Gia nhập WTO và vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia - Pdf 11

LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay toàn cầu hóa kinh tế đang trở thành một xu thế khách quan của sự
phát triển kinh tế thế giới. Quá trình toàn cầu hóa kinh tế đã mở ra những cơ hội và
tạo điều kiện cho các quốc gia, dân tộc trên thế giới tận dụng những lợi thế so sánh
của mình cho tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội. Đồng thời, quá trình toàn cầu
hóa kinh tế cũng đặt mỗi quốc gia, dân tộc trước sức ép cạnh tranh và những thách
thức gay gắt, nhất là các nước đang phát triển. Các quốc gia, dân tộc nào chiếm vị trí
có lợi trong cạnh tranh thị trường thì quốc gia, dân tộc đó sẽ chiếm được quyền chủ
động trong tiến trình toàn cầu hóa kinh tế.
Nước ta chính thức gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào ngày
1/1/2007, nền kinh tế nước ta trở thành một bộ phận và chịu ảnh hưởng trực tiếp của
những động thái nền kinh tế toàn cầu. Việt Nam đang đứng trước những bước phát
triển mới đòi hỏi phải nâng cao năng lực cạnh tranh. Nền kinh tế có năng lực cạnh
tranh quốc gia cao sẽ đạt được tốc độ tăng trưởng cao, tạo thêm việc làm và thu nhập,
trình độ khoa học công nghệ được nâng cao, đời sống người dân được cải thiện.
Ngược lại, chậm hay không nâng cao được năng lực cạnh tranh quốc gia sẽ dẫn đến ít
thu hút được đầu tư trong nước và nước ngoài, các doanh nghiệp mất thị phần trên thị
trường trong nước và thế giới, có thể dẫn đến giải thể, phá sản, lao động mất việc
làm, gây khó khăn về kinh tế - xã hội.
Vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nước ta hiện đang là vấn
đề lý luận và thực tiễn nóng bỏng, sôi động được giới học thuật, các nhà hoạch định
chính sách, nhà quản lý doanh nghiệp và chính phủ quan tâm nghiên cứu.Vì vậy, tôi
lựa chọn đề tài "Gia nhập WTO và vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh quốc
gia". Mục đích nghiên cứu tập trung vào hệ thống hóa để làm rõ thực tiễn về nâng
cao năng lực canh tranh của Việt Nam trong điều kiện gia nhập vào WTO.
Kết cấu chuyên đề thực tập gồm 2 phần:
Chương 1: Thực trạng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nước ta
Chương 2: Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia
1
NỘI DUNG
Chương 1: Thực trạng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nước ta

Bên cạnh việc ban hành Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư, rất nhiều các cải
cách pháp lý và các quy định liên quan đã được sửa đổi nhằm cải thiện môi trường
kinh doanh của Việt Nam:
- Luật Sở hữu trí tuệ nhằm bảo hộ quyền của chủ thể đối với nhãn hiệu hàng
hóa, quyền tác giả, bằng sáng chế độc quyền…
- Các biện pháp nhằm nâng cao năng lực của tòa án.
- Các quy định mới nhằm tăng quyền của doanh nghiệp trong mối quan hệ với
chính quyền trung ương và địa phương.
- Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật nhằm hoàn thiện hơn, minh bạch
hơn các hoạt động lập pháp.
- Quy định về ngân hàng, tự do hóa ngân hàng, dịch vụ pháp lý, dịch vụ tư vấn.
- Luật Cạnh tranh nhằm điều chỉnh các hành vi cạnh tranh không lành mạnh,
tình trạng độc quyền. Luật Phá sản tạo căn cứ cho việc phá sản và tái cơ cấu doanh
nghiệp.
- Luật Thương mại mới và Bộ luật Dân sự mới bổ sung những điều kiện đầy
đủ hơn về hợp đồng.
Môi trường đầu tư của Việt Nam được cải thiện rõ rệt thông qua cải thiện
hàng loạt những lĩnh vực liên quan trước sức ép trực tiếp và gián tiếp của việc gia
nhập WTO.
Một trong những kết quả quan trọng của hệ thống pháp luật hiện nay là khung
pháp luật đã bao quát hầu hết các vấn đề cơ bản cho sự hình thành cơ chế quản lý
kinh tế mới cho nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, chế độ sở hữu, địa vị pháp lý
của các doanh nghiệp, thương nhân, quyền tự do kinh doanh, quyền tự do hợp đồng,
các cơ chế khuyến khích và đảm bảo đầu tư, khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn
lực của xã hội, hình thành môi trường cạnh tranh… Các quan hệ dân sự và kinh tế
đang dần được điều chỉnh bằng các nguyên tắc của luật pháp và tập quán thương mại
quốc tế thay cho các biện pháp hành chính đơn thuần.
3
Pháp luật về kinh tế ngày càng phân định rõ chức năng quản lý Nhà nước của
các cơ quan quản lý Nhà nước và hoạt động kinhh doanh của các doanh nghiệp,

một bên tranh chấp còn tiếp tục ở một số nơi. Cơ quan xét xử, hòa giải, trọng tài còn
có những quyết định thiếu khách quan, tỷ lệ quyết định oan sai còn lớn.
Nạn quan liêu, tham nhũng tuy đã được đấu tranh từ một số năm, song vẫn
còn khá phổ biến và nghiêm trọng, nhất là những khâu liên quan đến lợi ích của
doanh nghiệp. Chi phí kinh doanh về tiền bạc và thời gian ở Việt Nam còn cao hơn
một số nước khác trong khu vực.
1.2. Vai trò của Chính phủ
Trên cơ sở các nghị quyết của Đảng, Nhà nước đã từng bước đổi mới chức
năng quản lý Nhà nước về kinh tế theo hướng phù hợp hơn với cơ chế thị trường. Nội
dung đổi mới chủ yếu của quản lý Nhà nước về kinh tế là: tách bạch chức năng quản
lý Nhà nước về kinh tế của các cơ quan Nhà nước, chức năng chủ sở hữu doanh
nghiệp Nhà nước của Nhà nước và chức năng kinh doanh của doanh nghiệp; chuyển
từ quản lý cụ thể các hoạt động của nền kinh tế sang quản lý tổng thể nền kinh tế
quốc dân; chuyển từ can thiệp nền kinh tế trực tiếp sang can thiệp gián tiếp thông qua
hệ thống pháp luật, kế hoạch, cơ chế chính sách và các công cụ điều tiết vĩ mô.
Nhà nước không trực tiếp tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh
như trước đây mà tham gia vào hoạt động này thông qua chính sách đầu tư của mình
vào một số lĩnh vực đặc biệt quan trọng của nền kinh tế. Đặc biệt, Nhà nước tập
trung vào những lĩnh vực tư nhân chưa muốn tham gia hoặc những ngành có thời
gian hoàn vốn chậm, tỷ suất lợi nhuận thấp như kết cấu hạ tầng, giáo dục, đào tạo, y
tế, xóa đói giảm nghèo và việc chăm lo thực hiện chính sách xã hội, chính sách đối
với người có công, người bị thiệt thòi.
Nhà nước đã thực hiện nhiều cải cách lớn trong lĩnh vực kinh tế và xã hội.
Kết quả của những cải cách này có góp phần rất quan trọng của chi ngân sách Nhà
nước. Trước gia nhập WTO, năm 2006 chi tiêu Chính phủ là 308.058 tỷ đồng. Sau
gia nhập WTO, chi tiêu Chính phủ năm 2007 tăng mạnh, đạt 399.402 tỷ đồng nhưng
năm 2008 giảm xuống còn 398.980 tỷ đồng. Cơ cấu chi ngân sách Nhà nước đã có
nhiều chuyển biến. Chi thường xuyên năm 2006 chiếm 52,54% tổng chi, năm 2007
tăng lên chiếm 53,06% tổng chi và năm 2008 chiếm 59,46% tổng chi. Chi thường
xuyên được cơ cấu lại theo hướng tăng chi thực hiện các nhiệm vụ trọng yếu như chi

thuê tài chính 100% vốn nước ngoài tối đa là 50 năm và có thể được gia hạn. Phần
vốn góp của bên nước ngoài vào ngân hàng thương mại liên doanh không được vượt
qua 50% vốn đăng ký của ngân hàng. Phần góp vốn của bên nước ngoài vào tổ chức
tín dụng phi ngân hàng liên doanh cần chiếm ít nhất 30% vốn đăng ký. Tổng số cổ
phần của các tổ chức tín dụng và cá nhân nước ngoài không được vượt quá 30% vốn
6
đăng ký của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam, trừ khi luật pháp Việt Nam có
quy định khác hoặc được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho phép.
Về chứng khoán: cho phép thành lập công ty chứng khoán 100% vốn nước
ngoài và chi nhánh sau 5 năm kể từ khi gia nhập WTO. Ngoài ra, các công ty chứng
khoán nước ngoài muốn giao dịch chứng khoán tại Việt Nam phải chịu các hạn chế
được quy định trong biểu cam kết cụ thể của Việt Nam.
* Bảo hiểm và các dịch vụ liên quan đến bảo hiểm
Công ty bảo hiểm 100% vốn nước ngoài không được phép cung ứng dịch vụ
bảo hiểm đối với thương vụ được chỉ định như trách nhiệm pháp lý bên thứ ba đối
với xe gắn máy, bảo hiểm trong xây dựng và lắp đặt… Các giới hạn này được dỡ bỏ
kể từ ngày 1/1/2008. Sau 5 năm tính từ thời điểm gia nhập, các công ty bảo hiểm
nước ngoài được thành lập chi nhánh tại Việt Nam.
2.2. Thực trạng tài chính – ngân hàng sau gia nhập WTO
Thị trường chứng khoán Việt Nam bắt đầu hoạt động vào tháng 7 năm 2000
nhưng mãi đến năm 2006 mới thực sự phát triển. Trong 2 năm 2006, 2007 số lượng
cổ phiếu và trái phiếu, số phiên giao dịch không ngừng tăng lên, thị trường chứng
khoán phát triển mạnh. Nhưng 2 năm trở lại đây, do tác động của lạm phát gia tăng
và khủng hoảng kinh tế nên thị trường chứng khoán có phần chững lại và giảm sút.
Số lượng ngân hàng hoạt động năm 2005 là 75 ngân hàng và tăng lên 94 ngân
hàng năm 2009. Trong đó, số lượng ngân hàng thương mại quốc doanh không có gì
thay đổi; ngân hàng liên doanh tăng số lượng từ 4 lên 5 năm 2006 và giữ nguyên cho
đến năm 2009; ngân hàng thương mại cổ phần tăng từ 37 lên 39; chi nhánh ngân
hàng nước ngoài tăng khá nhanh từ con số 29 năm 2005 lên 40 vào năm 2009. Đặc
biệt, ngày 8/9/2008 ngân hàng 100% vốn nước ngoài đầu tiên đã được thành lập và

Chi nhánh NH nước
ngoài
NH liên doanh
NH 100% vốn nước
ngoài
Nguồn: Ngân hàng Nhà nướcViệt Nam (2009)
Nhìn chung, hệ thống tài chính – ngân hàng đã đạt được một số thành tựu
đáng ghi nhận sau:
Thứ nhất, hệ thống ngân hàng đã huy động và cung cấp một lượng vốn khá
lớn cho nền kinh tế, ước tính hàng năm chiếm khoảng 16-18% GDP, gần 50% tổng
vốn đầu tư toàn xã hội. Hệ thống ngân hàng cũng có nhiều đóng góp cho tăng trưởng
kinh tế, phát triển và ổn định nền kinh tế trong những năm qua.
Thứ hai, hệ thống ngân hàng đã có cuộc đổi mới toàn diện. Nhiều văn bản luật
đã được ban hành một cách đồng bộ. Cơ chế, chính sách về hoạt động ngân hàng đã
ngày một hoàn chỉnh và phù hợp với thông lệ quốc tế. Khuôn khổ thể chế ngày một
minh bạch và thông thoáng hơn. Những phân biệt, đối xử giữa loại hình tổ chức tín
dụng, tổ chức tín dụng trong nước và tổ chức tín dụng nước ngoài đã từng bước được
loại bỏ. Chức năng cho vay tín dụng chính sách và tín dụng thương mại đã được tách
bạch. Các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng đã được tự chủ và tự chịu trách
nhiệm khá đầy đủ. Tính cạnh tranh của các tổ chức tín dụng được nâng cao. Thị
trường dịch vụ ngân hàng được phát triển an toàn và hiệu quả.
Thứ ba, chính sách tiền tệ được đổi mới và điều hành theo nguyên tắc thị
trường và phù hợp với thông lệ quốc tế. Các công cụ gián tiếp điều hành chính sách
tiền tệ đã được hình thành và phát triển. Chính sách lãi suất và tỷ giá hối đoái đã
được áp dụng linh hoạt theo cơ chế thị trường. Chính sách tín dụng được mở rộng và
đổi mới theo hướng tạo sự công bằng, bình đẳng đối với mọi thành phần kinh tế,
doanh nghiệp và mọi đối tượng dân cư.
8
Thứ tư, hệ thống ngân hàng đã được cơ cấu lại tài chính, tăng vốn điều lệ cho
các ngân hàng thương mại Việt Nam , xử lý nợ xấu, đào tạo cán bộ và nâng cấp hệ

năng thanh khoản và tính bền vững của hệ thống chưa cao. Hệ thống ngân hàng
thương mại Việt Nam chiếm đến trên 75% thị trường huy động vốn đầu vào và trên
73% thị trường tín dụng, sức ép cạnh tranh còn thấp. Các ngân hàng thương mại cổ
phần, quỹ tín dụng quá nhỏ bé và yếu kém đang là điểm dễ bị tổn thương nhất của hệ
thống.
- Hội nhập kinh tế quốc tế đi liền với các cam kết quốc tế về mở rộng thị
trường tài chính, cho phép các ngân hàng quốc tế được hoạt động và đối xử bình
đẳng như những ngân hàng trong nước sẽ tạo ra những sức ép lớn hơn đối với hệ
thống ngân hàng trong thời gian tới. Hệ thống ngân hàng chưa tạo dựng được một hệ
thống thông tin có thể đáp ứng kịp thời, có hiệu quả cho phân tích, dự báo tình hình
tiền tệ, lãi suất, tín dụng, tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp.
- Nhiều tổ chức tín dụng chưa xây dựng quy trình và thực hiện quản lý tập
trung đối với rủi ro thanh khoản thông qua việc xây dựng phân tích kỳ hạn. Việc
quản lý rủi ro thanh khoản hầu như chỉ thực hiện những chi nhánh đơn lẻ, do đó khi
xuất hiện những biến động bất thường, một số ngân hàng thương mại luôn phải đối
mặt với nguy cơ mất khả năng chi trả tạm thời trên toàn hệ thống.
- Phần lớn các tổ chức tín dụng chưa xây dựng được quy trình tập trung tại hội
sở chính đối với rủi ro về tỷ giá và kinh doanh ngoại hối; quy trình quản lý trạng thái
ngoại hối chưa đáp ứng được yêu cầu nên chưa có những giải pháp hiệu quả để hạn
chế tác động của những rủi ro này khi có sự biến động bất lợi về lãi suất và tỷ giá.
Bên cạnh đó, một số tổ chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại hối không chấp
nhận các giới hạn về trạng thái ngoại tệ, báo cáo thiếu trung thực, đầu cơ trong kinh
doanh nhưng không kiểm soát được rủi ro tỷ giá. Vì vậy, khi phải đối mặt với biến
động của thị trường đã gây tổn thất cho chính tổ chức tín dụng.
3. Chính sách mở cửa và hội nhập
3.1. Chính sách thuế quan theo cam kết khi gia nhập WTO
10
Với việc thực hiện cam kết về thuế quan theo các văn bản đàm phán khi Việt
Nam gia nhập WTO, sau 5 đến 7 năm thuế suất cam kết cuối cùng có mức bình quân
giảm từ 17,4% xuống 13,4% với 10.600 dòng thuế.

thuế (chiếm 35,5% số dòng của biểu thuế), giữ nguyên mức thuế hiện hành với
khoảng 3.700 dòng thuế (chiếm 34,5% số dòng của biểu thuế), tăng cao hơn so với
mức thuế hiện hành với 3.170 dòng thuế (chiếm 30% số dòng của biểu thuế).
Trong lĩnh vực nông nghiệp, mức cam kết bình quân là 25,2% vào thời điểm
gia nhập và 21,0% sẽ là mức cắt giảm cuối cùng. Việt Nam sẽ được áp dụng cơ chế
hạn ngạch thuế quan đối với 4 mặt hàng gồm: trứng, đường, thuốc lá, muối. Đối với
4 mặt hàng này, mức thuế trong hạn ngạch tương đương mức thuế hiện hành (trứng
11
40%, đường thô 25%, đường tinh 50-60%, thuốc lá 30%, muối ăn 30%) thấp hơn
nhiều so với mức thuế ngoài hạn ngạch.
Đối với lĩnh vực công nghiệp, mức cam kết bình quân vào thời điểm gia nhập là
16,1% và mức cắt giảm cuối cùng sẽ là 12,6%. Việc tham gia hiệp định dệt may (thực
hiện đa phương hoá mức thuế đã cam kết theo các hiệp định dệt may với liên minh
châu Âu và Hoa Kỳ) cũng dẫn đến giảm thuế đáng kể đối với các mặt hàng này: vải từ
40% xuống 12%, quần áo từ 50% xuống 20%, sợi từ 20% xuống 5%.
Bảng 2: Các cam kết thực hiện hiệp định tự do hoá theo ngành
Hiệp định tự do hoá theo
ngành
Số dòng thuế
Thuế suất cam kết
cuối cùng (%)
1.Hiệp định công nghệ thông
tin ITA (tham gia 100%)
330 0%
2.Hiệp định hài hoà hoá chất
CH (tham gia 81,25%)
1.300/1.600 4,4%
3.Hiệp định thiết bị máy bay
dân dụng CA (tham gia hầu
hết)

với các nước, sự đối xử theo hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập và củng cố cải cách
kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, gần đây chúng ta vẫn còn bị áp thuế chống bán phá giá
đối với một số mặt hàng như: giầy da xuất khẩu, giày mũi vải, túi nhựa PE…
4. Phát triển kết cấu hạ tầng
4.1. Những cam kết chủ yếu khi gia nhập WTO
* Dịch vụ giao thông vận tải
- Vận tải đường biển được thành lập liên doanh, trong đó phần vốn góp của
nước ngoài không vượt quá 51% vốn pháp định. Các công ty vận tải biển 100% vốn
nước ngoài chỉ được thành lập sau 5 năm kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO.
- Vận tải hàng không được phép cung ứng dịch vụ văn phòng hoặc đại lý bán
vé tại Việt Nam. Sửa chữa hoặc bảo trì máy bay sẽ được thành lập công ty liên doanh
với vốn góp tối đa phía nước ngoài không vượt quá 51% vốn pháp định. Sau 5 năm,
công ty liên doanh 100% vốn nước ngoài mới được phép thành lập.
- Vận tải đường sắt cho phép các công ty liên doanh với phần vốn góp nước
ngoài không vượt quá 49% vốn pháp định của liên doanh.
- Vận tải đường bộ: Các công ty nước ngoài được phép vận tải bằng đường bộ
dưới hình thức hợp đồng, liên doanh với phần vốn góp không quá 49% vốn pháp
định. Sau 3 năm, tùy thuộc nhu cầu thị trường, các công ty liên doanh có thể cho
phép mức tối đa vốn góp phía nước ngoài lên đến 51% vốn pháp định nhưng lái xe
phải là người Việt Nam.
13
* Dịch vụ viễn thông
- Các dịch vụ qua biên giới đối với điện thoại, truyền dữ liệu phụ thuộc vào
đường dây truyền hoặc di động trên mặt đất thì cần đạt được thỏa thuận thương mại
với đối tác phía Việt Nam, đồng thời phải được cấp phép cung ứng dịch vụ quốc tế.
Đối với dịch vụ viễn thông cung ứng dựa trên vệ tinh: cần thỏa thuận với nhà cung
cấp dịch vụ vệ tinh quốc tế của Việt Nam được cấp phép (trừ một số dịch vụ cho các
đối tượng kinh doanh ngoài khơi, trên biển, văn phòng ngoại giao…).
- Đối với dịch vụ không dựa trên tiện ích hạ tầng mạng: các nhà cung cấp dịch
vụ được liên doanh với nhà cung cấp dịch vụ viễn thông ngay sau khi gia nhập, phần

tế, cơ sở hạ tầng của Việt Nam không chỉ giới hạn ở nhu cầu trong nước. Với ưu thế
về vị trí địa lý, nằm trong một vùng phát triển năng động với tuyến vận tải lưu lượng
cao, Việt Nam có thể phát triển cơ sở hạ tầng như một trạm trung chuyển quốc tế để
cung cấp dịch vụ cho khu vực. Cơ sở hạ tầng có thể trở thành nguồn thu ngoại tệ
quan trọng của nền kinh tế.
Về viễn thông, trong những năm gần đây, các nhà mạng mới liên tục xuất
hiện. Kèm theo đó, số lượng người dân sử dụng điện thoại và thời gian sử dụng cũng
tăng lên đáng kể, nhất là với điện thoại di động. Tuy nhiên, con số này còn khá nhỏ
so với các nước trong khu vực và toàn thế giới.
Về giao thông, Việt Nam chỉ có 30% mạng lưới đường bộ được rải nhựa, 12%
trong số đó còn tốt. Hệ thống giao thông nông thôn rất kém phát triển. Đường sắt chỉ
có một chiều dẫn đến tình trạng phải dừng lại để chờ tàu, tránh tàu mất thời gian và
không đủ đáp ứng nhu cầu của người dân vào các dịp cao điểm. Ngành hàng không
mặc dù hiện đại nhưng số lượng ít và mạng đường bay tương đối hẹp; hành khách và
hàng hóa đến Việt Nam phải trung chuyển qua các sân bay đầu mối ở nước khác, làm
tăng chi phí về thời gian và tiền bạc. Độ an toàn của lịch bay thấp, tỷ lệ tạm hoãn
chuyến bay cao. Đội tàu thủy, kể cả tàu viễn dương chủ yếu là tàu cũ, trọng tải thấp.
Các cảng biển nhỏ và không đủ sâu cho các tàu đúng tiêu chuẩn quốc tế, khả năng
giải phóng hàng thấp do thiết bị bốc dỡ lạc hậu, kho hàng không đủ diện tích và điều
kiện bảo quản.
Hệ thống cung cấp nước sạch và thoát nước còn rất thiếu, không đảm bảo điều
kiện vệ sinh. Tại các thành phố còn xảy ra hiện tượng úng lụt khi mưa lớn. Điển hình
là trận lụt tại Hà Nội xảy ra vào những ngày đầu tháng 11 năm 2008.
4.2.2. Giá cả dịch vụ
15
Một số giá dịch vụ cơ sở hạ tầng của Việt Nam cao hơn mức trung bình của
các nước trong khu vực, trong khi đó một số giá khác lại quá thấp không đủ bù đắp
chi phí bỏ ra. Giá thuê đất khu công nghiệp và văn phòng còn cao hơn các nước khác
làm giảm việc mở rộng sản xuất - kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước cũng
như đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam. Giá cước viễn thông liên tục giảm và

các khía cạnh của quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại (TRIPs) của WTO
ngay sau khi gia nhập. Các tiêu chuẩn về nội dung bảo hộ, bao gồm các thủ tục xác
lập và duy trì quyền sở hữu trí tuệ:
* Bản quyền tác giả
- Theo Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa
học được bảo hộ bao gồm: tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và
tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hay ký tự khác; bài giảng, bài phát
biểu và bài nói khác; tác phẩm báo chí, âm nhạc, sân khấu, điện ảnh và tác phẩm
được tạo ra theo phương pháp tương tự; tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng, nhiếp
ảnh, kiến trúc bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, công trình
khoa học; tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian; chương trình máy tính sưu tập dữ
liệu. Các tác phẩm trên sẽ không được bảo hộ nếu trái với đạo đức xã hội, trật tự
công cộng hoặc tổn hại đến an ninh quốc gia.
- Các tác phẩm của cá nhân, tổ chức nước ngoài được bảo hộ tại Việt Nam
gồm: (i) Các tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam và chưa được công bố
ở bất kỳ nước nào khác hoặc những tác phẩm được công bố đồng thời tại Việt Nam
trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày tác phẩm đó được công bố đầu tiên ở nước khác;
(ii) Các tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam
là thành viên.
* Nhãn hiệu (bao gồm cả nhãn hiệu dịch vụ)
- Nhãn hiệu được bảo hộ theo quy định tại các Điều từ 750 – 753 của Bộ Luật
Dân sự năm 2005 và phần III của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, không có yêu cầu
bắt buộc đăng ký đối với bất kỳ hàng hóa và dịch vụ nào. Tất cả các đăng ký nhãn
hiệu đều được công bố trên Công báo Sở hữu công nghiệp.
- Mọi hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu đối với một nhãn hiệu đều phải
được đăng ký tại Cục Sở hữu trí tuệ.
* Chỉ dẫn địa lý (bao gồm cả tên gọi, xuất xứ hàng hóa)
17

Trích đoạn Xây dựng chiến lược phát triển và chiến lược cạnh tranh tích cực Phát triển khoa học – công nghệ và giáo dục Tiếp tục hoàn thiện các chính sách kinh tế (tài chính, tiền tệ) nhằm tạo môi trường nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Tạo môi trường chính trị xã hội và pháp lý thuận lợi, cải cách hành chính và tăng cường vai trò của Nhà nước, Chính phủ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status