chiến lược cạnh tranh và tăng cường năng lực cạnh tranh ngân hàng - Pdf 22

Chương 1. Những vấn đề lý luận về cạnh tranh, chiến lược cạnh tranh và tăng
cường năng lực cạnh tranh ngân hàng.
1.1.Những vấn đề lý luận về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh:
1.1.1 Các quan niệm về cạnh tranh:
Cạnh tranh được hiểu bằng nhiều cách khác nhau. Từ “cạnh tranh” được giải thích là
sự cố gắng giành phần hơn, phần thắng về mình giữa những người, những tổ chức hoạt
động nhằm những lợi ích như nhau.
(1)
Trong tác phẩm “Quốc phú luận” của Adam
Smith, tác giả cho rằng cạnh tranh có thể phối hợp kinh tế một cách nhịp nhàng, có lợi
cho xã hội. Vì sự cạnh tranh trong quá trình của cải quốc dân tăng lên chủ yếu diễn ra
thông qua thị trường và giá cả, do đó, cạnh tranh có quan hệ chặt chẽ với cơ chế thị
trường. Theo Smith, “Nếu tự do cạnh tranh, các cá nhân chèn ép nhau, thì cạnh tranh
buộc mỗi cá nhân phải cố gắng làm công việc của mình một cách chính xác”, “Cạnh
tranh và thi đua thường tạo ra sự cố gắng lớn nhất. Ngược lại, chỉ có mục đích lớn lao
nhưng lại không có động cơ thúc đẩy thực hiện mục đích ấy thì rất ít có khả năng tạo ra
được bất kỳ sự cố gắng lớn nào”.
Trong tác phẩm “Về nguồn gốc của các loài”, Charles Robert Darwin đã đề ra tư
tưởng “vật cánh thiên trạch, thích giả sinh tồn”, đó là sự mô tả hay nhất về sự cạnh tranh
trong giới sinh vật. Quả vậy, không có cạnh tranh thì không có sự tiến bộ của sinh vật,
toàn bộ giới sinh vật, trong đó gồm cả loài người sẽ vì thiếu sức sống mà suy vong.
Trong lý luận cạnh tranh của mình, trọng điểm nghiên cứu của Các Mác là cạnh
tranh giữa những người sản xuất và liên quan tới sự cạnh tranh này là cạnh tranh giữa
người sản xuất và người tiêu dùng. Những cuộc cạnh tranh này diễn ra dưới ba góc độ:
cạnh tranh giá thành thông qua nâng cao năng suất lao động giữa các nhà tư bản nhằm
thu được giá trị thặng dư siêu ngạch; cạnh tranh chất lượng thông qua nâng cao giá trị sử
dụng hàng hoá, hoàn thiện chất lượng hàng hoá để thực hiện được giá trị hàng hoá; cạnh
tranh giữa các ngành thông qua việc gia tăng tính lưu động của tư bản nhằm chia nhau
giá trị thặng dư.
(1) Từ điển Tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học, NXB Đà Nẵng, 1998.
Ba góc độ cạnh tranh cơ bản này diễn ra xoay quanh sự quyết định giá trị, sự thực

Theo Fafchamps, sức cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp đó
có thể sản xuất sản phẩm với chi phí biến đổi trung bình thấp hơn giá của nó trên thị
trường, có nghĩa là doanh nghiệp nào có khả năng sản xuất ra những sản phẩm có chất
lượng tương tự như sản phẩm của doanh nghiệp khác nhưng có chi phí thấp hơn thì được
coi là có năng lực cạnh tranh
Một quan niệm khác cho rằng: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được hiểu
là tích hợp các khả năng và nguồn nội lực để duy trì và phát triển thị phần, lợi nhuận và
Trang: 2
định vị những ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp đó trong mối quan hệ với đối thủ
cạnh tranh trực tiếp và tiềm tàng trên một thị trường mục tiêu xác định”
(2)
Theo PGS, TS Nguyễn Thị Quy, “năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp là khả
năng doanh nghiệp đó tạo ra, duy trì và phát triển những lợi thế nhằm duy trì và mở rộng
thị phần; đạt được mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành và liên tục tăng
đồng thời đảm bảo sẹ hoạt động an toàn và lành mạnh, có khả năng chống đỡ và vượt
qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh.”
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện qua hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp, được đo thông qua lợi nhuận, thị phần của doanh nghiệp, thể hiện qua chiến lược
kinh doanh của doanh nghiệp. Đồng thời năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng thể
hiện qua năng lực cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh.
1.1.3 Các quan niệm về các cấp độ năng lực cạnh tranh
1.1.3.1 Năng lực cạnh tranh quốc gia.
Là năng lực của một nền kinh tế đạt được tăng trưởng bền vững, thu hút được
đầu tư, bảo đảm ổn định kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống người dân.
1.1.3.2 Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp
Được đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh
nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong và ngoài nước. Một doanh nghiệp có thể kinh
doanh một hay nhiều sản phẩm dịch vụ, vì vậy, người ta còn phân biệt năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp với năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ.
(2) Nguyễn Bách Khoa, (2004) Phương pháp luận xác định năng lực cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế của

Một đất nước có môi trường chính trị ổn định, luật pháp được quy định rõ ràng,
minh bạch, sự thay đổi luật diễn ra không thường xuyên, phù hợp với thông
(3) Phát triển, cải cách kinh tế và năng lực cạnh tranh ở Việt Nam. Triển vọng và thách thức, Lê Đăng Doanh
www.fetp.edu.vn/events/theFilename/E041208V.ppt
lệ quốc tế sẽ khuyến khích các doanh nghiệp nói chung và các tổ chức tín dụng nói
riêng an tâm hơn trong hoạt động kinh doanh của mình, có khả năng phát huy hết tối đa
lợi thế cạnh tranh của mình. Ngược lại, nếu môi trường chính trị, xã hội luôn biến động
thì dẫn đến sự kém hiệu quả trong hoạt động của ngân hàng do sự không an toàn và sự
thay đổi liên tục, sự kém minh bạch của hệ thống luật pháp.
 Môi trường văn hoá- xã hội.
Có thể nói, ngân hàng là một ngành kinh doanh lòng tin. Ngân hàng là người giữ
túi tiền cho người dân cũng như các doanh nghiệp, là người nắm hầu bao của nền kinh tế
quốc dân, vì thế, nếu ngân hàng không hiểu được các tập quán văn hoá, xã hội của người
dân như thói quen tiêu dùng, trình độ dân trí, mức thu nhập của người dân... thì sẽ không
thể lấy được lòng tin của khách hàng và từ đó sẽ bị đào thải khỏi thị trường.
 Môi trường công nghệ.
Cuộc cách mạng công nghệ đang diễn ra như vũ bão trên toàn thế giới, công nghệ
quyết định đến sự thành công của một doanh nghiệp nói chung và một ngân hàng nói
Trang: 4
riêng, nếu ngân hàng có công nghệ lạc hậu hơn đối thủ cạnh tranh thì sớm muộn cũng sẽ
bị đối thủ cạnh tranh đánh bật ra khỏi thị trường.
Một ngân hàng chú trọng đến công nghệ của mình sẽ làm cho khách hàng tin
tưởng và từ đó có thể dễ dàng thu hút khách hàng mới hay lôi kéo khách hàng của đối
thủ cạnh tranh.
 Môi trường quốc tế.
Quá trình hội nhập của nền kinh tế đòi hỏi một đất nước cũng phải tuân thủ các luật
chơi của quốc tế. Sự biến động của nền kinh tế thế giới, đặc biệt là các chỉ số như lãi
suất, tỷ giá, giá dầu, vàng, đô la...cũng tác động rất lớn tới nền kinh tế trong nước và từ
đó ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của ngân hàng. Đặc biệt, sự hội nhập kinh tế thế giới
làm cho các ngân hàng không chỉ cạnh tranh nội địa với nhau mà còn cạnh tranh với các

Những người mua được xem như là một đe dọa cạnh tranh khi họ ở vị thế yêu
cầu giá thấp hoặc yêu cầu cung cấp những dịch vụ tốt hơn. Ngược lại khi người mua ở vị
thế yếu hơn trong đàm phán thì ngân hàng có cơ hội thu được lợi nhuận cao hơn. Người
vay sẽ có quyền lực nhất khi:
- Ngành cung cấp được tạo bởi nhiều công ty nhỏ và người mua là một số ít và
lớn
- Khi người mua mua sắm với khối lượng lớn
- Khi ngành cung cấp phụ thuộc vào người mua vì phần lớn doanh số phụ thuộc
vào các đơn hàng của khách hàng
- Khi chi phí chuyển đổi giữa các nhà cung cấp là thấp
- Khi đặc tính kinh tế của người mua là mua sắm từ vài công ty cùng lúc.
Ngân hàng là đối tác trung gian giữa người vay và khách hàng gửi tiền, sử dụng
tiền của người có nguồn vốn nhàn rỗi để cho người có nhu cầu về vốn vay trong một
khoảng thời gian nhất định. Chính vì vậy, người vay có tác động rất lớn đến hoạt động
của ngân hàng. Nếu ngân hàng huy động nhiều mà giải ngân ít do ít nhu cầu vay thì vốn
sẽ bị ứ đọng, không sinh lãi, khả năng trả lại tiền cho khách hàng gửi tiền sẽ bi hạn chế,
từ đó có nguy cơ dẫn đến phá sản.
 Khả năng thương lượng của nhà cung cấp ( khách hàng gửi tiền)
Những người bán được xem là một đe dọa khi họ yêu cầu tăng giá hoặc giảm chất
lượng đầu vào, do đó làm giảm khả năng sinh lợi của công ty và ngược lại nếu nếu nhà
cung cấp yếu thì công ty có thể mua được với mức giá thấp hơn hoặc yêu cầu chất lượng
cao hơn. Các nhà cung cấp có quyền lực nhất khi:
- Sản phẩm của nhà cung cấp ít có khả năng thay thế và quan trọng đối với công
ty
- Công ty không phải là một khách hàng quan trọng của nhà cung cấp
- Chi phí chuyển đổi giữa các nhà cung cấp tương đối cao
- Đe dọa hội nhập xuôi chiều về phía ngành ,cạnh tranh trực tiếp với công ty.
- Các công ty không thể đe dọa hội nhập ngược về phía nhà cung cấp để tự đáp
ứng nhu cầu đầu vào cho công ty
Trang: 6

Trong lĩnh vực ngân hàng, công nghệ đang ngày càng đóng vai trò như là một
trong những nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất của mỗi ngân hàng.
Công nghệ ngân hàng không chỉ bao gồm những công nghệ mang tính tác nghiệp như hệ
thống thanh toán điện tử, hệ thống ngân hàng bán lẻ, máy rút tiền tự động ATM,...mà
còn bao gồm hệ thống thông tin quản lý MIS, hệ thống báo cáo rủi ro...trong nội bộ ngân
Trang: 7
hàng. Khả năng nâng cấp và đổi mới công nghệ của các ngân hàng thương mại cũng là
chỉ tiêu phản ánh năng lực công nghệ của một ngân hàng. Vì thế, năng lực công nghệ
không chỉ thể hiện ở số lượng, chất lượng công nghệ hiện tại mà còn bao gồm cả khả
năng mở (khả năng đổi mới) của các công nghệ hiện tại về mặt kỹ thuật cũng như kinh
tế.
1.1.5.3 Nguồn nhân lực, quản trị và điều hành.
Năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực của một doanh nghiệp nói chung thể
hiện ở những yếu tố như: trình độ đào tạo, trình độ thành thạo nghiệp vụ, động cơ phấn
đấu, mức độ cam kết gắn bó với doanh nghiệp...Nếu một ngân hàng có tốc độ lưu
chuyển nhân viên cao hay yếu kém trong nghiệp vụ thì ngân hàng đó sẽ không có khả
năng cạnh tranh.
Ngân hàng có một Ban giám đốc hay Hội đồng quản trị yếu kém, không có khả
năng đưa ra những chính sách, chiến lược hợp lý, thích ứng với những thay đổi của thị
trường...sẽ làm lãng phí các nguồn lực và làm yếu đi năng lực cạnh tranh của ngân hàng
đó.
1.1.5.4 Danh tiếng, uy tín, hệ thống phân phối và mức độ đa dạng hoá các dịch
vụ cung cấp.
Uy tín là tài sản vô hình mà không phải bất cứ ngân hàng nào cũng có được. Uy
tín ngân hàng phải được xây dựng và củng cố trên cơ sở mạng lại nhiều lợi ích cho xã
hội và cho khách hàng. Uy tín ngân hàng là yếu tố quan trọng, là cơ sở để doanh nghiệp
có thể dễ dàng vươn lên trong cạnh tranh với các ngân hàng khác. Uy tín ngân hàng
được hình thành sau một thời gian dài hoạt động trên thị trường và là tài sản vô hình mà
doanh nghiệp cần phát huy và sử dụng như một thứ vũ khí chủ lực trong điều kiện cạnh
tranh hiện nay.

nhóm khách hàng được thỏa mãn.
 Có bốn loại chiến lược kinh doanh chính:
- Dẫn đạo chi phí: cung cấp những sản phẩm có đặc tính được khách hàng chấp
nhận với mức chi phí thấp nhất trong so sánh với các đối thủ cạnh tranh
- Tạo sự khác biệt: tạo ra và cung cấp những sản phẩm được khách hàng cảm
nhận là độc đáo về một vài đặc tính quan trọng
- Chiến lược kết hợp: kết hợp giữa dẫn đạo chi phí và tạo sự khác biệt
- Tập trung vào các khe hở của thị trường: hướng trực tiếp vào phục vụ cho nhu
cầu của nhóm hay phân đoạn thị trường hạn chế, sử dụng cách tiếp cận khác biệt hóa
hoặc chi phí thấp
1.2.3 Khái niệm về chiến lược cấp công ty.
Chiến lược cấp công ty xác định các hành động mà công ty thực hiện nhằm giành
lợi thế cạnh tranh bằng cách lựa chọn, quản trị một nhóm các hoạt động kinh doanh khác
nhau cạnh tranh trong một số ngành và thị trường sản phẩm.
Trang: 9
 Có ba loại chiến lược cấp công ty chính:
- Hội nhập dọc: doanh nghiệp tìm cách đầu tư vào các giai đoạn của quá trình sản
xuất kinh doanh hay tìm cách đầu tư để kiểm soát đối thủ và thị trường.
- Đa dạng hoá: doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản phẩm, thị trường hay đầu tư
phát triển những ngành hàng mới. Có ba loại đa dạng hoá: hàng ngang, đa dạng hoá
đồng tầm và đa dạng hoá kết khối.
- Phát triển tập trung: (chiến lược phát triển nhanh) doanh nghiệp chỉ tập trung
vào một lĩnh vực, một ngành hàng, một dãy sản phẩm nhất định (thậm chí chỉ là một sản
phẩm duy nhất) nhằm tạo ra tốc độ phát triển nhanh.
1.2.4 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty
Năng lực cạnh tranh (lợi thế cạnh tranh) của một doanh nghiệp sẽ xác định nguyên
nhân tại sao các công ty trong cùng một ngành nhưng lại có một số công ty thì thành
công còn một số khác lại thất bại.
Như là một quy luật đào thải tự nhiên, những doanh nghiệp nào không thích nghi được
với cơ chế kinh doanh, không đủ năng lực cạnh tranh với các doanh nghiệp khác thì sẽ

không còn là lợi thế. Và vì vậy thường xuyên đánh giá và nâng cấp các lợi thế cạnh
tranh, tạo ra những lợi thế mới phù hợp với điều kiện cạnh tranh hiện tại sẽ mang lại
hiệu quả cao.
1.3 Khái niệm về năng lực cốt lõi
1.3.1 Khái niệm năng lực cốt lõi:
Năng lực cốt lõi là các nguồn lực và khả năng của ngân hàng được sử dụng như
nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh. Năng lực cốt lõi làm cho một ngân hàng có tính cạnh
tranh và phẩm chất riêng có của nó.
Năng lực cốt lõi phát sinh theo thời gian qua quá trình học tập, tích luỹ một cách
có tổ chức về cách thức khai thác các nguồn lực và khả năng khác nhau. Các năng lực
cốt lõi là “đồ phục sức sạng trọng của một công ty”, các hoạt động mà công ty thực hiện
tốt so với đối thủ cạnh tranh và thông qua đó, nó làm tăng giá trị cho các hàng hoá và
dịch vụ trong suốt thời gian dài.
Không phải tất cả các nguồn lực và khả năng của ngân hàng đều là các tài sản có
tính chiến lược. Các tài sản có tính chiến lược phải có giá trị cạnh tranh và có tiềm năng
sử dụng như một nguồn lợi thế cạnh tranh.
1.3.2 Các tiêu chuẩn xác định năng lực cốt lõi:
Trang: 11
- Đáng giá: cho phép ngân hàng khai thác các cơ hội và hoá giải các đe doạ từ
môi trương bên ngoài. Bằng việc khai thác một cách hữu hiệu các cơ hội, ngân hàng có
thể tạo giá trị cho khách hàng.
- Hiếm: khả năng này không có hoặc rất ít đối thủ cạnh tranh có được khả năng
đó.
- Khó bắt chước: là những khả năng mà các đối thủ không dễ dàng phát triển
được nó.
- Không thể thay thế: có nghĩa là không có chiến lược tương đương.
……………………………………………………….
Chương 2 : Đánh giá năng lực cạnh tranh của ngân hàng Á Châu Việt Nam.
Trang: 12
2.1. Ngành ngân hàng Việt Nam trước thách thức cạnh tranh.

ngoài chỉ có Chi nhánh hoặc ở Hà Nội, hoặc ở TP.Hồ Chí Minh. Khoảng 4-5 ngân hàng
có chi nhánh tại hai nơi. Một số ngân hàng Liên doanh tình tình có khá hơn, nhưng cũng
chỉ có mạng lưới ở một vài chi nhánh chính. Mà một trong các lợi thế cạnh tranh là phải
gần khách hàng, hiểu khách hàng.
Không những thế, với gần 800 máy ATM của các NHTM Việt Nam có đến thời
điểm hiện nay đều đã và đang chiếm các vị trí thuận lợi cho giao dịch, như: khách sạn
Trang: 13
lớn, trung tâm thương mại, siêu thị, sân bay,…. Sau này các Ngân hàng có vốn đầu tư
nước ngoài có lắp đặt máy ATM sẽ rất khó tìm được vị trí lắp đặt thuận lợi cho giao dịch
đối với khách hàng như hiện tại.
(Nguồn: tổng hợp từ các báo cáo của các ngân hàng Việt Nam)
• Thị phần ổn định.
Do tâm lý của người dân Việt Nam vẫn chưa tin tưởng lắm vào các ngân hàng nước
ngoài, đồng thời mạng lưới chi nhánh rộng khắp nên thị phần cho vay cũng như nhận
tìên gửi của các ngân hàng Việt Nam rất cao và tương đối ổn định.
Các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài và Ngân hàng Liên doanh mặc dù có người
Việt Nam làm việc, nhưng cũng không thể hiểu phong tục tập quán, có phong cách giao
dịch thân thiện, ngôn ngữ giao dịch bản xứ như người Việt Nam trong các NHTM Việt
Nam. Bên cạnh đó các doanh nghiệp cũng như cá nhân người Việt Nam giao dịch với
các NHTM Việt Nam khi xảy ra vấn đề gì dễ linh hoạt gặp nhau giải quyết hơn, không
cứng nhắc như các ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài.
2.1.1.2 Thách thức :
 Môi trường kinh tế khó khăn:
Nền kinh tế Việt Nam chịu ảnh hưởng rất lớn của nền kinh tế thế giới. Trong
những năm gần đây.
- Tác động của lạm phát:
Trong nhiều năm trở lại đây, kinh tế thế giới có nhiều biến động, đạt được tốc độ
tăng trưởng cao trung bình khoảng 5,1% mỗi năm, nhưng nhiều biến động thất thường
đã tác động không nhỏ tới sự ổn định tiền tệ, thể hiện ở một số diễn biến như: giá dầu
mỏ tăng cao, gây lạm phát cao ở hầu hết các nước; giá vàng tăng, lãi suất tăng, giá hầu

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các TCTD và Bộ luật Dân sự 2005; hay các
quy định về thương phiếu cũng không đồng nhất với các quy định của Luật Thương mại
2005… Không những thế, các quy định trong Luật các TCTD cũng đã bộc lộ nhiều
nhược điểm về phát triển thương mại dịch vụ ngân hàng.
Trang: 15
 Tính thống nhất trong hệ thống pháp luật ngân hàng còn cần phải được đặt
trong mối tương quan với hệ thống pháp luật kinh tế đã và đang được hoàn thiện.
 Một số văn bản vừa mới ban hành trong thời gian ngắn đã phải sửa đổi, bổ
sung hoặc bị thay thế do không phù hợp với yêu cầu thực tiễn.
Nguyên nhân do quá trình soạn thảo chưa lường hết được biến động của thực
tiễn, trình độ, năng lực của cán bộ tham gia soạn thảo văn bản còn hạn chế... Việc ký,
ban hành văn bản hành chính của một số đơn vị trực thuộc có trường hợp chưa phù hợp.
 Những thiết chế thị trường tiền tệ còn khá sơ khai, nhiều chỉ tiêu hoạt
động theo thông lệ quốc tế chưa được áp dụng - Đặc biệt là những chỉ tiêu về an toàn
vốn, về chất lượng tín dụng, về kế toán, kiểm toán và thanh tra.
 Hệ thống chính sách, pháp luật ngân hàng hiện nay còn góp phần tạo ra sự
phân biệt đối xử giữa các loại hình tổ chức tín dụng, giữa các nhóm ngân hàng và giữa
ngân hàng trong nước với ngân hàng nước ngoài, gây ra sự cạnh tranh thiếu lành mạnh.
Điều đó đặt ra thách thức phải sửa đổi tạo môi trường kinh doanh bình đẳng thông
thoáng theo nguyên tắc không phân biệt đối xử của WTO.
 Với những biến động trong môi trường pháp lý như một sự tất yếu thì đòi hỏi
các nhà quản trị ngân hàng phải thường xuyên cập nhật những sự thay đổi trong hệ thống
luật, từ đó đưa ra các chiến lược cụ thể cho hoạt động của ngân hàng để vừa đáp ứng
được sự thay đổi đó, đồng thời vừa tận dụng nó để đem lại lợi ích cho ngân hàng và
nâng cao năng lực cạnh tranh
 Cạnh tranh ngày càng khốc liệt.
Theo lộ trình gia nhập WTO từ 1/4/2007, các tổ chức tín dụng (TCTD) nước ngoài
được phép thành lập và hoạt động dưới hình thức 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam.
Sau lộ trình 5 năm gia nhập WTO các TCTD nước ngoài sẽ được hưởng các ưu đãi như
ngân hàng nội địa, đặc biệt, các TCTD nước ngoài cũng được phép thành lập công ty

đặc biệt trong các tổ chức dịch vụ có liên quan đến việc giao dịch trực tiếp đối với khách
hàng như ngân hàng, môi giới chứng khoán, khách sạn, nhà hàng v.v... Có thể nói, việc
phát triển và ứng dụng công nghệ hiện đại trong hoạt động ngân hàng đã tạo điều kiện
thức đẩy hoạt động kinh doanh của các NHTM tăng trưởng và phát triển, nâng cao hiệu
quả kinh doanh, năng lực cạnh tranh, thu hút nhiều khách hàng giao dịch và giảm các chi
phí liên quan.
Nhờ công nghệ các dịch vụ ngân hàng phát triển đa dạng và phong phú, cho đến
nay các tổ chức tín dụng đã triển khai và phát triển nhiều sản phẩm mới, đặc biệt là dịch
vụ ngân hàng điện tử: internet-banking, mobil-banking, phonebanking, dịch vụ thẻ,
thanh toán điện tử.
Như vậy, sự phát triển của công nghệ hiện đại cho phép các NHTM nâng cao năng
lực cạnh tranh, phát triển bền vững trong điều kiện hội nhập, khi mà các ngân hàng nước
ngoài đã đi trước và có bước phát triển nhanh mạnh về công nghệ và dịch vụ ngân hàng.
 Các nhà quản trị ngân hàng phải đặt yếu tố công nghệ là ưu tiên hàng đầu trong
chiến lược phát triển, mở rộng ngân hàng, thường xuyên học hỏi, tìm hiểu các công nghệ
Trang: 17
ngân hàng hiện đại, chú trọng đầu tư vào hệ thống công nghệ để ứng dụng trong ngân
hàng. Có như thế mới nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, cạnh tranh được với các
ngân hàng trong nước cũng như nước ngoài.
 Những xu hướng thay đổi gần đây trong hệ thống phân phối dịch vụ ngân hàng.
+ Trước đây tín dụng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của ngân hàng.
Nhưng hiện nay với sự phát triển của các kênh thu hút vốn khác như thị trường chứng
khoán, bảo hiểm, bất động sản...Nếu ngân hàng chỉ đơn thuần thực hiện dịch vụ huy
động vốn để cho vay thì chắc chắn lợi nhuận sẽ bị giảm sút, thị phần bị thu hẹp, và đến
một lúc nào đó sẽ bị phá sản. Cho nên việc các ngân hàng lấn sân kinh doanh các dịch vụ
khác là điều không tránh khỏi như bảo hiểm, cho vay trả góp, kinh doanh hàng hoá và
bất động sản...
+ Vì nhu cầu khác hàng ngày càng đa dạng và khắt khe hơn nên các ngân hàng
cũng phải không ngừng cải tiến, phát tiển sản phẩm, dịch vụ của mình cũng như không
ngừng tăng cường khả năng cung cấp cho các khách hàng doanh nghiệp những dịch vụ

 Xây dựng các qui chế quản lý và hoạt động phù hợp với chuẩn mực quốc tế như
quản trị rủi ro, quản trị nguồn vốn, kiểm tra kiểm toán nội bộ, xây dựng quy trình tín
dụng hiện đại và sổ tay tín dụng, xây dựng và hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá mức
độ chỉ số an toàn và hiệu quả kinh doanh ngân hàng phù hợp với chuẩn mực quốc tế và
thực tiễn Việt Nam.
 Tiếp tục mở cửa thị trường trong nước trên cơ sở xoá bỏ dần các giới hạn về số
lượng, loại hình tổ chức, phạm vi hoạt động, tỷ lệ góp vốn của nước ngoài, đảm bảo
quyền kinh doanh của các ngân hàng và tổ chức tài chính nước ngoài theo các cam kết
đa phương và song phương.
 Đổi mới mô hình tổ chức bộ máy của các Ngân hàng thương mại, trước hết là
Ngân hàng thương mại quốc doanh. Từng bước đổi mới cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, chức
năng của hệ thống NHNN nhằm nâng cao vai trò và hiệu quả điều hành vĩ mô của
NHNN, nhất là việc thiết lập, điều hành chính sách tiền tệ quốc gia và trong việc quản
lý, giám sát hoạt động của các trung gian tài chính. Trước hết, thực hiện tái cơ cấu lại hệ
thống ngân hàng theo các đề án đã được Chính phủ phê duyệt và phù hợp với các cam
kết với các tổ chức tài chính quốc tế, nhằm tạo ra các ngân hàng có quy mô lớn, hoạt
động an toàn, hiệu quả và có đủ sức cạnh tranh. Đây được coi là nhiệm vụ trọng tâm và
cấp bách của công cuộc đổi mới hệ thống ngân hàng – tài chính VN trong giai đoạn hiện
nay, bởi vì NHTM quốc doanh đóng vai trò chủ đạo và chủ lực trong hệ thống NHTM.
 Tăng quy mô về vốn cho các ngân hàng thông qua tích tụ và tập trung vốn.. theo
hướng:
(1) Tiến hành cổ phần hoá các NHTM nhà nước nhằm tận dụng các nguồn lực tài
chính trong dân chúng trong nước và nước ngoài. Trên cơ sở đó thay đổi mô hình quản
lý từ đó tạo sắc thái mới trong hoạt động kinh doanh.
Trang: 19
(2) Đẩy mạnh liên doanh liên kết trong hệ thống ngân hàng để tận dụng vốn và kỹ
thuật cũng như trình độ quản lý từ các nước tiên tiến trong khu vực và thế giới.
 Đẩy mạnh phát triển các dịch vụ ngân hàng, nhất là hệ thống thông tin quản lý
cho toàn hệ thống ngân hàng phục vụ công tác điều hành hoạt động kinh doanh, kiểm
soát hoạt động ngân hàng, quản lý vốn tài sản, quản lý rủi ro, quản lý công nợ và công

- Thứ nhất, đóng vai trò quan trọng trong việc đẩy lùi và kiềm chế lạm phát, từng
bước duy trì sự ổn định giá trị đồng tiền và tỷ giá, góp phần cải thiện kinh tế vĩ mô, môi
trường đầu tư và sản xuất kinh doanh.
- Thứ hai, góp phần thúc đẩy hoạt động đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh và
hoạt động xuất nhập khẩu. Dịch vụ ngân hàng cũng phát triển cả về chất lượng và chủng
loại, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh;
- Thứ ba, tín dụng ngân hàng đã đóng góp tích cực cho việc duy trì sự tăng
trưởng kinh tế với nhịp độ cao trong nhiều năm liên tục. Với dư nợ cho vay nền kinh tế
chiếm khoảng 35-37% GDP, mỗi năm hệ thống ngân hàng đóng góp trên 10% tổng mức
tăng trưởng kinh tế của cả nước;
(Nguồn: Báo cáo thường niên của ngân hàng Nhà Nước Việt Nam)
- Thứ tư, đã hỗ trợ có hiệu quả trong việc tạo việc làm mới và thu hút lao động,
góp phần cải thiện thu nhập và giảm nghèo bền vững. Thông qua nguồn vốn tín dụng
cho các chương trình và dự án phát triển sản xuất kinh doanh, hàng năm hệ thống ngân
hàng đã góp phần tạo thêm được nhiều việc làm mới, nhất là tại các vùng nông thôn.
- Thứ năm, góp phần tích cực vào việc bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo phát
triển bền vững.
2.2.2 Quá trình phát triển hệ thống ngân hàng Á Châu:
2.2.2.1 Lịch sử hình thành ngân hàng.
Pháp lệnh về Ngân hàng Nhà Nước và pháp lệnh về Ngân hàng thương mại, hợp
tác xã tín dụng và công ty tài chính được ban hành vào tháng 5/1990, đã tạo dựng một
Trang: 21
khung pháp lý cho hoạt động Ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Trong bối cảnh đó,
Ngân hàng TMCP Á Châu đã được thành lập theo giấy phép số 0032/NH-GP do NHNN
cấp ngày 24/04/1993, Giấy phép số 533/GP-UB do Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí
Minh cấp ngày 13/05/1993. Ngày 04/06/1993, ACB chính thức đi vào hoạt động.
Vốn điều lệ ban đầu là 20 tỷ đồng cho thời hạn hoạt động 50 năm.
+ Hội sở chính: 442 Nguyễn Thị Minh Khai - Quận 3 – TP Hồ Chí Minh
+ Tên giao dịch: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu.
+ Tên nước ngoài: Asia-Commercial-Bank (gọi tắt là ACB).

ngân hàng cung cấp sản phẩm dịch vụ ngân hàng phong phú nhất, dựa trên nền công
nghệ thông tin hiện đại. ACB vừa tăng trưởng nhanh vừa thực hiện quản lý rủi ro hiệu
quả. Trong môi trường kinh doanh nhiều khó khăn thử thách, ACB luôn giữ vững vị thế
của một ngân hàng bán lẻ hàng đầu.
 Nhìn nhận và đánh giá của xã hội.
- Năm 2002 ACB được Giải thưởng Chất lượng Việt Nam do Hội đồng xét duyệt
Quốc gia xét cấp.
- Năm 2002 nhận Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ về thành tích nâng cao
chất lượng hoạt động sản xuất, kinh doanh ổn định, và nâng cao chất lượng sản
phẩm dịch vụ.
- Năm 2006 ACB là NHTMCP duy nhất nhận Bằng khen của Thủ tướng Chính
phủ trong việc đẩy mạnh ứng dụng phát triển công nghệ thông tin, góp phần vào
sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.
- Cũng trong năm 2006 này, ACB vinh dự được Chủ tịch nước CHXHCN Việt
Nam trao tặng Huân chương lao động hạng III.
 Nhìn nhận và đánh giá của khách hàng.
Tốc độ tăng trưởng cao của ACB trong cả huy động và cho vay cũng như số lượng
khách hàng suốt hơn 13 năm qua là một minh chứng rõ nét nhất về sự ghi nhận và tin
cậy của khách hàng dành cho ACB. Đây chính là cơ sở và tiền đề cho sự phát triển của
ACB trong tương lai.
 Nhìn nhận và đánh giá của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Kể từ khi NHNN ban hành Quy chế xếp hạng các tổ chức tín dụng cổ phần (năm
1998), một quy chế áp dụng theo chuẩn mực quốc tế CAMEL để đánh giá tính vững
mạnh của một ngân hàng, thì liên tục tám năm qua ACB luôn luôn xếp hạng A. Hơn nữa,
ACB luôn duy trì tỷ lệ an toàn vốn trên 8%. Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là 8% được quy
định trong Thỏa ước Basel I của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS - Bank for
Trang: 23
International Settlements) mà NHNN áp dụng. Đặc biệt là tỷ lệ nợ quá hạn trong những
năm qua luôn dưới 1%, cho thấy tính chất an toàn và hiệu quả của ACB.
2.2.3 Cơ cấu tổ chức.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status