1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ: 304
ĐỀ TÀI
TÌM HIỂU MỘT SỐ CHỈ TIÊU
SINH LÝ, SINH THÁI CÁ CHÉP
GIAI ĐOẠN PHÔI, CÁ BỘT VÀ CÁ HƯƠNG
Sinh viên thực hiện
NGUYỄN BÍCH NGỌC ĐAN THANH
MSSV: 0753040082
LỚP: NUÔI TRỒNG THỦY SẢN K2
Cần Thơ, 2011
LỜI CẢM TẠ
Trong khoảng thời gian 3 tháng thực hiện đề tài vừa qua, tuy gặp nhiều khó khăn
nhưng với sự giúp đỡ và động viên từ nhiều phía đã giúp tôi hoàn thành tốt đề tài.
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu trường Đại học Tây Đô đã tạo
điều kiện để tôi được học tập, trao dồi kiến thức và kỹ năng chuyên môn trong thời
gian vừa qua.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến giáo viên hướng dẫn Ts. Phạm
Minh Thành, giảng viên Khoa Thủy Sản trường Đại Học Cần Thơ, đã tận tình quan
tâm, hướng dẫn chỉ bảo, cho tôi những lời khuyên quý báu trong suốt thời gian học tập
cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài tốt
nghiệp và hoàn thành luận văn.
Xin chân thành cảm ơn đến tất cả quý Thầy, Cô Khoa Sinh Học Ứng Dụng – Trường
Đại Học Tây Đô đã dạy bảo và truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt
thời gian học tập tại trường và động viên tôi trong thời gian thực hiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn đến Cô Trần Ngọc Huyền, cán bộ phòng Thí Nghiệm Khoa
Sinh Học Ứng Dụng trường Đại Học Tây Đô đã hỗ trợ các dụng cụ hóa chất và kỹ
thuật chuyên môn giúp tôi hoàn thành được đề tài.
Cảm ơn các bạn tập thể lớp Nuôi Trồng Thủy Sản khóa 2 đã cùng tôi gắn bó, đoàn
kết, san sẻ vượt qua khó khăn trong suốt chặng đường dài học tập.
Cuối cùng là lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, những người thân và bạn bè đã giúp
đỡ, động viên về tinh thần và hỗ trợ vật chất tạo điều kiện cho tôi thực hiện được đề
tài để hoàn thành chương trình học này.
Xin chân thành cảm ơn tất cả mọi người đã giúp đỡ và chia sẻ với tôi để có được
thành công hôm nay!
Ngưỡng nhiệt độ dưới của phôi tự do, cá bột và cá hương có các giá trị trung bình
tương ứng là 5
o
C, 4,67
o
C và 4,5
o
C.
•
Ngưỡng oxy của phôi tự do, cá bột và cá hương có các giá trị trung bình tương ứng
là 1,64 mg/L, 0,94 mg/L và 0,79 mg/L.
•
Cường độ hô hấp của phôi tự do, cá bột và cá hương có các giá trị trung bình tương
ứng là 0,68 mgO
2
/g/giờ, 0,54 mgO
2
/g.giờ và 0,45 mgO
2
/g/giờ.
•
Ngưỡng pH trên của phôi tự do, cá bột và cá hương có các giá trị trung bình tương
ứng là 9,41, 9,64 và 10,04.
•
Ngưỡng pH dưới của phôi tự do, cá bột và cá hương có các giá trị trung bình tương
ứng là 4,97, 4,68 và 4,07.
•
Ngưỡng độ mặn của phôi tự do, cá bột và cá hương có các giá trị trung bình tương
ứng là 11,17‰, 12,33‰ và 13,17‰.
Từ khóa: Cyprinus carpio L.,cá chép, sinh lý, sinh thái, nhiệt độ, oxy, pH, độ mặn, cường độ hô hấp
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Nội dung nghiên cứu 2
CHƯƠNG II (LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU) 3
2.1 Đặc điểm sinh học của cá chép 3
2.1.1 Đặc điểm phân bố 3
2.1.2 Vị trí phân loại 3
2.1.3 Đặc điểm hình thái 4
2.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng 5
2.1.5 Đặc điểm sinh trưởng 6
2.1.6 Đặc điểm sinh sản 7
2.2 Khả năng thích ứng môi trường của cá chép 8
2.2.1 Nhiệt độ 9
2.2.2 Oxy 10
2.2.3 pH 11
2.2.4 Độ mặn 11
CHƯƠNG III (VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU) 13
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 13
3.2 Vật liệu nghiên cứu 13
3.2.1 Dụng cụ nghiên cứu 13
3.2.2 Đối tượng nghiên cứu 13
3.2.3 Thức ăn thí nghiệm 13
3.2.4 Nguồn nước cho thí nghiệm 14
3.3 Phương pháp xác định một số chỉ tiêu sinh học cá 14
3.3.1 Xác định nhiệt độ không sinh học 14
3.3.2 Xác định ngưỡng nhiệt độ 15
3.3.3 Xác định ngưỡng oxy 15
3.3.4 Xác định cường độ hô hấp 16
3.3.5 Xác định ngưỡng pH 17
3.3.6 Xác định ngưỡng độ mặn 19
3.4 Phương pháp tính toán, xử lý số liệu và đánh giá kết quả 21
8
DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Mối quan hệ giữa chiều dài cơ thể và ngày tuổi của cá chép 7
Bảng 2.2: Mối quan hệ giữa số lượng trứng cá đẻ và khối lượng trứng 8
Bảng 4.1: Điều kiện môi trường thí nghiệm độ không sinh học 22
Bảng 4.2: Thời gian phát triển phôi của cá chép 23
Bảng 4.3: Nhiệt độ không sinh học của cá chép 23
Bảng 4.4: Điều kiện môi trường thí nghiệm ngưỡng nhiệt độ 23
Bảng 4.5: Kết quả xác định ngưỡng nhiệt độ của cá chép 24
Bảng 4.6: Điều kiện môi trường thí nghiệm ngưỡng oxy 25
Bảng 4.7: Kết quả xác định ngưỡng oxy của cá chép 26
Bảng 4.8: Điều kiện môi trường thí nghiệm cường độ hô hấp 27
Bảng 4.9: Kết quả xác định cường độ hô hấp 27
Bảng 4.10: Điều kiện môi trường thí nghiệm ngưỡng pH 28
Bảng 4.11: Kết quả xác định ngưỡng pH của cá chép 28
Bảng 4.12: Điều kiện môi trường thí nghiệm ngưỡng độ mặn 30
Bảng 4.13: Kết quả xác định ngưỡng độ mặn của cá chép 31
9
DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 2.1: Hình thái cá chép Cyprinus carpio L ở Đồng Bằng Sông Cửu Long 4
Hình 2.2: Ảnh hưởng của hàm lượng oxy hòa tan lên sức khỏe cá 10
sử dụng được nhiều loại thức ăn, có giá trị thương phẩm và được nuôi ghép trong các
mô hình nuôi thủy sản kết hợp ở ĐBSCL. Theo điều tra gần đây, cá Chép là loài nuôi
chiếm ưu thế có 30,1% số lượng cá trong những ao nuôi ghép (Austin et al., 2007). Vì
vậy, việc ương nuôi từ giai đoạn cá bột, tạo ra nguồn giống đảm bảo chất lượng và số
lượng là điều cần thiết hiện nay. Trong quá trình sản xuất giống và ương nuôi, đặc biệt
từ giai đoạn trứng lên cá bột là giai đoạn biến đổi phức tạp về sinh lý sinh thái, phụ
thuộc chủ yếu vào các yếu tố môi trường: nhiệt độ, oxy, pH…, chúng quyết định đến
tỷ lệ sống, tỷ lệ nở, tỷ lệ dị hình của cá bột. Tuy nhiên cho đến nay chưa có nhiều
nghiên cứu về khả năng thích ứng của cá chép với điều kiện môi trường.
Xuất phát từ những vấn đề trên nên đề tài “Tìm hiểu một số chỉ tiêu sinh lý sinh thái
cá chép (Cyprinus carpio L.) giai đoạn phôi, cá bột và cá hương” được thực hiện.
11
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Thu thập một số dẫn liệu về chỉ tiêu sinh thái sinh lý cá chép giai đoạn phôi cá bột và
cá hương; góp phần làm cơ sở khoa học cho sự phát triển kỹ thuật sản xuất giống và
ương nuôi cá chép đang được áp dụng hiện nay ở ĐBSCL đạt hiệu quả cao hơn.
1.3 Nội dung nghiên cứu
•
Xác định nhiệt độ không sinh học của cá chép.
•
Xác định các ngưỡng sinh lý sinh thái: nhiệt độ, oxy, pH, độ mặn và cường độ hô
hấp cá chép giai đoạn phôi, cá bột và cá hương.
12
CHƯƠNG II
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
Loài: Cyprinus carpio Linnaeus, 1758
13
2.1.3 Đặc điểm hình thái
Một số đặc điểm hình thái chung của cá chép được nuôi ở Đồng Bằng Sông Cửu Long
được thể hiện qua hình 2.1
Hình 2.1: Hình thái cá chép Cyprinus carpio L ở Đồng Bằng Sông Cửu Long.
Theo Trần Đình Trọng (1983), cá chép Việt Nam có tên khoa học là Cyprinus carpio
L. có sự phân bố rộng và có nhiều biến dị rất phong phú về hình thái lẫn màu sắc. Tùy
theo khu vực địa lý phân bố mà các loại hình cá chép có một số đặc điểm hình thái
khác biệt nhau. Tuy nhiên, chúng có vài đặc điểm chung như sau:
Số tia vây lưng D.III – IV.18 – 21
Số tia vây hậu môn A. II. 4 – 5
Số tia vây ngực P.I. 13 – 16
Số tia vây bụng V.I. 6 – 9
Số tia vây đuôi C. 21 – 23
Vẩy đường bên 36 – 39
Số lược mang trên cung mang thứ nhất 22 – 28
Công thức răng hầu 1.1.3 – 3.1.1
Số đốt sống toàn thân trung bình 38
Cá chép có thân dẹp bên, đầu cá thuôn, cân đối. Cá có 2 đôi râu. Miệng khá rộng,
hướng ra phía trước. Cá có màu thẫm trên lưng, bụng trắng, cạnh các vây có màu đỏ
(Mai Đình Yên, 1978).
Tùy theo khu vực địa lý phân bố mà cá chép sẽ có một số đặc điểm hình thái khác
nhau. Tuy nhiên, sự khác nhau giữa các cá thể vẫn nằm trong giới hạn đặc tính hình
thái của loài.
Những nghiên cứu đầu tiên của Trần Đình Trọng 1983 thì cá chép Việt Nam có 6
dạng hình: cá chép đỏ, cá chép trắng, cá chép kính, cá chép cẩm, cá chép gù, cá chép
vật, thay đổi tùy theo giai đoạn phát triển (Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm,
2009). Khi hết noãn hoàng cá ăn động vật phù du, giai đoạn cá hương cá ăn động vật
đáy, giai đoạn trưởng thành cá ăn tạp thiên về động vật.
Cá có phổ thức ăn rất rộng, khi phân tích thành phần thức ăn trong ruột cá chép cho
thấy mùn bã hữu cơ chiếm tới 70%, kế đến là nhuyễn thể và thấp nhất là động vật giáp
xác (Nguyễn Văn Kiểm, 2004).
Tính ăn cá chép có sự thay đổi theo từng giai đoạn phát triển và sự hoàn thiện dần của
hệ thống men tiêu hóa trong cơ thể.
Từ 1 đến 3 ngày tuổi cá dinh dưỡng bằng noãn hoàng.
Từ 3 đến 4 ngày tuổi cá bắt ăn thức ăn bên ngoài, thức ăn chủ yếu của cá là động vật
phù du cỡ siêu nhỏ: luân trùng (Rotifera), giáp xác râu ngành (Cladocera) Ngoài ra,
ở giai đoạn này cá có thể ăn thêm được các loại thức ăn khác như: bột đậu nành, bột
cá, lòng đỏ trứng nghiền mịn
15
Từ 4 đến 6 ngày sau khi nở thì thức ăn của cá chủ yếu là các sinh vật phù du.
Từ 8 đến 10 ngày sau khi nở do cá phân bố nhiều ở tầng đáy nên thức ăn của cá là các
sinh vật lắng ở đáy, sinh vật phù du, ấu trùng côn trùng
Sau khi nở 15 đến 20 ngày cá ăn được động vật đáy cỡ nhỏ do cấu tạo cơ thể cá và cơ
quan tiêu hóa bắt đầu hoàn chỉnh.
Đến giai đoạn cá bột (20 – 28 ngày tuổi) cá phát triển hầu như hoàn chỉnh và thức ăn ở
giai đoạn này là sinh vật đáy, mùn bã hữu cơ và một số động vật phù du như: ấu trùng
muỗi, moina Sau 25 ngày tuổi chuyển sang ăn động vật đáy đặc biệt là giun sống
đáy và trùn chỉ là thức ăn không thể thiếu trong giai đoạn này (Phạm Văn Trang và
Trần Văn Vĩ, 1983). Do cá có tính ăn tạp và chủ yếu sống đáy nên từ giai đoạn cá
giống đến cá trưởng thành, cá ăn nhiều loại thức ăn chủ yếu là các sinh vật đáy như:
nhuyễn thể, giun, ấu trùng côn trùng, mùn bã hữu cơ, mầm non thực vật và thức ăn
chế biến (Nguyễn Văn Kiểm, 1999). Ngoài ra, cá cũng có thể ăn được nhiều loại thức
ăn do người cung cấp như: bột ngũ cốc các loại, bột cá, bột tôm, rau, bèo, phân động
15 – 20 14,3 – 19,0
20 – 28 19,0 – 28,0
Khối lượng của cá chép trong ao nuôi thay đổi theo tuổi như sau:
•
Cá 1 năm tuổi: 0,3 – 0,5 kg
•
Cá 2 năm tuổi: 0,7 – 1,0 kg
•
Cá 3 năm tuổi: 1,0 – 1,5 kg
Đồng Bằng Sông Cửu Long cá chép nuôi ở ruộng lúa vào mùa mưa sau 5 – 7 tháng có
thể đạt trọng lượng 0,5 – 0,8 kg/con, có con nặng hơn 1 kg.
2.1.6 Đặc điểm sinh sản
Tuổi thành thục và khả năng sinh sản của cá là một đặc tính dễ bị ảnh hưởng bởi tác
động của môi trường như nhiệt độ, thức ăn, chu kỳ quang Đó là một quá trình sinh
lý phức tạp của cơ thể có mối quan hệ mật thiết với yếu tố môi trường nước, đặc biệt
là nhiệt độ. Tuổi thành thục của cá chép có sự khác nhau khi chúng sống ở những
vùng có nhiệt độ khác nhau. Ví dụ: ở vùng nhiệt đới cá chép có thể tham gia sinh sản
lần đầu khi được 1 năm tuổi, ở vùng lạnh cá chép phải đến 2 – 3 năm mới thành thục
và thường đẻ ít lần trong năm hơn so với cá chép vùng nhiệt đới (Nguyễn Văn Kiểm,
2004). Một ví dụ khác: cá chép sống ở Châu Âu phải mất 3 – 4 năm tuổi mới thành
thục, khi đưa về vùng nhiệt đới ở Việt Nam hay Indonesia thì khoảng 1 – 1,5 tuổi đã
thành thục (Dương Tuấn, 1981). Nhiệt độ thích hợp cho cá chép sinh sản dao động từ
24 – 30
o
C (Nguyễn Văn Kiểm, 1999), và hàm lượng oxy hòa tan là 4 – 6 mg/L.
Ngoài yếu tố nhiệt độ ảnh hưởng sự thành thục cá chép thì yếu tố chất lượng thức ăn
cũng không kém phần quan trọng. Nếu trong quá trình nuôi vỗ, thành phần và chất
lượng thức ăn không cân đối, không phù hợp với từng giai đoạn phát triển sinh dục,
không phù hợp với tính ăn của loài sẽ ảnh hưởng đến quá trình thành thục (Nguyễn
Văn Kiểm, 2004).
1,0 120.000 – 140.000
1,5 180.000 – 210.000
2,0 250.000 – 300.000
2.5 320.000 – 400.000
2.2 Khả năng thích ứng môi trường của cá chép
Khả năng thích nghi của cá với điều kiện môi trường là một trong những vấn đề quan
trọng nhất, làm cơ sở quyết định việc lựa chọn đối tượng di giống thuần hóa và thả
nuôi (Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm, 2009).
18
Cá chép là loài có phân bố ở tầng đáy các thủy vực nước ngọt nên cá có thể sống được
trong điều kiện khắc nghiệt, nơi có nhiều mùn bã hữu cơ, thức ăn đáy và cỏ nước.
2.2.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ là nhân tố môi trường ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến các hoạt động sống như:
sinh trưởng, dinh dưỡng, sinh sản và di cư của thủy sinh vật, đặc biệt đối với cá vì cá
là động vật biến nhiệt (Trương Quốc Phú, 2006). Theo Niconski (1951) nhiệt độ cá
chỉ chênh lệch với nhiệt độ môi trường khoảng 0,5 – 1
o
C (trích bởi Trương Quốc Phú,
2006).
Đối với cá khi nhiệt độ môi trường gia tăng cá sẽ tăng cường trao đổi chất, cường độ
hô hấp, tuyến sinh dục chín nhanh, phôi phát triển nhanh và gây nhiều dị hình. Sự thay
đổi nhiệt độ đột ngột quá cao hoặc quá thấp có thể làm cá chết. Nhiệt độ thấp nhất làm
chết cá gọi là ngưỡng nhiệt độ dưới, nhiệt độ cao nhất làm chết cá gọi là ngưỡng nhiệt
độ trên. Mỗi loài cá có ngưỡng nhiệt độ khác nhau và trong cùng một loài ngưỡng
nhiệt độ của những giai đoạn phát triển khác nhau cũng không giống nhau. Phạm vi
nhiệt độ thích ứng thay đổi tùy theo loài động vật, tuổi và thời gian sinh trưởng. Cá
con có phạm vi nhiệt độ thích ứng cao hơn cá trưởng thành. Thông thường nhiệt độ
thích hợp cho đa số các loài cá nuôi từ 20 – 30
Cá chép thuộc nhóm rộng nhiệt, có thể chịu đựng được nhiệt độ từ 0 – 40
o
C. Cá sống
được ở lớp nước bên dưới lớp nước đóng băng vào mùa đông ở Châu Âu và nhiệt độ
cao vào mùa hè ở vùng nhiệt đới.
19
Tuy nhiên nhiệt độ thích hợp cho cá chép từ 24 – 28
o
C.
Môi trường có nhiệt độ dưới 12
o
C cá chép chậm lớn, ăn ít và dưới 5
o
C cá ngừng bắt
mồi.
2.2.2 Oxy
Oxy là chất khí quan trọng nhất trong số các chất khí hòa tan trong môi trường nước.
Nó rất cần đối với đời sống sinh vật, đặc biệt đối với thủy sinh vật, vì hệ số khuếch tán
của oxy trong nước nhỏ hơn rất nhiều so với trong không khí. Theo Krogh (1919)
(trích dẫn bởi Boyd, 1990) thì hệ số khuếch tán của oxy trong không khí là 11 còn
trong nước chỉ là 34.10
-6
.
Theo Swingle (1969) thì nồng độ oxy hòa tan trong nước lý tưởng cho tôm, cá là trên
5 ppm. Tuy nhiên, nếu hàm lượng oxy hòa tan vượt quá mức độ bão hòa cá sẽ bị bệnh
bọt khí trong máu, làm tắt nghẽn các mạch máu dẫn đến não và tim đưa đến sự xuất
huyết ở các vây, hậu môn. Do đó việc theo dõi biến động hàm lượng oxy trong ao
nuôi tôm, cá là rất cần thiết (Trương Quốc Phú, 2006).
chết khi môi trường thiếu oxy (Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm, 2009).
Cá chép có khả năng chịu đựng hàm lượng oxy khá thấp nên sống được ở ao nước
tĩnh có hàm lượng oxy thấp, hay sông nơi có nước chảy thường xuyên.
2.2.3 pH
pH là một trong những nhân tố môi trường có ảnh hưởng rất lớn trực tiếp và gián tiếp
đối với đời sống thủy sinh vật như: sinh trưởng, tỷ lệ sống, sinh sản và dinh dưỡng.
pH thích hợp cho thủy sinh vật là 6,5 – 9 được thể hiện qua hình 2.3.
pH
Hình 2.3: Ảnh hưởng của pH đến đời sống của cá (Trương Quốc Phú, 2006).
Khi pH môi trường quá cao hay quá thấp đều không thuận lợi cho quá trình phát triển
của thủy sinh vật. Tác động chủ yếu của pH khi quá cao hay quá thấp là làm thay đổi
độ thẩm thấu của màng tế bào dẫn đến làm rối loạn quá trình trao đổi muối – nước
giữa cơ thể và môi trường ngoài. Do đó, pH là nhân tố quyết định giới hạn phân bố
của các loài thủy sinh vật.
pH có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của phôi, quá trình dinh dưỡng, sinh trưởng
và sinh sản của cá. Cá sống trong môi trường có pH thấp sẽ chậm phát dục, nếu pH
quá thấp sẽ không đẻ hay đẻ rất ít (Trương Quốc Phú, 2006).
Độ pH thích hợp cho cá chép sinh trưởng và phát triển trong khoảng 7 – 8, nhưng cá
cũng có thể sống được trong điều kiện pH từ 6 – 8,5 (Phạm Minh Thành, 2005).
2.2.4 Độ mặn
Độ mặn được định nghĩa là tổng các chất rắn hòa tan (TDS) trong nước. Độ mặn là
yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sự phân bố, sinh sản, dinh dưỡng, tỷ lệ
sống và di cư của thủy sinh vật (Trương Quốc Phú, 2006).
Mỗi loài thủy sinh vật nói chung, chỉ sống ở nơi có nồng độ muối thích hợp. Thông
qua các hoạt động sống của cơ thể, nồng độ muối dịch cơ thể luôn luôn có quan hệ
Không sinh sản
11 10 9 6 8 7 5 4
Chết Sinh trưởng chậm Sinh trưởng tốt Chết Sinh trưởng chậm
Không sinh sản
1A, Quận Cái Răng, Thành Phố Cần Thơ và Phòng Thí Nghiệm Khoa Sinh Học Ứng
Dụng, Trường Đại Học Tây Đô.
3.2 Vật liệu nghiên cứu
3.2.1 Dụng cụ thí nghiệm
•
Máy đo pH, oxy, khúc xạ kế, đĩa secchi, nhiệt kế, heater
•
Cân điện tử, giấy ôli
•
Ống đong 50 mL
•
Chai lọ nút mài 125 mL
•
Bình kín
•
Khay ấp trứng
•
Thau, ca, bocal 1L, 2L, 3L
•
Cốc 0,5L
•
Xô nhựa 50L
•
Cốc thủy tinh
•
Bình tam giác
•
Các hóa chất và một số dụng cụ phân tích trong phòng thí nghiệm
•
Hệ thống máy bơm và sục khí
Bố trí thí nghiệm
Lấy 100 trứng mới đẻ đã cho thụ tinh cho vào cốc thủy tinh 0,5L đặt trong thau nước
1L, có sục khí nhẹ. Theo dõi thời gian phát triển phôi trong trứng tại 2 điều kiện nhiệt
độ môi trường khác nhau. Cụ thể là ở T
1
nhiệt độ phòng, có giá trị trung bình trong thí
nghiệm là 26
o
C và ở T
2
nhiệt độ nhân tạo (khác T
1
) được điều chỉnh bằng heater hoặc
bằng nước nóng, để tránh gây sốc nhiệt cho trứng nhiệt độ T
2
được điều chỉnh tại thau
đựng cốc chứa trứng, T
2
có giá trị trung bình trong thí nghiệm là 33
o
C. Tăng hoặc
giảm nhiệt độ T
2
tuân thủ nguyên tắc trong 1 giờ nhiệt độ không thay đổi quá 2
o
C.
Thí nghiệm được bố trí song song tại 2 giá trị nhiệt độ T
1
và T
2
i
: Nhiệt độ môi trường thí nghiệm
T
o
: Nhiệt độ không sinh học (hằng số)
Tại T
1
và T
2
sẽ có thời gian tương ứng D
1
và D
2
T
o
được tính bằng công thức đã được Reidisch xác định 1902 (trích dẫn bởi
I.F.Pravdin, 1973).
D
1
T
1
– D
2
T
2
T
o
= (3.2)
10 con cá vào bình 250 mL (đối với phôi tự do và cá 10 ngày tuổi), bình 0,5L (đối với
25
cá 30 ngày tuổi). Sau khi thả cá vào bình, 2 vòi được cột chặt (không cho thông khí
với bên ngoài).
Tính toán kết quả
Xác định hàm lượng oxy trong bình khi có 50% cá chết. Hàm lượng oxy được xác
định theo phương pháp Winkler (hoặc máy đo oxy). Thí nghiệm được lặp lại 3 lần.
Tại thời điểm có 50% cá chết tiến hành thu mẫu nước vào lọ nút mài nâu 125 mL
(không để bọt khí xuất hiện trong lọ), cố định mẫu bằng 1 mL MnSO
4
và 1 mL dung
dịch KI – NaOH, đậy nắp lọ, lắc đều. Sau đó, phân tích mẫu theo phương pháp
Winkler tại phòng Thí Nghiệm Khoa Sinh Học Ứng Dụng – trường Đại Học Tây Đô.
V
tb
x N
DO (mg/L) = x 8 x 1000 (3.3)
V
M
Trong đó:
V
tb
: là thể tích trung bình dung dịch Na
2
S
2
O
2đ
– O
2c
) x (V
b
– V
c
)
CĐHH (mg O
2
/g.giờ) = (3.4)
W x t