CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP KHOA: KHOA HỌC QUẢN LÝ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA: KHOA HỌC QUẢN LÝ
CHUYÊN ĐỀ
THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Đề tài:
Một số giải pháp quản lý nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh
của thuỷ sản Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Mỹ
Giáo viên hướng dẫn: PGS. TS. Lê Thị Anh Vân
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hường
Lớp: Quản Lý Kinh Tế 44 B
Hà Nội – Tháng 04/ 2006
Svth: Nguyễn Thị Hường - Lớp Quản Lý Kinh Tế 44B
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
LỜI MỞ ĐẦU
Bước sang năm 2006, những niềm hy vọng đan xen với nỗi lo ngại
đang dấy lên trong mỗi người, mỗi doanh nghiệp cùng với thời điểm gia nhập
WTO đang xích lại gần. Gia nhập WTO, Việt Nam sẽ hội nhập thực sự vào
những cơn lốc của cạnh tranh, diễn ra không chỉ ở thị trường nước ngoài, mà
ngay cả trên sân nhà.
Quá trình toàn cầu hoá đã và đang đặt ra bao cơ hội và thách thức cho
từng con người, từng DN. Cơ hội lớn và thách thức cũng rất lớn. Nhưng cơ
hội không tự biến thành hiện thực, nếu con người không hành động. Hành
động lại phải hợp quy luật, cùng chiều vận động của dòng chảy lịch sử văn
minh nhân loại. Quá trình chuyển động đó lại được quyết định bởi năng lực
của mỗi người, mỗi DN, mỗi cộng đồng và nói rộng ra là mỗi dân tộc.
Chuẩn mực cao nhất để tồn tại trong hội nhập kinh tế quốc tế chính là
năng lực cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh của cá nhân, từng DN, cộng đồng và
dân tộc quyết định sự phát triển của cá nhân, DN, cộng đồng và dân tộc ấy
trong thời đại toàn cầu hoá. Nhưng công cuộc cạnh tranh không chỉ diễn ra ở
quy mô từng DN, mà chủ yếu ở mỗi ngành kinh tế, trên phạm vi quốc gia. Các
GVHD: PGS.TS. LÊ THỊ ANH VÂN.
3
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
PHẦN 2: NỘI DUNG
Chương I:
TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NĂNG LỰC
CẠNH TRANH VÀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU
THUỶ SẢN VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG MỸ
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
1. Khái niệm cạnh tranh:
Cạnh tranh thể hiện ở sự đua tranh giữa các thực thể khác nhau (mà ở
đây là các doanh nghiệp, quốc gia) nhằm đạt được cùng một hay nhiều mục
tiêu đặt ra (bao gồm mục tiêu kinh tế, chính trị).
Cạnh tranh mang tính khách quan, vừa là động lực tự thân của kinh tế
thị trường, thiếu cạnh tranh tức là thiếu động lực phát triển. Nếu đã định
hướng phát triển kinh tế thị trường…, nhưng không thừa nhận cạnh tranh,
ngại cạnh tranh, không tạo điều kiện cho cạnh tranh thì định hướng vẫn mãi
chỉ là định hướng. Tác động phân hoá của cạnh tranh sẽ dẫn đến loại bỏ sự
yếu kém, trì trệ, thúc đẩy năng động trong sản xuất, kinh doanh không được
khai thông.
2. Khái niệm năng lực cạnh tranh
2.1. Năng lực cạnh tranh:
Năng lực cạnh tranh (hay khả năng cạnh tranh) của doanh nghiệp được
đánh giá qua năng lực cạnh tranh của các hàng hoá và dịch vụ mà doanh
nghiệp đó cung cấp cho thị trường
Đánh giá năng lực cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ một doanh
nghiệp tạo ra phải căn cứ vào khả năng đứng vững của hàng hóa đó trên thị
trường (bao gồm thị trường trong và ngoài nước) trước sự cạnh tranh quyết
Svth: Nguy
GVHD: PGS.TS. LÊ THỊ ANH VÂN.
cạnh tranh cao nhất là may mặc và da giày, tuy nhiên chủ yếu là được xuất
khẩu ra thị trường nước ngoài dưới thương hiệu của nước ngoài.
3. Nhân tố ảnh hưởng tới nâng cao năng lực cạnh tranh
1
Trích từ Xvier-I-Martin, 2003. World Economic Forum, p.14
2
Nguồn: http:// www.vnexpress.net.
Svth: Nguy
GVHD: PGS.TS. LÊ THỊ ANH VÂN.
5
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
3.1. Các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp
3
:
Trong dài hạn, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phụ thuộc vào
biến động của các chi phí đầu vào như chi phí về lao động, chi phí tài sản cố
định…
* Chi phí về lao động:
Lao động Việt Nam thừa về số lượng, nhưng thiếu và yếu về chất
lượng, năng suất lao động thấp. So với các nước trong khu vực, năng suất lao
động ngành thuỷ sản Việt Nam chỉ bằng khoảng 90-95% năng suất lao động
của Thái Lan. Ưu thế về lao động rẻ của Việt Nam đang mất dần. Giá nhân
công của 2 ngành có năng lực cạnh tranh tốt nhất (dệt may và da giày) hiện
đang bằng và cao hơn một số các nước khác trong khu vực. Để đào tạo nghề,
nâng cao kỹ năng, trình độ, ý thức nhiệt tình, tinh thần hợp tác, cần có chi phí
đầu tư lớn, và như thế, giá thành tiếp tục tăng lên. Vì vậy đây thực sự là một
nhân tố có ảnh hưởng lớn tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
* Chi phí về tài sản cố định:
Trong nhiều doanh nghiệp chi phí về tài sản cố định đang và sẽ chiếm
tỷ lệ lớn trong giá trị của các hàng hoá và dịch vụ. Có thể thấy điều này qua
tâm lý, xã hội.
3.2. Môi trường cạnh tranh của các doanh nghiệp:
Có thể nói cho đến nay, môi trường cạnh tranh của các doanh nghiệp
Việt Nam vẫn đang trì trệ, có không ít các yếu tố gây cản ngại cho cạnh tranh
xét về mọi mặt, cả môi trường kinh tế lẫn môi trường hành chính – pháp lý và
môi trường xã hội.
* Môi trường kinh tế:
Nói đến cạnh tranh phải có đối thủ, đối thủ cạnh tranh ngày càng nhiều,
và nếu không có sự phân biệt đối xử (như sự ưu ái hay hạn chế về quyền lợi
và nghĩa vụ cho một số đối tượng) thì mặt bằng cạnh tranh được đảm bảo và
mức độ cạnh tranh sẽ càng cao.
* Môi trường hành chính – pháp lý:
Luật Doanh nghiệp sau quá trình sửa đổi, lần đầu tiên đã thể chế hoá
quyền tự do kinh doanh của công dân, của doanh nghiệp. Họ được kinh doanh
trên tất cả các ngành nghề mà pháp luật không cấm. Điều đó đã có tác dụng
Svth: Nguy
GVHD: PGS.TS. LÊ THỊ ANH VÂN.
7
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
quan trọng trong việc dỡ bỏ hàng rào mang tính hành chính đối với việc gia
nhập thị trường của doanh nghiệp. Tuy nhiên, tình trạng lạm phát giấy phép,
thủ tục, các loại phí đã khiến cho các doanh nghiệp trong quá trình khởi sự và
thực hiện dự án kinh doanh phải tiêu phí them khá nhiều thời gian, tiền của.
* Môi trường xã hội:
Nói chung, môi trường xã hội của cạnh tranh đã có được những cải
thiện đáng kể so với 10 năm trước đây, song vẫn còn chứa đựng những bất
cập, trái chiều, gây trở ngại không nhỏ cho cạnh tranh. Có thể thấy rõ điều
này trong việc tiếp nhận thông tin về lộ trình hội nhập. Trong khi nhiều
phương tiện thông tin đại chúng đã ráo riết tuyên truyền về hội nhập, Chính
phủ đã có chương trình quốc gia về hội nhập giao nhiệm vụ cụ thể tới các bộ,
muốn tồn tại thì phải đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu về chất lượng sản
phẩm. Hơn nữa đây thực sự là con đường bền vững và hiệu quả để phát triển
trong tương lai.
4.3. Tính linh hoạt của hệ thống phân phối và sức mạnh của thương hiệu:
Một doanh nghiệp sản xuất ra hàng hoá với giá cả cạnh tranh, chất
lượng tương đối tốt nhưng không có một hệ thống phân phối tốt, thì người
tiêu dùng cũng không thể biết tới sự tồn tại của doanh nghiệp đó trên thị
trường, cũng như sản phẩm của họ tốt ra sao. Do đó, một hệ thống phân phối
linh hoạt cộng với một thương hiệu mạnh thực sự là một chiếc cầu nối lớn
giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng. Đồng thời cũng là yếu tố làm tăng năng
lực cạnh tranh của sản phẩm.
II. LÝ LUẬN CHUNG VỀ VẤN ĐỀ XUẤT KHẨU
1. Khái niệm xuất khẩu:
Xuất khẩu là hoạt động thương mại giữa một nước với một nước (hoặc
khu vực) khác.
Về bản chất xuất khẩu là một trong hai mảng chính (hoạt động chính)
của thương mại quốc tế là nhập khẩu và xuất khẩu. Hàng hoá trong thương
mại quốc tế không chỉ dưới dạng hàng hoá hữu hình mà còn là hang hoá vô
Svth: Nguy
GVHD: PGS.TS. LÊ THỊ ANH VÂN.
9
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
hình và chất xám. Tổng giá trị thương mại quốc tế của một quốc gia bằng
tổng giá trị nhập khẩu và xuất khẩu của quốc gia đó.
2. Quản lý xuất khẩu
2.1. Khái niệm:
Quản lý xuất khẩu là sự quản lý của Nhà nước bằng hệ thống các công
cụ thích hợp mà Nhà nước áp dụng để điều chỉnh các hoạt động xuất nhập
khẩu của một quốc gia trong mỗi thời kỳ nhất định nhằm đạt được các mục
tiêu đã định trong chiến lược xuất khẩu nói riêng và chiến lược phát triển kinh