Một số giải pháp quản lý nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh của thuỷ sản Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Mỹ - Pdf 28

Website: Email : Tel : 0918.775.368
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA: KHOA HỌC QUẢN LÝ
CHUYÊN ĐỀ
THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Đề tài:
Một số giải pháp quản lý nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh
của thuỷ sản Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Mỹ
Giáo viên hướng dẫn: PGS. TS. Lê Thị Anh Vân
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hường
Lớp: Quản Lý Kinh Tế 44 B
Hà Nội – Tháng 04/ 2006
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
LỜI MỞ ĐẦU
Bước sang năm 2006, những niềm hy vọng đan xen với nỗi lo ngại
đang dấy lên trong mỗi người, mỗi doanh nghiệp cùng với thời điểm gia nhập
WTO đang xích lại gần. Gia nhập WTO, Việt Nam sẽ hội nhập thực sự vào
những cơn lốc của cạnh tranh, diễn ra không chỉ ở thị trường nước ngoài, mà
ngay cả trên sân nhà.
Quá trình toàn cầu hoá đã và đang đặt ra bao cơ hội và thách thức cho
từng con người, từng DN. Cơ hội lớn và thách thức cũng rất lớn. Nhưng cơ
hội không tự biến thành hiện thực, nếu con người không hành động. Hành
động lại phải hợp quy luật, cùng chiều vận động của dòng chảy lịch sử văn
minh nhân loại. Quá trình chuyển động đó lại được quyết định bởi năng lực
của mỗi người, mỗi DN, mỗi cộng đồng và nói rộng ra là mỗi dân tộc.
Chuẩn mực cao nhất để tồn tại trong hội nhập kinh tế quốc tế chính là
năng lực cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh của cá nhân, từng DN, cộng đồng và
dân tộc quyết định sự phát triển của cá nhân, DN, cộng đồng và dân tộc ấy
trong thời đại toàn cầu hoá. Nhưng công cuộc cạnh tranh không chỉ diễn ra ở
quy mô từng DN, mà chủ yếu ở mỗi ngành kinh tế, trên phạm vi quốc gia. Các

GVHD: PGS.TS. LÊ THỊ ANH VÂN.
3
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
PHẦN 2: NỘI DUNG
Chương I:
TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NĂNG LỰC
CẠNH TRANH VÀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU
THUỶ SẢN VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG MỸ
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
1. Khái niệm cạnh tranh:
Cạnh tranh thể hiện ở sự đua tranh giữa các thực thể khác nhau (mà ở
đây là các doanh nghiệp, quốc gia) nhằm đạt được cùng một hay nhiều mục
tiêu đặt ra (bao gồm mục tiêu kinh tế, chính trị).
Cạnh tranh mang tính khách quan, vừa là động lực tự thân của kinh tế
thị trường, thiếu cạnh tranh tức là thiếu động lực phát triển. Nếu đã định
hướng phát triển kinh tế thị trường…, nhưng không thừa nhận cạnh tranh,
ngại cạnh tranh, không tạo điều kiện cho cạnh tranh thì định hướng vẫn mãi
chỉ là định hướng. Tác động phân hoá của cạnh tranh sẽ dẫn đến loại bỏ sự
yếu kém, trì trệ, thúc đẩy năng động trong sản xuất, kinh doanh không được
khai thông.
2. Khái niệm năng lực cạnh tranh
2.1. Năng lực cạnh tranh:
Năng lực cạnh tranh (hay khả năng cạnh tranh) của doanh nghiệp được
đánh giá qua năng lực cạnh tranh của các hàng hoá và dịch vụ mà doanh
nghiệp đó cung cấp cho thị trường
Đánh giá năng lực cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ một doanh
nghiệp tạo ra phải căn cứ vào khả năng đứng vững của hàng hóa đó trên thị
trường (bao gồm thị trường trong và ngoài nước) trước sự cạnh tranh quyết
Svth: Nguy
GVHD: PGS.TS. LÊ THỊ ANH VÂN.

cạnh tranh cao nhất là may mặc và da giày, tuy nhiên chủ yếu là được xuất
khẩu ra thị trường nước ngoài dưới thương hiệu của nước ngoài.
3. Nhân tố ảnh hưởng tới nâng cao năng lực cạnh tranh
1
Trích từ Xvier-I-Martin, 2003. World Economic Forum, p.14
2
Nguồn: http:// www.vnexpress.net.
Svth: Nguy
GVHD: PGS.TS. LÊ THỊ ANH VÂN.
5
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
3.1. Các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp
3
:
Trong dài hạn, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phụ thuộc vào
biến động của các chi phí đầu vào như chi phí về lao động, chi phí tài sản cố
định…
* Chi phí về lao động:
Lao động Việt Nam thừa về số lượng, nhưng thiếu và yếu về chất
lượng, năng suất lao động thấp. So với các nước trong khu vực, năng suất lao
động ngành thuỷ sản Việt Nam chỉ bằng khoảng 90-95% năng suất lao động
của Thái Lan. Ưu thế về lao động rẻ của Việt Nam đang mất dần. Giá nhân
công của 2 ngành có năng lực cạnh tranh tốt nhất (dệt may và da giày) hiện
đang bằng và cao hơn một số các nước khác trong khu vực. Để đào tạo nghề,
nâng cao kỹ năng, trình độ, ý thức nhiệt tình, tinh thần hợp tác, cần có chi phí
đầu tư lớn, và như thế, giá thành tiếp tục tăng lên. Vì vậy đây thực sự là một
nhân tố có ảnh hưởng lớn tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
* Chi phí về tài sản cố định:
Trong nhiều doanh nghiệp chi phí về tài sản cố định đang và sẽ chiếm
tỷ lệ lớn trong giá trị của các hàng hoá và dịch vụ. Có thể thấy điều này qua

tâm lý, xã hội.
3.2. Môi trường cạnh tranh của các doanh nghiệp:
Có thể nói cho đến nay, môi trường cạnh tranh của các doanh nghiệp
Việt Nam vẫn đang trì trệ, có không ít các yếu tố gây cản ngại cho cạnh tranh
xét về mọi mặt, cả môi trường kinh tế lẫn môi trường hành chính – pháp lý và
môi trường xã hội.
* Môi trường kinh tế:
Nói đến cạnh tranh phải có đối thủ, đối thủ cạnh tranh ngày càng nhiều,
và nếu không có sự phân biệt đối xử (như sự ưu ái hay hạn chế về quyền lợi
và nghĩa vụ cho một số đối tượng) thì mặt bằng cạnh tranh được đảm bảo và
mức độ cạnh tranh sẽ càng cao.
* Môi trường hành chính – pháp lý:
Luật Doanh nghiệp sau quá trình sửa đổi, lần đầu tiên đã thể chế hoá
quyền tự do kinh doanh của công dân, của doanh nghiệp. Họ được kinh doanh
trên tất cả các ngành nghề mà pháp luật không cấm. Điều đó đã có tác dụng
Svth: Nguy
GVHD: PGS.TS. LÊ THỊ ANH VÂN.
7
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
quan trọng trong việc dỡ bỏ hàng rào mang tính hành chính đối với việc gia
nhập thị trường của doanh nghiệp. Tuy nhiên, tình trạng lạm phát giấy phép,
thủ tục, các loại phí đã khiến cho các doanh nghiệp trong quá trình khởi sự và
thực hiện dự án kinh doanh phải tiêu phí them khá nhiều thời gian, tiền của.
* Môi trường xã hội:
Nói chung, môi trường xã hội của cạnh tranh đã có được những cải
thiện đáng kể so với 10 năm trước đây, song vẫn còn chứa đựng những bất
cập, trái chiều, gây trở ngại không nhỏ cho cạnh tranh. Có thể thấy rõ điều
này trong việc tiếp nhận thông tin về lộ trình hội nhập. Trong khi nhiều
phương tiện thông tin đại chúng đã ráo riết tuyên truyền về hội nhập, Chính
phủ đã có chương trình quốc gia về hội nhập giao nhiệm vụ cụ thể tới các bộ,

muốn tồn tại thì phải đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu về chất lượng sản
phẩm. Hơn nữa đây thực sự là con đường bền vững và hiệu quả để phát triển
trong tương lai.
4.3. Tính linh hoạt của hệ thống phân phối và sức mạnh của thương hiệu:
Một doanh nghiệp sản xuất ra hàng hoá với giá cả cạnh tranh, chất
lượng tương đối tốt nhưng không có một hệ thống phân phối tốt, thì người
tiêu dùng cũng không thể biết tới sự tồn tại của doanh nghiệp đó trên thị
trường, cũng như sản phẩm của họ tốt ra sao. Do đó, một hệ thống phân phối
linh hoạt cộng với một thương hiệu mạnh thực sự là một chiếc cầu nối lớn
giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng. Đồng thời cũng là yếu tố làm tăng năng
lực cạnh tranh của sản phẩm.
II. LÝ LUẬN CHUNG VỀ VẤN ĐỀ XUẤT KHẨU
1. Khái niệm xuất khẩu:
Xuất khẩu là hoạt động thương mại giữa một nước với một nước (hoặc
khu vực) khác.
Về bản chất xuất khẩu là một trong hai mảng chính (hoạt động chính)
của thương mại quốc tế là nhập khẩu và xuất khẩu. Hàng hoá trong thương
mại quốc tế không chỉ dưới dạng hàng hoá hữu hình mà còn là hang hoá vô
Svth: Nguy
GVHD: PGS.TS. LÊ THỊ ANH VÂN.
9
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
hình và chất xám. Tổng giá trị thương mại quốc tế của một quốc gia bằng
tổng giá trị nhập khẩu và xuất khẩu của quốc gia đó.
2. Quản lý xuất khẩu
2.1. Khái niệm:
Quản lý xuất khẩu là sự quản lý của Nhà nước bằng hệ thống các công
cụ thích hợp mà Nhà nước áp dụng để điều chỉnh các hoạt động xuất nhập
khẩu của một quốc gia trong mỗi thời kỳ nhất định nhằm đạt được các mục
tiêu đã định trong chiến lược xuất khẩu nói riêng và chiến lược phát triển kinh

- Cấm hẳn nhập khẩu hoặc xuất khẩu một số loại hàng hoá nào đó.
- Trợ cấp xuất khẩu: Được thực hiện dưới hai hình thức:
+ Trợ cấp xuất khẩu trực tiếp hoặc cho vay với lãi suất thấp đối với các nhà
sản xuất trong nước có hàng hoá xuất khẩu.
+ Cho vay ưu đãi đối với các bạn hàng nước ngoài để mua sản phẩm của
mình.
- Bán phá giá nhằm mục tiêu xâm nhập mạnh mẽ vào thị trường nào đó và
đánh bại các đối thủ cạnh tranh.
- Bán phá giá hối đoái.
3. Vai trò của xuất khẩu
Xuất khẩu là hoạt động quan trọng đối với một quốc gia, đối với sự
phát triển của kinh tế quốc dân, là động lực kinh tế của quốc gia, điều tiết
cung cầu thị trường trong nước.
Hoạt động xuất khẩu cùng với hoạt động nhập khẩu có vai trò quan
trọng trong việc đảm bảo cân bằng cán cân thương mại quốc tế, và quốc gia.
Svth: Nguy
GVHD: PGS.TS. LÊ THỊ ANH VÂN.
11
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
Điều chỉnh cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu sao cho phù hợp với mục tiêu
phát triển của Nhà nước.
Hoạt động xuất nhập khẩu tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước
mở rộng thị trường ra nước ngoài nhằm tăng nhanh quy mô xuất khẩu và tăng
khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới.
Hoạt động xuất khẩu cũng góp phần bảo vệ thị trường trong nước trước
sự xâm nhập ngày càng mạnh mẽ của các hàng hoá và dịch vụ nước ngoài.
III. XUẤT KHẨU THUỶ SẢN VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG MỸ
1. Đặc điểm thị trường Mỹ
1.1. Mỹ - thị trường có sức mua lớn nhất, tự do nhất
Với thu nhập bình quân đầu người hằng năm vào khoảng 36.200

khẩu.
1.3. Thị trường có tính cạnh tranh cao
Thị trường Mỹ được đánh giá là thị trường có tính cạnh tranh cao. Tính
cạnh tranh của thị trường Mỹ xuất phát từ các đối thủ cạnh tranh có mặt trên
thị trường Mỹ. Trước hết là cạnh tranh giữa các đối thủ trong ngành không
chỉ bao gồm các nhà xuất khẩu đều là các đại gia xuất khẩu của thế giới nhất
là trong lĩnh vực xuất khẩu thuỷ sản vào thị trường Mỹ như: Thái Lan, Trung
Quốc, Ấn Độ…, mà còn bao gồm các nhà sản xuất nội địa được sự bảo hộ
mạnh mẽ của Nhà nước; thứ hai là cạnh tranh từ các sản phẩm thay thế như:
thịt bò, thịt lợn, gia cầm, trứng…; thứ ba là cạnh tranh trong hệ thống phân
phối; thứ tư là quyền lực của khách hàng - những nhà nhập khẩu…
1.4. Đặc điểm về luật pháp và những rào cản kỹ thuật
Để vào được thị trường Mỹ các doanh nghiệp không những phải nắm
bắt nhu cầu thị trường, thị hiếu của người tiêu dùng và đảm bảo sản phẩm có
Svth: Nguy
GVHD: PGS.TS. LÊ THỊ ANH VÂN.
13
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
sức cạnh tranh về chất lượng và giá cả mà điều quan trọng không kém là phải
thông thạo hệ thống luật pháp của Mỹ, nắm được hệ thống quản lý xuất nhập
khẩu. Sở dĩ, là vì hệ thống pháp luật của Mỹ vô cùng rắc rối, phức tạp và chặt
chẽ. Ngoài hệ thống luật pháp liên bang thì mỗi bang lại có một sự khác biệt
rất đáng kể về luật lệ. Tổng cộng tại 50 bang của Hoa Kỳ có tới trên 2700
chính quyền địa phương các cấp, các cơ quan này đều có những quy định
riêng của họ. Các yêu cầu này thường không thống nhất với nhau. Vì vậy,
không thể tuỳ tiện áp dụng quy định của bang này ở một bang khác.
Đối với Việt Nam hàng rào thuế quan và những rào cản thương mại
thực sự là yếu tố làm giảm tính cạnh tranh và hiệu quả xuất khẩu của sản
phẩm sang thị trường Mỹ.
1.5. Đặc điểm về văn hoá và con người Mỹ

o
23' Bắc đến 21
o
39' Bắc. Diện tích vùng nội thuỷ và lãnh hải
của Việt Nam rộng 226.000 km
2
và Vùng biển đặc quyền kinh tế trên 1 triệu
km
2
, rộng gấp 3 lần diện tích đất liền. Với 12 đầm phá và các eo vịnh, 112 cửa
sông, lạch, hàng ngàn đảo lớn nhỏ ven biển. Trong nội địa hệ thống sông
ngòi, kênh rạch chằng chịt và các hồ thủy lợi, thủy điện, đã tạo cho nước ta có
tiềm năng lớn về mặt nước với khoảng 1.700.000 ha. Chưa kể mặt nước các
sông và khoảng 300.000 - 400.000 ha, eo, vịnh, đầm phá ven biển có thể sử
dụng vào nuôi trồng thủy sản chưa được quy hoạch. Thêm vào đó là hơn 4000
đảo lớn nhỏ, hứa hẹn một tiềm năng nguồn lợi thuỷ sản lớn.
b) Nguồn lợi giống loài thuỷ sản.
- Nguồn lợi cá nước ngọt: Ðã thống kê được 544 loài trong 18 bộ, 57 họ, 228
giống. Với thành phần giống loài phong phú nước ta được đánh giá có đa
dạng sinh học cao. Trong 544 loài có nhiều loài có giá trị kinh tế.
- Nguồn lợi cá nước lợ, mặn: Ðã thống kê 186 loài chủ yếu. Một số loài có giá
trị kinh tế như: cá song, cá hồng, cá tráp, cá vược, cá măng, cá cam, cá bống,
Svth: Nguy
GVHD: PGS.TS. LÊ THỊ ANH VÂN.
15
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
cá bớp, cá đối, cá dìa. Trong đó đã đưa vào nuôi: cá vược, cá giò, cá song, cá
măng, cá cam....
- Nguồn lợi tôm: Ðã thống kê được 16 loài chủ yếu có giá trị kinh tế và đưa
vào nuôi: tôm sú (P.monodon), tôm lớt (P.merguiensis), tôm he ẤN ĐỘ

2.3. Thực trạng đội tàu khai thác và lao động nghề cá
a) Năng lực tàu thuyền khai thác hải sản.
 Số lượng
Qua 10 năm đổi mới, năng lực tàu thuyền khai thác hải sản đã phát triển
nhanh. Năm 1986, toàn ngành thuỷ sản có 31.680 tàu thuyền máy với tổng
công suất 537.500 CV, 29.000 phương tiện thủ công bao gồm bè mảng và
thuyền gỗ từ 1 - 3 tấn/chiếc. Ðến nay số tàu thuyền có 72 nghìn chiếc tàu
thuyền máy với tổng công suất 2,5 triệu CV và 29 nghìn thuyền thủ công.
 Cơ cấu
- Cỡ loại tàu : Loại từ 90 CV trở lên hiện có khoảng 6.000 chiếc, đây được
xem là đội tàu khai thác hải sản xa bờ.
Trong số tàu thuyền máy có công suất dưới 90CV thì loại từ 45CV trở
xuống chiếm khoảng 85% số lượng. Trong số tàu có công suất từ 45CV trở
lên chỉ có khoảng 33% có máy định vị, 21% có máy dò cá; 63% có máy bộ
đàm, 12,5% có máy thông tin liên lạc tầm xa. Phần lớn tàu thuyền thiếu
phương tiện thông tin liên lạc, phao cứu sinh và phương tiện an toàn hàng hải
nên chỉ có khả năng đánh bắt vùng gần bờ.
- Cơ cấu nghề đánh bắt: Nghề nghiệp khai thác ở nước ta rất đa dạng
phong phú về quy mô cũng như tên gọi. Theo thống kê chưa đầy đủ, có trên
20 loại nghề khác nhau, được xếp vào 6 họ nghề chủ yếu:
- Nghề lưới kéo khoảng 34,2% số lượng tàu khai thác hải sản.
- Nghề lưới vây chiếm 21,1% số lượng tàu khai thác hải sản.
Svth: Nguy
GVHD: PGS.TS. LÊ THỊ ANH VÂN.
17
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
- Nghề lưới rê chiếm 20,4% số lượng tàu khai thác hải sản.
- Nghề mành vó chiếm 5% số lượng tàu khai thác hải sản.
- Nghề câu 17,3% số lượng tàu khai thác hải sản.
- Nghề khác chiếm 2% số lượng tàu khai thác hải sản.

ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Mỹ đạt 6,4 tỷ USD, xuất khẩu của
Việt Nam đã đạt 5,2 tỷ USD. Dự kiến xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ sẽ
còn tiếp tục tăng nhanh trong thời gian tới. Tính đến nay, Hoa Kỳ đã có 259
dự án đầu tư tại Việt Nam với tổng trị giá là 2 tỷ USD, đứng thứ 11 trong tổng
số các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Điều đó chứng tỏ quan hệ thương
mại giữa Việt Nam và Mỹ ngày càng phát triển, hàng hoá Việt Nam có khả
năng cạnh tranh tại thị trường Mỹ.
Bên cạnh đó thị trường Mỹ cũng được đánh giá là một thị trường rộng
lớn nhưng cũng rất khó tính và cạnh tranh gay gắt. Vì vậy, để từng bước gia
nhập và khẳng định vị trí trên thị trường Hoa Kỳ, các doanh nghiệp Việt Nam
cần lưu ý tìm hiểu kỹ đối tác, luật lệ cũng như tập quán kinh doanh của thị
trường.
Trong thời gian qua hàng hoá Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Mỹ
cũng là do các doanh nghiệp Việt Nam trực tiếp xuất khẩu với các thị trường
Mỹ, kể cả qua trung gian là ở các công ty Mỹ, các nhà bán buôn như Tracy...
Các doanh nghiệp Việt kiều cũng đóng vai trò nhất định trong việc đưa hàng
hoá Việt Nam vào Mỹ. Trong nhiều năm qua, nhiều doanh nghiệp kiều bào đã
trực tiếp tham gia, hoặc tích cực phối hợp, hỗ trợ các doanh nghiệp trong
nước trong các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá hay cung ứng dịch vụ giữa
Việt Nam và Hoa Kỳ. Hy vọng trong thời gian tới, với số lượng đông đảo
Việt kiều và các doanh nghiệp kiều bào tại Mỹ có thể đưa hoặc quảng bá hàng
hoá Việt Nam sang xuất khẩu tại thị trường Mỹ.
Svth: Nguy
GVHD: PGS.TS. LÊ THỊ ANH VÂN.
19
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
Bên cạnh đó, việc Việt Nam sắp gia nhập WTO cũng sẽ đem lại cho
kinh tế thuỷ sản Việt Nam những cơ hội, nhưng cũng không ít thách thức. Về
cơ hội, và thuận lợi thể hiện như sau:
1- Thuỷ sản sớm phát triển theo định hướng thị trường và hội nhập kinh

một số doanh nghiệp chưa thành công, nhất là doanh nghiệp thuỷ sản trong vụ
kiện bán phá giá cá, tôm nên các doanh nghiệp Việt Nam muốn thâm nhập
vào thị trường Mỹ phải nghiên cứu rất rõ, nhất là hệ thống luật pháp, thương
mại của Mỹ và phải có chiến lược kinh doanh sản phẩm của mình vào thị
trường Mỹ.
Các doanh nghiệp ở Việt Nam chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa,
lượng hàng hoá rất hạn chế trong khi Mỹ là một thị trường rất rộng lớn.
Chúng ta thâm nhập thị trường Mỹ phải đảm bảo có hàng hoá chất lượng, giá
thành cạnh tranh, mẫu mã phù hợp với người tiêu dùng và nhất là số lượng
phải đảm bảo khi các nhà cung cấp yêu cầu. Do đó, các doanh nghiệp Việt
Nam cần phải tích cực thông qua các hoạt động xây dựng thương hiệu, quảng
bá xúc tiến để thâm nhập thị trường Mỹ một cách hiệu quả.
Một vấn đề cũng rất quan trọng khác cần phải quan tâm khi các doanh
nghiệp Việt Nam muốn xâm nhập mạnh vào thị trường Mỹ, đồng thời cạnh
tranh được với các nhà sản xuất khác là vấn đề chống bán phá giá (dumping).
Đây là vấn đề không chỉ xảy ra đối với riêng Việt Nam, mà Trung Quốc và
một số nước khác cũng gặp phải. Do đó các doanh nghiệp Việt Nam phải
nghiên cứu rất kỹ hệ thống luật pháp, khi chuẩn bị có vấn đề phá giá thì phải
thông qua các Hiệp hội doanh nghiệp, Hiệp hội ngành hàng để cùng với các
luật sư của Mỹ nghiên cứu kỹ các hệ thống luật pháp nhằm chống lại việc
này. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng phải cải tiến công nghệ đảm bảo an
toàn vệ sinh thực phẩm, dư lượng kháng sinh, hàng hoá đảm bảo yêu cầu về
nhãn mác, truy xuất nguồn gốc, bao bì để có thể xuất khẩu vào thị trường Mỹ.
Một vấn đề nữa rất quan trọng khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương
mại Thế giới (WTO) là vấn đề thương hiệu. Có những sản phẩm của các nước
Svth: Nguy
GVHD: PGS.TS. LÊ THỊ ANH VÂN.
21
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
khác khi có thương hiệu thì giá trị đạt rất cao, còn hàng hoá chúng ta chất

Bên cạnh đó, trong những năm gần đây chúng ta đang phải đối mặt với
đại dịch cúm gia cầm H5N1, thêm vào đó là việc Mỹ thực hiện kiểm tra rất
gắt gao đối với sản phẩm thịt bò, do có lo ngại về căn bệnh bò điên xuất phát
từ nước Anh. Trong điều kiện đó, người dân có tâm lý lo ngại khi sử dụng
những sản phẩm này. Sản phẩm có nguồn gốc từ thuỷ sản được dịp lên ngôi,
sản lượng thuỷ hải sản nhập khẩu vào Mỹ hàng năm tăng mạnh.
Nắm bắt được điều đó, ngay từ những năm 1994, ngành thuỷ sản đã bắt
đầu thực hiện các yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn của
HACCP của Mỹ. Đến năm 2003 đã có 128 doanh nghiệp chế biến áp dụng
Svth: Nguy
GVHD: PGS.TS. LÊ THỊ ANH VÂN.
23
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
tiêu chuẩn HACCP đủ điều kiện xuất khẩu hàng vào Mỹ. Nhờ vậy kim ngạch
xuất khẩu sang thị trường Mỹ gia tăng nhanh chóng năm 1994 mới chỉ đạt 6
triệu USD, năm 1998 đạt 81 triệu USD, năm 2001 đạt 489 triệu USD, đến hết
năm 2002 - một năm được coi là sóng gió đối với toàn ngành thuỷ sản - tổng
kim ngạch xuất khẩu vẫn đạt 2.014 triệu USD và Mỹ vẫn là nước đứng đầu về
nhập khẩu hàng thuỷ sản Việt Nam, đạt 640,6 triệu USD, tiếp sau là Nhật
Bản, Trung Quốc, Hồng Kông…
Svth: Nguy
GVHD: PGS.TS. LÊ THỊ ANH VÂN.
24
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Bảng 1: Tình hình xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam vào thị trường Mỹ
Năm 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005
Kim ngạch XK
(triệu USD)
5.78 19.49 33.98 39.83 80.20 129.50 298.22 489.03 655.65 782.23 592.82 633.985
Tốc độ tăng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status