Cảm nghĩ về bài thơ “Độc tiểu thanh ký” – bài
mẫu 1
1. Sinh thời, Nguyễn Du là một người cực cô độc, cô đơn. Không phải vô cớ trong Truyện Kiều Nguyễn
Du từng thốt lên qua lời nhân vật mà ông đặc biệt yêu thương quý trọng và kính trọng là Thúy Kiều
rằng: Vui là vui gượng kẻo là – Ai tri âm đó mặn mà với ai? Rồi trong giai thoại trước khi mất, ông khẩu
chiếm bằng hai câu thơ kết của bài thơ mà tôi sẽ bàn dưới đây; lại một giai thoại khác: ông ốm nặng,
không chịu uống thuốc, khi đã giá đến đầu gối, người nhà hỏi ông có trăng trối gì không, ông chỉ nói:
“Được” rồi mất… Giai thoại chỉ là giai thoại, nhưng nó vẫn có hạt nhân hiện thực của nó. Mỗi thiên tài là
một đỉnh Êvơret. Vả lại, cái thời điểm tam bách dư niên hậu như nhà thơ ao ước chưa đến, mà tôi thì
không thể sống được đến lúc ấy. Thiết nghĩ trong cõi đời, việc hiểu người như hiểu mình là cực khó, chỉ
có trong muôn một, hiểu được thiên tài còn khó gấp bội. Phải chăng câu chuyện tri âm dường như chỉ tồn
tại trong điển cố? Nó là một khao khát cháy bỏng của con người hơn là một hiện thực? Còn nhớ khi
thuyết tương đối rộng được công bố, một học giả gặp Anhxtanh nói rằng:
- Thưa ngài, ngài thật là một người hạnh phúc, bởi có một người đã hiểu được thuyết tương đối của ngài.
Tác giả của thuyết tương đối lịch sự trả lời như sau:
- Thật cảm ơn ngài! Nhưng thưa ngài! Tôi còn đang băn khoăn không biết người đó là ai?
Đó chính là lí do mà tôi không dám nhận mình tri âm với bậc đại thi hào số một của dân tộc, danh nhân
văn hóa thế giới Nguyễn Du. Bài viết này chỉ mong được giãi bày những suy tư của cá nhân về một trong
những bài thơ vào loại hay nhất, viết về thể tài thương tiếc những người có tài năng, nhân cách, những
giai nhân tuyệt sắc trong thơ Nguyễn Du mà thôi.
2. Nguyên văn chữ Hán:
讀小青記
西湖花苑盡成墟
獨吊窗前一紙書
脂粉有神憐死後
文章無命累焚餘
古今恨事天難問
風韻奇冤我自居
不知三百餘年後
天下何人泣素如
3. Phiên âm Hán – Việt của Độc Tiểu Thanh kí:
Thanh và ai điếu người đàn bà sắc tài yểu mệnh có tên trong nhan đề bài thơ). Sự thật Tiểu Thanh chỉ làm
thơ mà không hề viết kí; kí (thực ra là truyện) do người đời sau ghi chép lại về hành trạng cuộc đời nàng,
mà có lẽ khi đi sứ Nguyễn Du đã đọc trước khi đi sứ hay đã đọc khi đi sứ hay đi sứ về nước rồi mới đọc?
… Chúng tôi đề nghị nên chăng dịch là: Đọc kí (ghi chép) về Tiểu Thanh? Tuy không giữ nguyên cấu
trúc ngữ pháp của nguyên tác, nhưng lại thể hiện chính xác sự thật về nàng Tiểu Thanh mà thư tịch cổ của
nước người ta ghi lại và chuyển đúng thần thái của điều Tố Như muốn nói. Cách dịch nhan đề hiện nay
của bài thơ rõ ràng chỉ dịch được phần xác chữ mà bỏ mất phần hồn của nó. Cũng tương tự như cách dịch
nhan đề Nam Xương nữ tử trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ. Đến nay tất cả mọi người đều công
nhận cách dịch Người con gái Nam Xương. Tất cả các nhà xuất bản trong nước từ trước tới giờ, khi in và
phát hành tác phẩm của Nguyễn Dữ đều nhất trí… trăm phần trăm (!). Nó đúng là sự chuyển ngữ chứ
chưa phải là chuyển mã văn hóa. Nữ tử là người con gái, trớ trêu, oái oăm thay, nhân vật Vũ Thị Thiết là
gái đã có chồng (Trương Sinh) và có con (bé Đản). Trong tiếng Việt, chỉ những người còn thanh tân, chưa
hề lấy chồng mới được gọi là con gái. Vì vậy đề nghị nên dịch là Người thiếu phụ Nam Xương cho đúng.
6. Hai câu mở đầu bài thơ đã cho thấy người viếng và người chết đều cô độc, cô đơn. Ý tứ đọng lại trong
hai chữ độc điếu (獨吊) mà các bản dịch nghĩa của các dịch giả đều dịch là một mình (Trước song một
mình viếng một tập giấy(1),Một mình ngồi trước cửa sổ viết một tờ thư viếng (2), Chỉ viếng nàng qua
một tập sách đọc trước cửa sổ (3)… (Chữ độcở tên bài thơ có nghĩa là đọc, còn chữ độc này lại có nghĩa
là một mình, cô đơn, cô độc, một chữ có tần số xuất hiện khá nhiều trong Đường thi). Nếu dịch độc là
một mình e không ổn, vì một mình chưa chắc đã cô đơn, cô độc. Thật là cách mở đề kiểu khai môn kiến
sơn. Bài thơ đã mở ra mênh mang tâm trạng.
7. Hai câu luận:
(4) Cổ kim hận sự thiên nan vấn
Phong vận kì oan ngã tự cư
Đây có lẽ là một trong những câu thơ ám ảnh nhất trong những câu thơ Nguyễn Du. Không ngẫu nhiên
chút nào khi các bản dịch Độc Tiểu Thanh kí của các dịch giả khác nhau, tuy có nét tiểu dị nhưng đều gặp
gỡ trên đại đồng.
Cụ Bùi Kỉ dịch như sau:
Sự oán hận xưa nay khó mà hỏi trời được
Oan lạ của người phong vận kia tự mình ta buộc lấy mình.
Cụ Đào Duy Anh dịch là:
Đông, chỉ vì tiên ưu hậu lạc mà bị cái án oan thảm khốc tru di tam tộc, khiến người anh hùng phải di hận
kỉ thiên niên. Trong thơ chữ Hán của mình, Nguyễn Du còn thổn thức nỗi niềm đau khổ của Tỉ Can, Nhạc
Phi, Dương Quí Phi, của cô Cầm (Long thành cầm giả ca), của mấy mẹ con người đàn bà trong Sở
kiến hành… Hai lần trong Truyện Kiều và trong Văn tế thập loại chúng sinh Nguyễn Du đã cất lên Tiếng
kêu đứt ruột mới:
Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.
Rồi:
Đau đớn thay phận đàn bà
Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?
Hỡi ôi! Thân ấy biết là mấy thân (Tố Hữu). Có điều mấy thân cũng chỉ có kiếp đàn bà. Còn trong Độc
Tiểu Thanh kí làcổ kim hận sự, là phong vận kì oan của mọi kiếp người. Cổ nhân có câu:
Mĩ nhân tự cổ như danh tướng
Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu.
Tạm dịch:
Người đẹp xưa nay như danh tướng
Trời xanh chẳng để sống bạc đầu.
Mệnh đề tài mệnh tương đố không chỉ có ý nghĩa tiên nghiệm, tiền định, ở thời Nguyễn Du, mệnh đề này
có một nội dung xã hội khá cụ thể. Đây là thời đại xuất hiện hàng loạt tài năng lớn về nhiều phương diện.
Ông vua chuyên chế phong kiến phương Đông luôn cảnh giác trước tài năng, nhất là cái tài kinh bang tế
thế. Người có tài có thể làm lu mờ đấng tối cao, thậm chí có thể cướp ngôi. Chế độ xã hội ấy chỉ chấp
nhận người cúc cung tận tụy, thậm chí cuồng tín, ngu tín trước ông vua. Không phải ngẫu nhiên mà trong
các phim cổ trang nước Tàu, lúc nào kẻ bề tôi cũng luôn luôn lặp lại cái câu cửa miệng “Hoàng thượng
sáng suốt (!)”, kể cả khi hoàng thương rơi vào tình thế bi hài nhất, kể cả khi hoàng thượng ngu tối ban
cho kẻ tôi trung chén thuốc độc hay giải lụa (Cảm ơn hoàng thượng ban chết (!). Thật là cười ra nước
mắt. Cái tài nhiều khi bị đem ra mua vui cho thiên hạ, bị sỉ nhục, bị lăng mạ. Vì vậy, người xưa mới đề
cao tấm lòng biệt nhỡn liên tài Chắc chắn Nguyễn Du không thể không biết đến số phận bi thảm của
Huy Quận công Hoàng Đình Bảo, Cống Chỉnh, Ngô Thì Nhậm, Đặng Trần Thường, Lê Văn Duyệt, cha
con Nguyễn Văn Thành… rồi gia cảnh nhà ông khi kiêu binh nổi loạn ở kinh thành Thăng Long, ông
cũng từng chứng kiến cảnh những người tài sắc bị kẻ có tiền và có quyền khinh bỉ, tài sắc bị biến thành
Câu hỏi ấy Thiên hà ngôn tai (!). Còn nhớ Hêghen, nhà triết học Đức thế kỉ XIX có nhận xét rằng: trong
văn học hiện tượng định mệnh là hiện tượng bi kịch của người tốt. Với Nguyễn Du, những bậc kì tài tuyệt
sắc luôn luôn phải chịu cái gọi là cổ kim hận sự, phong vận kì oan mà ông không tìm thấy lời giải đáp
hữu hiệu trong triết lí thiên mệnh của Nho giáo, duyên nghiệp quả báo của Phật giáo, tướng số của Đạo
giáo triết lí ở hiền gặp lành trong dân gian… Dường như, nhà thơ của chúng ta đã linh cảm được giải tần
mờ của cuộc đời đầy bí ẩn. Lịch sử có những sự trùng hợp lạ kì. Năm 1965, khi cả thế giới long trọng kỉ
niệm 200 năm ngày sinh đại thi hào danh nhân văn hoá thế giới Nguyễn Du, cũng chính là năm nhà toán
học người Mĩ Lôtfi Zadeh công bố lí thuyết lôgic mờ trong một bài báo có tên Các tập mờ.Điều kì lạ hơn
nữa là mãi đến đầu thế kỉ XX Fran Kapka (1833 – 1924), một nhà văn gốc Do Thái nói tiếng Đức sống ở
Tiệp Khắc cũ dưới ách đô hộ Áo – Hung, được Phương Tây suy tôn là một trong ba ông tổ của văn học
hiện đại chủ nghĩa, mới phát hiện ra điều mà Nguyễn Du đã nói trước đó hơn một trăm năm. Trong các
tác phẩm của mình F. Kapka đã thể hiện:
Cảm giác về sự không có tự do của con người, về sự lệ thuộc của con người vào những thế lực bất hợp lí
nào đó ở ngoài con người và chi phối bắt con người phục tùng (5).
Trong Vụ án, nhà văn này viết câu chuyện về một viên chức ngân hàng, mang cái tên Jô zep K. bỗng
dưng bị một toà án vô hình kết tội. K. không biết mình có tội gì. Toà án cũng không biết…Cuối cùng K.
bị dẫn đi hành quyết đúng vào sinh nhật lần thứ ba mươi của mình. Đao phủ chọc dao vào ngực K.và
ngoáy một cái. Kap ka kết thúc thiên truyện của mình băng một kết luận hết sức bi đát: K. chết như một
con chó.
Thân phận K. là thân phận con người bị kết án bởi một toà án vô hình, tựa như tội tổ tông trong Thánh
kinh đạo Gia tô, tựa như tội mà đạo Phật quan niệm trong câu Đức Thích Ca Mâu Ni trả lời con quạ: Con
khổ vì con có cái thân của con, và dường như có cả sự khúc xạ những ám ảnh của Kapka về thân phận
con người trong xã hội tư sản hiện đại, khi bóng đen của chủ nghĩa phát xít đang đến gần, trước thảm hoạ
do mặt trái của nền văn minh công nghiệp, hậu công nghiệp gây ra.
Sự hội ngộ Nguyễn Du – Kapka phải chăng là sự gặp gỡ Đông – Tây? Điều này còn chứng tỏ chủ nghĩa
duy lí phương Tây không phải bao giờ cũng hữu hiệu hơn cảm quan trực giác huyền diệu phương Đông
khi khám phá hiện thực đời sống, khi thâm nhập vào những miền thẳm sâu của tâm hồn, tâm linh con
người. Sự hội ngộ này khiến những bộ óc sùng ngoại nhất cũng phải bừng tỉnh. Không hiểu vì sao viết
đến đây tôi bỗng cảm thấy câu thơ: Phương Đông là phương Đông- Phương Tây là phương Tây của một
thi sĩ Anh quốc (Kiplinh) thật vô nghĩa.
lịch sử phải năm trăm năm mới xuất hiện một lần, khi thánh nhân ra đời có điềm lành chỉ báo, đó là
phượng hoàng kì lân hiện ra. Nguyễn Du rất chân thực, trung thực với mình và với tha nhân. Ông tự nhận
mình không phải là thánh nhân, cũng không phải thường nhân, ông tự thấy mình thuộc lớp tài tử tri âm
với giai nhân Tiểu Thanh. Phải chăng tài tử giai nhân khoảng ba trăm năm lẻ là chu kì để họ hội ngộ, tái
xuất? Thời điểm ấy chưa tới, hãy chờ đợi. Lúc ấy, người ta giải mã Nguyễn Du chắc gì giống với chúng
ta ngày nay?