0,06; 10,5±0,15.
Ngưỡng pH dưới của phôi, cá bột, cá hương có các giá trị tương ứng là 4,5±0,06; 4±0,06
và 3,5±0,1.
Ngưỡng độ mặn của phôi, cá bột, cá hương có các giá trị tương ứng là 9,83±0,3‰;
11,17±0,3‰; 12,33±0,3‰.
Từ khóa: sinh lý, sinh thái, ngưỡng nhiệt độ, ngưỡng pH, ngưỡng độ mặn, ngưỡng oxy, cường độ hô hấp,
nhiệt độ không sinh học.
6
CAM KẾT KẾT QUẢ
Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu của tôi và
các kết quả của nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ luận văn cùng cấp nào khác.
Cần Thơ, ngày tháng năm 2011
Ký tên
2.3 Khả năng thích ứng với môi trường 6
2.4 Đặc điểm sinh trưởng 6
2.5 Đặc điểm dinh dưỡng 7
2.6 Đặc điểm sinh sản 8
2.6.1 Thành thục sinh dục và đặc điểm phân biệt cá đực, cá cái 8
2.6.2 Sự sinh sản 9
2.7 Vai trò của một số yếu tố môi trường đối với đời sống thủy sinh vật 9
2.7.1 Vai trò của nhiệt độ 9
2.7.2 Vai trò của pH 11
2.7.3 Vai trò của oxy 12
2.7.4 Vai trò của độ mặn 13
2.8 Các giai đoạn phát triển của cá 13
CHƯƠNG 3 15
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 15
3.1.1 Thời gian 15
3.1.2 Địa điểm 15
3.2 Vật liệu nghiên cứu 15
3.2.1 Dụng cụ nghiên cứu 15
3.2.2 Đối tượng nghiên cứu 15
3.2.3 Thức ăn thí nghiệm 15
8
3.2.4 Nguồn nước cho thí nghiệm 16
3.3 Phương pháp tiến hành 16
3.3.1 Xác định nhiệt độ không sinh học 16
3.3.2 Xác định ngưỡng nhiệt độ 17
3.3.3 Xác định ngưỡng oxy 17
3.3.4 Xác định cường độ hô hấp 18
Phụ lục A 37
9
DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 4.1 Điều kiện môi trường thí nghiệm 24
Bảng 4.2 Thời gian phát triển phôi cá Sặc Rằn 25
Bảng 4.3 Nhiệt độ không sinh học của cá Sặc Rằn 25
Bảng 4.4 Điều kiện môi trường thí nghiệm 26
Bảng 4.5 Ngưỡng nhiệt độ của cá Sặc Rằn giai đoạn phôi, cá bột, cá hương 26
Bảng 4.6 Ngưỡng oxy của cá Sặc Rằn giai đoạn phôi, cá bột, cá hương 28
Bảng 4.7 Cường độ hô hấp của cá Sặc Rằn giai đoạn phôi, cá bột, cá hương 29
Bảng 4.8 Ngưỡng pH của cá Sặc Rằn giai đoạn phôi, cá bột, cá hương 30
Bảng 4.9 Ngưỡng độ mặn (‰) của cá Sặc Rằn giai đoạn phôi, cá bột, cá hương 32
10
DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 1. Cá Sặc Rằn Trichogaster pectoralis (Regan, 1910) 4
Hình 2. Sơ đồ bố trí thí nghiệm xác định ngưỡng pH dưới 21
Hình 3. Sơ đồ bố trí thí nghiệm xác định ngưỡng độ mặn 23 11
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
bã hữu cơ, phiêu sinh động thực vật sẵn có trong môi trường nước… Cá cũng có khả
năng chịu đựng tốt với các điều kiện bất lợi của môi trường: mức nước thấp, độ trong
thấp, nhiệt độ cao, pH thấp và đặc biệt là chịu đựng được nước có hàm lượng oxy thấp
nhờ có cơ quan hô hấp phụ.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây sản lượng cá tự nhiên nói chung và cá sặc rằn nói
riêng có sự giảm sút rõ rệt, cá có kích cỡ nhỏ cũng được khai thác triệt để. Đứng trước
tình hình đó, để có thể cung cấp đủ lượng cá giống đạt số lượng và chất lượng phục vụ
nhu cầu nuôi thì việc nghiên cứu hoàn thiện qui trình sản xuất giống nhân tạo loài cá này
là một yêu cầu cần thiết và có ý nghĩa to lớn. Trong suốt quá trình phát triển, sinh trưởng
và sinh sản, hầu hết các loài cá đều trải qua quá trình biến đổi phức tạp dưới tác dụng của
các yếu tố môi trường, trong đó nổi bật nhất là: nhiệt độ, oxy, pH và độ măn. Các yếu tố
này sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ vòng đời phát triển của cá, từ khi còn là trứng trong bụng
mẹ cho đến khi đẻ ra môi trường bên ngoài. Trứng sau khi được thụ tinh sẽ trải qua quá
13
trình phát triển và sinh trưởng để trở thành cá thể trưởng thành và tham gia vào sinh sản.
Quá trình phát triển phôi và giai đoạn cá bột, cá hương sẽ chịu ảnh hưởng của các yếu tố
môi trường nhiều nhất. Đây là giai đoạn biến đổi sinh lý, sinh thái phức tạp, từ một trứng
đã được thụ tinh qua quá trình biến đổi dưới tác dụng của môi trường để trở thành ấu thể.
Ấu thể có hay không hoàn chỉnh hoặc phát triển đến giai đoạn phôi nang thì dừng lại, đều
chịu sự chi phối bởi: nhiệt độ, oxy, pH và độ mặn.
Để góp phần vào sự phát triển của kỹ thuật sinh sản nhân tạo và ương nuôi một số loài cá
ngọt, những giá trị của cá Sặc Rằn mang lại cho con người mà đề tài: “Tìm hiểu một số
chỉ tiêu sinh lý, sinh thái của cá Sặc Rằn (Trichogaster pectoralis) giai đoạn phôi, cá
bột, cá hương” được thực hiện.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Thu thập một số dữ liệu về các chỉ tiêu sinh lý, sinh thái của giai đoạn phôi, cá bột, cá
hương của cá Sặc Rằn, để góp phần làm cơ sở cho các biện pháp phát triển kỹ thuật ương
nuôi loài cá Sặc Rằn đạt hiệu quả cao.
Tên tiếng Anh: Snake Skin Gouramy.
15
2.1.2 Hình thái
Hình 1. Cá Sặc Rằn Trichogaster pectoralis (Regan, 1910)
Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) sau khi phân tích 23 mẫu trong
tổng số 30 mẫu thu được ở nhiều nơi tại vùng đồng bằng sông Cửu Long đã mô tả như
sau: D. (VI-VIII),(10-11). A. (X-XI),(35-40). P. 3,(7-8). V. 3-4. Vảy đường bên: 49-55.
Hệ số Depth= 2,4 (2,25-3,1).
Cá có đầu nhỏ, dẹp bên, mõm ngắn, miệng hơi trên, nhỏ, rạch miệng rất ngắn, góc miệng
cách xa bờ trước của mắt. Cá không có râu, lỗ mũi trước mở ra bằng một ống ngắn. Mắt
lớn vừa nằm trên trục giữa thân, gần chót mõm hơn gần điểm cuối nắp mang. Phần trán
giữa hai mắt cong lồi. Cạnh dưới xương trước mắt và xương nắp mang trước có gai mịn.
Lỗ mang lớn vừa, màng mang hai bên dính nhau nhưng không dính với eo mang.
Thân cá dẹp bên. Vảy lược, phủ khắp thân và đầu, có một số vảy nhỏ chồng lên gốc vi
hậu môn, vi đuôi, vi lưng, vi ngực. Đường bên bắt đầu từ mép trên lỗ mang cong lên phía
trên một đoạn ngắn rồi uốn cong đến trục giữa thân sau đó chạy ngoằn ngoèo đến điểm
giữa gốc vi đuôi.
Khởi điểm vi lưng ngang với vảy đường bên thứ 17-19 và gần như cách đều chót mõm và
điểm giữa gốc vi đuôi. Dài chuẩn tương đương 3,8 dài gốc vi lưng. Ở con đực trưởng
thành ngọn vi lưng kéo dài khỏi gốc vi đuôi, còn con cái thì ngọn vi lưng kéo dài chưa
đến gốc vi đuôi. Gốc vi hậu môn kéo dài, khởi điểm vi hậu môn ngang với vảy đường
bên thứ 5 và phần cuối nối với vi đuôi. Gai vi lưng, vi hậu môn cứng, nhọn. Tia phân
nhánh đầu tiên của vi bụng kéo dài có thể chạm đến ngọn vi đuôi. Vi đuôi chẻ hai, rảnh
chẻ cạn và phân cuối của hai thùy vi đuôi tròn.
16
là vùng phân bố tập trung và có sản lượng cao hiện nay, loài cá này được nuôi phổ biến
trong ruộng lúa và ao hồ gia đình ở ĐBSCL. 17
2.3 Khả năng thích ứng với môi trường
Theo Nguyễn Văn Kiểm (2004), cá Sặc Rằn có khả năng chịu đựng được môi trường
nước bẩn, hàm lượng chất hữu cơ cao cũng như môi trường nước phèn có độ pH thấp
(pH = 4 – 4,5), nhiệt độ thích hợp cho cá phát triển và sinh trưởng là từ 25
o
C – 30
o
C,
nhiệt độ thích ứng của cá từ 11
o
C – 39
o
C.
Cá Sặc Rằn sống ở nước ngọt nhưng có thể sống được ở nước lợ. Chúng thích sống ở
những thủy vực có nhiều cây cỏ thủy sinh với nhiều chất hữu cơ là nguồn thức ăn tự
nhiên của cá. Chúng có cơ quan hô hấp khí trời, cơ quan này nằm ở mặt lưng của cung
mang thứ nhất và hình thành khi cá được 23 ngày tuổi, cá có thể lấy khí trời cho hoạt
động hô hấp của nó, vì vậy chúng có thể sống được ở điều kiện nước thiếu hoặc không có
oxygen. Dựa vào đặc điểm sinh học này của cá Sặc Rằn mà người ta có thể nuôi cá với
mật độ cao và vận chuyển chúng một cách dễ dàng (Dương Nhựt Long, 1999).
2.4 Đặc điểm sinh trưởng
Theo Lê Như Xuân và Phạm Minh Thành (1994), cá sặc rằn sau khi đẻ 20 giờ ở điều kiện
nhiệt độ 28-30
0
1400con/m
2
sau 30 ngày sẽ đạt trọng lượng 146,6-225,5mgr/con; và khi nuôi cỡ
0,2gr/con với mật độ 20-25con/m
2
, cho ăn phân heo tươi 3kg/100m
2
/ngày, cá đạt trọng
lượng 45-70gr/con sau 10 tháng, tương đương với năng suất 6,7 - 7,2 tấn/ha.
Ở ĐBSCL trong các ao nuôi cũng như trong các thủy vực tự nhiên sau 1 năm cá nặng 60-
80gr/con, 2 năm đạt trọng lượng 100-150gr/con. (Lê Như Xuân và Phạm Minh Thành,
1994).
Ở khu vực ĐBSCL, quan sát cá đực và cá cái cùng kích thước, thường cá đực có trọng
lượng nhỏ hơn cá cái, có thể là do trong quá trình sinh sản, cá đực phải giữ tổ và chăm
sóc cá con nên ăn ít, hoặc không ăn trong thời gian này.
2.5 Đặc điểm dinh dưỡng
Cũng như nhiều loài cá khác, ở thời kì đầu sau khi nở (khoảng 2,5 – 3 ngày), cá Sặc Rằn
dinh dưỡng bằng noãn hoàng, sau khi hết noãn hoàng cá chuyển sang ăn thức ăn bên
ngoài. Theo Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm (2009), noãn hoàng là nguồn vật
chất dinh dưỡng chính cung cấp năng lượng cho quá trình phát triển và được tiêu thụ chủ
yếu ở thời kì này. Thời gian cần thiết để hoàn thành thời kì này tùy thuộc vào lượng noãn
hoàng nhiều hay ít theo loài và tùy thuộc vào nhiệt độ nước. Những loài cá có khối lượng
noãn hoàng lớn so với khối lượng chung của phôi thì thời gian kéo dài (như tai tượng,
thát lát có khi tính bằng tuần), những loài có khối lượng noãn hoàng nhỏ thì thời gian
ngắn (như mè vinh, he vàng, bống tượng… có khi chỉ một hai ngày). Vào cuối thời kì
phôi tự do, noãn hoàng đã được sử dụng nhiều tới mức gần hết thì cá xuất hiện phase hỗn
dưỡng (phase chuyển tính ăn lần 1); cá vừa dinh dưỡng bằng năng lượng từ noãn hoàng,
lại vừa dinh dưỡng bằng năng lượng từ thức ăn được cá tiếp nhận trong môi trường nước.
Đặc trưng cho giai đoạn này là cá bột có kích thước nhỏ, chiều dài khoảng 4-5mm, cơ thể
yếu ớt, khả năng bắt mồi kém, phạm vi thức ăn hẹp, thiếu khả năng đối phó với điều kiện
chuyển sang giai đoạn IV, HSTT cũng tăng dần và đạt giá trị cao vào tháng 5, tháng 6 với
số liệu lần lượt là 11,22% và 12,97%. HSTT giảm dần ở các tháng cuối mùa mưa, đầu
mùa khô (tháng 10, 11, 12, 1 và 2). (Trương Thủ Khoa, Nguyễn Minh Trung, 1980 và Lê
Như Xuân, 1993).
Khi thành thục có thể phân biệt dễ dàng cá đực, cá cái bằng các biểu hiện bên ngoài của
dấu hiệu sinh dục phụ như:
Ở cá đực, phần tia mềm của vi lưng kéo dài tới hoặc vượt khỏi gốc vi đuôi, các sợi sọc
đen từ lưng xuống bụng rất rõ. Các sợi sọc đen chạy dọc thân không liên tục, chấm đen ở
xương nắp mang không rõ, bụng thon cứng.
20
Còn ở cá cái, phần tia mềm của vi lưng ngắn, không kéo dài tới gốc vi đuôi, các sợi sọc
từ lưng xuống bụng không rõ. Các sợi sọc đen chạy dọc thân gần như liên tục, chấm đen
ở xương nắp mang rõ, bụng mềm rộng. (Lê Như Xuân, 1993).
2.6.2 Sự sinh sản
Trong tự nhiên, khi mùa mưa tới, nhất là sau những trận mưa rào đầu mùa, cá sặc rằn bắt
cặp và tìm đến vùng nước cạn, vùng nước ven bờ (ruộng lúa, ao nuôi, kênh, rạch, rừng
tràm, nơi có nhiều cây cỏ thủy sinh) để đẻ. Hoạt động sinh sản với làm tổ bằng bọt của cá
đực, sau đó trứng được đẻ ra ngoài được thụ tinh và cũng chính cá đực dùng miệng gom
trứng lại và đặt vào tổ bọt. Mỗi tổ khoảng 7000 – 8000 trứng, nhưng chỉ nở được khoảng
4000 cá bột. Kể từ khi trứng thụ tinh, trong điều kiện nhiệt độ nước từ 27-29
o
C cá nở sau
20-23 giờ. Trong suốt thời gian kể từ khi trứng đẻ tới nở và dinh dưỡng bằng noãn hoàng,
cá đực thường xuyên bơi lội quanh tổ để bảo vệ và dùng vây quạt nước cung cấp oxy cho
trứng (Lê Như Xuân, 1997).
Cá Sặc Rằn phân bố tự nhiên trong những vùng ở Thái Lan, mùa đẻ cũng kéo dài từ
tháng 4 đến tháng 10. Tuy nhiên khi nuôi trong ao, có cho ăn, cá đẻ quanh năm và không
có mùa rõ rệt (Hora and Pilay, 1962, trích bởi Nguyễn Thị Ngọc Thúy, 1998). Theo
o
C là 16h.
Khi nhiệt độ thay đổi quá lớn, ngoài giới hạn nhiệt độ thích hợp, cá có một số biến dị
hình thái tương ứng. Khi nhiệt độ thấp thì số đốt sống đuôi tăng lên. Tác động của nhiệt
độ làm thay đổi số lượng đốt sống đuôi cá chỉ xảy ra ở giai đoạn phân tiết cơ thể cá (Mai
Đình Yên và csv., 1979).
Trong phạm vi nhiệt độ thích hợp, khi nhiệt độ tăng sẽ thúc đẩy quá trình trao đổi chất
của cơ thể qua đó ảnh hưởng đến sinh sản của cá (Dương Tuấn, 1981).
Theo Châu Thị Hoàng Điệp (2000) đối với cá Sặc Rằn nếu đem ấp trứng cá ở nhiệt độ
26
o
C - 26,5
o
C thời gian nở là 21h – 22h và nếu khi ấp trứng ở nhiệt độ 32
o
C – 33
o
C thời
gian nở 17h – 18h. Tuy nhiên, tỷ lệ dị hình thường cao hơn khi ấp trứng ở nhiệt độ 27
o
C
– 29
o
C.
Hầu hết các loài cá nuôi có xuất xứ phân bố ở ĐBSCL và những vùng phân bố có vĩ độ
thấp thì nhiệt độ thích hợp cho phôi phát triển từ 27-31
0
C.
Theo Nguyễn Văn Bé (1995), nhiệt độ thích hợp cho đa số các loài cá nuôi là từ 20-30
o
22
2.7.2 Vai trò của pH
pH là một trong những nhân tố môi trường có ảnh hưởng rất lớn trực tiếp và gián tiếp đến
đời sống thủy sinh vật như: sinh trưởng, tỉ lệ sống, sinh sản và dinh dưỡng. pH thích hợp
cho thủy sinh vật là 6,5-9. Khi pH môi trường quá cao hay quá thấp đều không thuận lợi
cho quá trình phát triển của thủy sinh vật. Tác động chủ yếu của pH khi quá cao hay quá
thấp là làm thay đổi độ thẩm thấu của màng tế bào dẫn đến làm rối loạn quá trình trao đổi
muối-nước giữa cơ thể với môi trường ngoài. Do đó, pH là nhân tố quyết định giới hạn
phân bố của các loài thủy sinh vật. (Trương Quốc Phú, 2006).
pH phụ thuộc vào tính chất đất, nguồn nước. Ngoài ra nó còn phụ thuộc gián tiếp qua quá
trình quang hợp và hô hấp của thủy sinh vật, quá trình phân hủy vật chất hữu cơ và cả
hoạt động của con người. Nếu nguồn nước tốt, quá trình cải tạo tốt thì pH tương đối ổn
định, không gây hại cho quá trình phát triển của thủy sinh vật nói chung và cá nói riêng.
Cũng theo Nguyễn Văn Bé (1995) nhận xét thì pH là một trong những yếu tố môi trường
ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của thủy sinh vật. pH của máu tất cả các động vật đều
gần bằng 7.
pH còn ảnh hưởng gián tiếp đến cá qua khâu thức ăn: trong các ao có pH thấp vi sinh vật
hoạt động rất yếu hay ngưng hoạt động làm cản trở quá trình chuyển hóa các chất hữu cơ
thành các muối vô cơ hòa tan – môi trường nghèo dinh dưỡng – hạn chế sự phát triển của
động thực vật phù du và động vật đáy – hạn chế thành phần thức ăn tự nhiên của cá –
năng suất cá nuôi sẽ giảm.
Theo Nguyễn Văn Kiểm (2004) thì hầu hết các loài cá đều không có khả năng phát triển
trong môi trường có pH quá cao (môi trường kiềm) hoặc quá thấp (môi trường acid), (pH
< 5 hoặc pH > 8). Nhưng điều quan trọng nhất là pH phải ổn định, bất kỳ một sự thay đổi
nào dù rất nhỏ về pH cũng làm cho trứng ngừng phát triển hoặc làm cho phôi bị dị tật, dị
hình. Do vậy nguồn nước cung cấp cho quá trình ấp phải có pH ổn định để hạn chế
những ảnh hưởng xấu đến quá trình phát triển phôi.
pH có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển phôi, quá trình dinh dưỡng, sinh trưởng và sinh
sản của cá. Cá sống trong môi trường có pH thấp sẽ chậm phát dục, nếu pH quá thấp sẽ
lượng oxy hòa tan trong nước thấp hơn 2ppm thì phôi sẽ chết ngạt, phôi phát triển bình
thường khi hàm lượng oxy từ 3mg/l trở lên. Nồng độ oxy hòa tan trong nước lý tưởng
cho tôm cá là trên 5mg/l. Nhu cầu oxy của trứng tăng dần theo quá trình phát triển nhưng
sẽ tăng đột ngột từ giai đoạn xuất hiện mầm đuôi, nhất là giai đoạn trước và sau khi nở.
Cũng theo Swingle (1969) thì nồng độ oxy hòa tan trong nước lý tưởng cho tôm, cá là
trên 5ppm. Tuy nhiên, nếu hàm lượng oxy hòa tan vượt quá mức độ bão hòa cá sẽ bị
bệnh bọt khí trong máu, làm tắc nghẽn các mạch máu dẫn đến não và tim đưa đến sự xuất
huyết ở các vây, hậu môn. (Trương Quốc Phú và csv, 2006).
Nắm vững điều kiện sinh thái cho phôi thai phát dục và tạo điều kiện thích hợp nhất cho
trứng nở là một khâu quan trọng nhất để nâng cao tỷ lệ nở của trứng.
24
Lượng tiêu thụ oxy của cá mè trắng ở mỗi giai đoạn trong quá trình phát dục cá thể có
khác nhau rất rõ rệt. Do đặc trưng cường độ dinh dưỡng cao, tốc độ tăng trưởng nhanh
mà cá con có đòi hỏi cao về hàm lượng oxy hòa tan. Giai đoạn còn nhỏ, cá con có
ngưỡng oxy cao, cao nhất đó là giai đoạn phôi tự do và cá bột. Vì vậy, cá rất dễ bị chết
khi môi trường thiếu oxy. Lượng oxy tiêu thụ nhiều nhất là trước và sau khi nở, đặc biệt
là trong giai đoạn cá bột, sau đó giảm dần.
2.7.4 Vai trò của độ mặn
Nồng độ muối là một nhân tố môi trường quan trọng có ảnh hưởng đến quá trình nở của
trứng. Trong thiên nhiên, nhu cầu về muối của cơ thể động vật thủy sinh và quan hệ về
nồng độ muối giữa cơ thể và môi trường ngoài được thể hiện rõ rệt nhất ở giới hạn phân
bố theo nồng độ muối (Nguyễn Văn Thường, 1999). Mỗi loài có một khoảng nồng độ
muối thích hợp. Ngoài khoảng này, động vật phải sử dụng năng lượng của các quá trình
sinh trưởng, phát triển,… để phục vụ cho việc điều hòa áp suất thẩm thấu của cơ thể.
Tương tự, mỗi loài có nồng độ muối thích hợp cho quá trình phát triển phôi. Nếu nằm
ngoài khoảng này, phôi sẽ không điều hòa được áp suất thẩm thấu dẫn đến ấu trùng bị dị
hình hoặc không nở được. Nếu trong môi trường có nồng độ muối quá cao, lượng ion đi
vào tế bào sẽ quá khả năng điều hòa của cơ thể, làm cho nồng độ muối trong tế bào tăng