Vì sao truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao lại được coi là kiệt tác? - Pdf 11

Vì sao truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao lại
được coi là kiệt tác?
1. Kết cấu không đơn thuần là hình thức mà còn mang chức năng tạo nghĩa
Về phương diện cốt truyện, truyện ngắn truyền thống thường có kết cấu cốt truyện theo trình tự tuyến
tính, sự kiện xảy ra trước kể trước, sự kiện xảy ra sau kể sau. Trong truyện ngắn Chí Phèo Nam Cao sử
dụng kiểu cốt truyện gấp khúc; trật tự chuyện kể bị đảo ngược, sự việc xảy ra trước được kể sau, sự việc
xảy ra sau nhảy cóc lên trước, quan hệ nhân – quả không còn được duy trì. Truyện được mở đầu bằng một
trạng huống ở thì hiện tại, khi nhân vật trung tâm – Chí Phèo đã bị tha hóa và trở thành con quỹ dữ của
làng Vũ Đại. Việc đảo lộn trật tự sự kiện, đưa hình tượng Chí Phèo ở đỉnh điểm của sự tha hóa lên đầu
truyện đã tạo ra hiệu ứng thẩm mỹ nhất định. Thứ nhất, nhà văn muốn thể hiện ý đồ nhấn mạnh, khắc sâu
bi kịch đời sống hiện tại của nhân vật Chí Phèo, hướng nhãn lực người đọc tập trung vào khám phá cuộc
đời chí Phèo – nơi quy tụ tư tưởng nghệ thuật của nhà văn trong truyện ngắn này. Thứ hai, nhà văn đã
ngầm ý đặt ra cho người đọc một câu hỏi cần được giải đáp: vì sao Chí Phèo lại trở nên hư đốn như vậy?
Thứ ba, hiện tại hết sức bi kịch của Chí Phèo được đặt trong quan hệ đối trọng với quá khứ hiền lương
của nhân vật này sẽ giúp tác giả lên án sự tàn nhẫn của chế độ xã hội. Thứ tư, việc đảo lộn trật tự sự kiện
trong cốt truyện có tác dụng hiện tại hóa những chuyện được kể.
Về kết cấu nhân vật, Nam Cao mở đầu cuộc đời Chí Phèo bằng hình ảnh đứa trẻ bị bỏ rơi bên cái lò gạch
cũ, và khi Chí Phèo chết, cái xuất xứ đau thương của Chí Phèo lại một lần nữa hiển hiện qua chi tiết Thị
Nở nhìn xuống bụng của mình và nghĩ đến hình ảnh cái lò gạh cũ bỏ không. Chí Phèo chết thì một Chí
Phèo con lại sắp sửa ra đời. Nam cao đã nhìn thấy bi kịch của người nông dân nhưng ông vẫn chưa nhìn
thấy hướng mở để giải phóng người nông dân ra khỏi bi kịch đó. Nếu so sánh truyện Chí Phèo của Nam
Cao với Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài) vàVợ nhặt (Kim Lân) chúng ta sẽ thấy rõ hơn sự bế tắc của người
nông dân trong sáng tác của Nam Cao. Nếu Tô Hoài và Kim Lân bước đầu đã hé lộ đường thoát cho
người nông dân bằng cách đi theo cách mạng, thì ở Chí Phèo người nông dân vẫn còn trong vùng luẩn
quẩn. Đó chính là hạn chế của thời đại được Nam cao phản ánh trong tác phẩm của mình.
Về kết cấu thời gian nghệ thuật, trong tác phẩm Chí Phèo, giữa thời gian trần thuật và thời gian
được trần thuật có một độ chênh khá lớn. Thời gian được trần thuật là cả cuộc đời của Chí Phèo, còn thời
gian trần thuật tính từ khi “Hắn vừa đi vừa chửi…” cho đến kết thúc truyện chỉ vẻn vẹn sáu ngày. Nếu
thời gian trần thuật được Nam Cao bắt đầu từ chỗ “Hắn vừa đi vừa chửi” cho đến câu kết thúc truyện, thì
thời gian được trần thuật lại có thể được người đọc chúng ta kể lại bắt đầu từ xuất xứ của Chí Phèocho
đến lúc nhân vật này giết chết Bá Kiến và tự kết liễu đời mình. Nhịp độ thời gian trần thuật trong tác

Về cách kết thúc truyện, Nam cao đã không đi theo lỗi mòn xưa cũ, không chọn một cái kết có hậu,
nhưng vì thế mà truyện ngắn này lại có giá trị hiện thực sâu sắc và chân thực hơn, khách quan hơn. Trong
truyện ngắn Chí Phèocó ba nhân vật chính. Bên cạnh Chí Phèo là nhân vật trung tâm còn có hai nhân vật
có quan hệ trực tiếp với Chí Phèo là bá Kiến và Thị Nở. Chí Phèo kết thúc cuộc đời khốn khổ khốn nạn
bằng chính lưỡi dao của mình. Bá Kiến nổi danh với bản chất tham lam và tàn nhẫn với đầy mưu ma
chước quỷ cuối cùng cũng bị tiêu giệt bởi Chí Phèo – sản phẩm do chính Bá Kiến trực tiếp tạo ra; còn Thị
Nở – người đàn bà có ngoại hình xấu xí nhưng tiềm ẩn khát vọng hạnh phúc cũng có kết cục bất hạnh.
Đọc lại một số truyện ngắn khác của Nam Cao cũng không thấy có một nhân vật nào được hạnh phúc tròn
vẹn cả. Truyện của ông không một kết thúc có hậu, không một mảnh đời yên lành, không một cuộc tình
êm ả, không có gì tròn trịa, nguyên vẹn. Chỉ có cái chết và sự tàn lụi mà thôi. Nam Cao từng quan niệm:
“cuộc đời là một tấm áo cũ bị xé rách tả tơi”, kết cục bi kịch của ba nhân vật này là một minh chứng rõ
ràng cho quan niệm đó.
2. Hành trình số phận nhân vật Chí Phèo và chiều sâu hiện thực, nhân đạo của tác phẩm.
2.1. Từ xuất xứ, lai lịch bị mờ hóa
Đã có một thời người ta bàn luận rất nhiều về vấn đề xuất xứ, lai lịch của nhân vật Chí Phèo. Người cho
rằng Bá Kiến là cha, còn vợ Binh Chức là mẹ của Chí Phèo; cũng có người bảo không phải thế. Chúng tôi
xin có vài suy nghĩ thêm về gốc gác của nhân vật này.
Trong truyện, khi Chí Phèo uống rượu rồi đến gây lộn với Lí Kiến, con trai của cụ Bá, Bá kiến đã bảo với
Chí rằng: “Nào đứng lên đi. Cứ vào đây uống nước đã. Có cái gì, ta nói chuyện tử tế với nhau. Cần gì mà
phải thanh động lên như thế, người ngoài biết, mang tiếng cả”. Tiếp sau đó Bá Kiến lại bảo: “… Chỉ tại
thằng Lí Cường nóng tính, không nghĩ trước nghĩ sau. Ai chứ anh với nó còn có họ kia đấy”. Theo lời của
Bá Kiến một số người đã cho rằng Bá Kiến chính là cha của Chí Phèo. Nếu vậy thì Bá Kiến quả là người
vô cùng độc ác, tàn nhẫn. Chỉ vì sợ tai tiếng mà nỡ tâm vứt bỏ cả con đẻ của mình ngay từ khi nó vừa lọt
lòng. Thực ra, Bá Kiến là tay đầy mưu ma chước quỷ, những lời ngọt ngào đường mật của hắn chỉ là để
xoa dịu cơn nóng giận của Chí Phèo thôi. Những lời nói của hắn chưa đủ cơ sở để kết luận hắn là cha đẻ
của Chí Phèo. Nếu không phải Bá Kiến thì ai là cha của Chí Phèo? Truyện được Nam Cao viết trên cơ sở
người thật việc thật ở làng Đại Hoàng (trong truyện, tác giả gọi là làng Vũ Đại). Vậy cha mẹ Chí Phèo có
thể là một cặp vợ chồng nông dân nào đó? Nếu trường hợp này cũng không phải, thì phải chăng cha mẹ
của Chí là một đôi nam nữ nào đó? Theo văn bản truyện ngắn Chí Phèo thì cả ba giả thiết trên đều không
có cơ sở. Thiết nghĩ, cho dù cha mẹ của Chí Phèo là ai đi nữa (điều này không quyết định giá trị tác

tha hóa, lưu manh hóa con người, biến con người trở thành thú vật. Nghĩa là đi ngược lại với quy luật
phát triển của xã hội. Thật đúng là xã hội “chó đểu” như lời Vũ Trọng Phụng từng nói.
Bát cháo hành thấm đượm tình người của Thị Nở đã đưa Chí từ thú dữ trở về với cõi người lương thiện.
Từ chỗ suốt ngày này qua ngày khác chìm trong rượu, và chửi bới, phá phách, không ý thức nổi mình bao
nhiêu tuổi, khi gặp Thị mọi chuyện đã khác. Chí biết cảm nhận cuộc sống sôi động bên ngoài, biết hồi
tưởng quá khứ và biết hy vọng tương lai, biết cô đơn và sợ cô đơn, biết hối hận và mong làm hòa với mọi
người. Qua đây Nam Cao muốn khẳng định với người đọc rằng: bản chất của con người là lương thiện,
chỉ tại xã hội làm hỏng con người mà thôi. Dù có bị đè nén thế nào đi nữa, nơi đáy sâu tâm hồn con người
vẫn lấp lánh ánh sáng của lương tri. Đó là sự biểu hiện cho giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm. Nhưng
không dừng lại ở đó, Nam Cao còn muốn gửi tới người đọc một thông điệp rằng: con người hãy đến với
nhau bằng tình thương yêu. Xã hội đã bất công, ngang trái và lạnh lùng với con người, thì con người phải
sưởi ấm cho nhau bằng tình yêu thương ấm áp, như thế cuộc sống này mới trở nên tốt đẹp và ý nghĩa.
Quả không sai khi Đôtxtôiépxki nói: “Cái đẹp cứu vớt nhân thế”!
Sau cuộc gặp gỡ với Thị Nở, con người thật trong Chí đã trở về. Đây là lúc mà Chí khao khát được làm
người lương thiện hơn bao giờ hết. Nhưng ai cho anh ta lương thiện khi mà trên khuôn mặt đầy những vết
sẹo, khi mà hình ảnh con quỹ dữ Chí Phèo đã ăn sâu vào tiềm thức của mọi người dân ở làng Vũ Đại.
Ngay cả người phụ nữ xấu đến ma chê quỷ hờn như Thị mà vẫn khước từ Chí, vậy thì Chí làm sao về lại
với cuộc đời lương thiện được nữa. Đây chính là đỉnh điểm của bi kịch, khi Chí đã bị cự tuyệt quyền làm
người.
2.3. Cuối cùng là cái chết – giải pháp cho cuộc đời khốn khổ của Chí Phèo.
Khi bị Thị Nở cự tuyệt, Chí Phèo không có ý định đi đến nhà Bá kiến và cũng không có ý định giết chết
Bá kiến. Nhưng không hiểu sao trên đường đi Chí lại không vào nhà Thị Nở để giết chết “con khọm già”
– bà cô của Thị Nở như ý định ban đầu, mà lại đi thẳng đến nhà Bá Kiến, rồi giết Bá Kiến và tự vẫn.
Hành động ấy một mặt đã cho thấy sự bế tắc không lối thoát của người nông dân thời bấy giờ; mặt khác
thể hiện niềm khát vọng kín đáo của nhà văn Nam Cao: người nông dân không thể chịu đè nén mãi nữa,
họ phải đứng dậy đấu tranh quyết liệt, chống lại bọn cường hào ác bá để giành quyền sống cho mình.
Thêm nữa, Nam Cao còn cho thấy rằng trong sâu thẳm tâm hồn người nông dân không chỉ có bản chất
lương thiện, mà còn tiềm tàng cả một nguồn năng lượng tranh đấu mãnh liệt. Tiếc rằng, năng lượng ấy
chưa được thể hiện một cách rõ ràng và chưa do sự điều khiển của ý thức, nên người nông dân vẫn bị trói
chặt trong vòng lao khổ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status