thử nghiệm kích thích cá sặc rằn sinh sản với các loại kích thích tố khác nhau ở các liều lượng thấp - Pdf 11

1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN
MÃ SỐ: 304
THỬ NGHIỆM KÍCH THÍCH CÁ SẶC RẰN
SINH SẢN VỚI KÍCH THÍCH TỐ KHÁC NHAU
Ở LIỀU LƯỢNG THẤP
Sinh viên thực hiện
TRẦN NGỌC HUYỀN
MSSV: 06803015
Lớp: NTTS K1
Cần thơ, 2010
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG
2
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN
MÃ SỐ: 304
THỬ NGHIỆM KÍCH THÍCH CÁ SẶC RẰN
SINH SẢN VỚI KÍCH THÍCH TỐ KHÁC NHAU Ở
LIỀU LƯỢNG THẤP
Cán bộ hướng dẫn Sinh viên thực hiện
TS. NGUYỄN VĂN KIỂM TRẦN NGỌC HUYỀN
Ks. NGUYỂN THÀNH TÂM MSSV: 06803015
Lớp: NTTS K1
Cần thơ, 2010
3
LỜI CẢM TẠ
Sau 2 tháng thực tập từ tháng 4 năm 2010 đến tháng 6 năm 2010, tại phường Lê

sức sinh sản thực tế trung bình
149.934
trứng/kg, các chỉ tiêu sinh sản như tỷ lệ đẻ
66,5%, tỷ lệ thụ tinh của trứng 73%, tỷ lệ nở 77%, tỷ lệ sống cá con 91%.
Đối với việc sử dụng não thuỳ thì ở cả hai đợt sinh sản cá đều không sinh sản.
So với việc sử dụng LRH-a + Motilium và não thuỳ, kích thích tố HCG + não thuỳ
được cho là hormon sử dụng có hiệu quả để kích thích cá Sặc Rằn sinh sản và liều
lượng thích hợp từ 1.000 UI/kg – 1.500 UI/kg kết hợp với 2 mg não thuỳ, sức sinh sản
thực tế trung bình dao động khoảng 177.000 trứng/kg, tỷ lệ đẻ 100%, tỷ lệ thụ tinh
trung bình 68%, tỷ lệ nở 71%, tỷ lệ sống cá con 83%.
T khóa: cá S˅c Rʿn,Trichogaster pectorrali ,sinh sʱn, kích thích t˨.
5
CAM KẾT KẾT QUẢ
Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu của tôi
và các kết quả của nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ luận văn cùng cấp nào
khác.
Ngày……
tháng…….năm……
TRẦN NGỌC HUYỀN
6
MỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ i
TÓM TẮT ii
CAM KẾT KẾT QUẢ iii
MỤC LỤC iv
DANH SÁCH BẢNG vi
DANH SÁCH HÌNH vii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT viii
CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Giới thiệu 1

3.3.2 Chuẩn bị dụng cụ cho cá sinh sản 17
3.4 Bố trí thí nghiệm 17
3.5 Phương pháp xử lý số liệu 19
3.5.1 Các chỉ tiêu sinh sản theo dõi 19
3.5.2 Ghi nhận và xử lý số liệu
20
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 21
4.1 Các yếu tố môi trường 21
4.2 Kết quả sinh sản kích thích cá Sặc Rằn sinh sản 22
4.2.1 Kết quả sinh sản cá Sặc Rằn bằng kích thích tố LRH-a 22
4.2.2 Kết quả sinh sản cá Sặc Rằn bằng não thuỳ 27
4.2.3 Kết quả sinh sản cá Sặc Rằn bằng kích thích tố HCG + não thuỳ 29
4.3 Đánh giá chung về kết quả kích thích cá Sặc Rằn sinh sản bằng kích thích tố 33
4.4 Quá trình phát triển phôi cá Sặc Rằn 36
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 39
5.1 Kết luận 39
5.2 Đề xuất 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
PHỤ LỤC A
DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 4.1: Một số yếu tố môi trường 21
Bảng 4.2: Kết quả sử dụng kích thích tố LRH-a kích thích cá sinh sản 23
8
Bảng 4.3: Kết quả sử dụng não thuỳ kích thích cá sinh sản 27
Bảng 4.4: Kết quả sử dụng HCG + não thuỳ kích thích cá sinh sản 29
Bảng 4.5: Đánh giá chung về kết quả sinh sản cá Sặc Rằn ở các thí nghiệm 33
Bảng 4.6: Thời gian phát triển phôi và hậu phôi của cá Sặc Rằn 36
Bảng 4.7: Ảnh hưởng của nhiệt độ nước lên chỉ các tiêu phát triển phôi cá
Sặc Rằn 37

NT2: Nghiệm thức 2
NT3: Nghiệm thức 3
h: Giờ
11
CHƯƠNG 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Giới thiệu
Trong những năm gần đây, để đáp ứng nhu cầu con giống phục vụ cho nghề nuôi cá
nước ngọt theo phương châm đa dạng hoá đối tượng, có nhiều loài cá có giá trị kinh tế
đã được nghiên cứu và cho sinh sản thành công: cá Tra, cá Basa, cá Lóc, cá Bống
tượng, cá Leo,…Bên cạnh việc phát triển các nguồn lợi trên thì cũng cần củng cố việc
sản xuất giống các loại cá đồng như: cá Rô đồng, Trê vàng, cá Sặc Rằn…Cá Sặc Rằn
(Trichogaster pectorralis) là loài cá có chất lượng thịt thơm ngon, được xem là đặc
sản của ĐBSCL, có giá trị ở cả sản phẩm tươi và đặc biệt là sản phẩm làm khô.
Cá Sặc Rằn sống ở vùng trũng phèn, rừng tràm, ruộng lúa ven biển,…được nhiều
người dân chọn nuôi theo nhiều mô hình nuôi khác nhau: vườn ao chuồng (VAC),
Heo – Cá. Cá Sặc Rằn có khả năng thích nghi tốt với điều kiện bất lợi của môi trường:
mực nước thấp, nhiệt độ cao, độ trong thấp, ngoài ra do có cơ quan hô hấp phụ nên cá
có thể sống được môi trường có pH thấp, hàm lượng oxy thấp (Bonsoom, 1986).
Sản lượng cá Sặc Rằn tương đối cao so với một số loại cá đồng khác. Tuy nhiên, trong
những năm gần đây sản lượng cá Sặc Rằn ngoài tự nhiên đã giảm đáng kể, sản lượng
cá khai thác ít đi, cở cá thu hoạch nhỏ, chủ yếu tập trung ở một số địa phương thuộc
tỉnh Cà Mau, Kiên Giang, An Giang. Một số vùng khác thì sản lượng cá Sặc Rằn đã
trở nên khan hiếm. Việc đưa cá Sặc Rằn vào sinh sản nhân tạo nhằm cung cấp giống
đảm bảo đủ nhu cầu con giống cho người nuôi vẫn chưa thật sự mang lại hiệu quả cao.
Nguyên nhân là khi kích thích cho cá sinh sản thì sức sinh sản thực tế biến động lớn,
phụ thuộc rất lớn vào mùa vụ, chất lượng cá bố mẹ không ổn định …
Hiện nay đã có nhiều tác giả nghiên cứu về việc cho cá Sặc Rằn sinh sản nhân tạo, tuy
nhiên các kết quả của những tác giả này hoàn toàn khác biệt nhau và cũng chưa thể
xác định được liều lượng kích thích tố thấp nhất gây rụng trứng ở cá Sặc Rằn.

Loài: Trichogaster pectoralis (Regan, 1910)
Tên tiếng Anh: Snakeskin Gouramy
Tên địa phương: Cá Sặc Rằn, cá Sặc Bổi, cá Lò Tho
Hình 2.1: Hình dạng bên ngoài cá Sặc Rằn
(Ngu˪n: FishBase)
14
2.1.2 Đặc điểm hình thái
Yasuhiko Taki, (1974) đã mô tả một số mẫu vật cá Sặc Rằn thu được tại các thủy vực
của Lào như sau:
Cá có dạng hình thuỗn. Miệng nhỏ, hướng lên trên. Hàm dưới trồ. Ðầu phủ vẩy. Mắt
lớn. Vi lưng có các tia cứng ngắn, tia mềm kéo dài. Có một số vẩy nhỏ chồng lên gốc
vi lưng. Vi hậu môn rất dài. Vi ngực phát triển. Cá có màu xám sậm nâu với các tia
xanh đen hoặc xám đen chạy dọc bề mặt cơ thể và có một ít vân ngang màu nâu đậm.
Trên vi lưng, vi hậu môn, vi đuôi có chấm đen sậm nhỏ.
Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) sau khi phân tích 23 mẫu thu thập ở
nhiều nơi tại vùng ĐBSCL đã mô tả về cá Sặc Rằn như sau: Ðầu nhỏ, dẹp bên. Mõm
ngắn. Miệng hơi hướng trên. Mắt lớn. Thân cá dẹp bên. Vẩy lược phủ khắp thân và
đầu, có một số vẩy nhỏ chồng lên gốc vi hậu môn, vi đuôi, vi bụng, vi ngực. Ðường
bên bắt đầu từ mép trên lỗ mang, cong lên phía trên một đoạn ngắn rồi uốn cong tới
trục giữa thân sau đó chạy ngoằn ngoèo đến giữa gốc vi đuôi. Khởi điểm vi lưng
ngang với vẩy đường bên thứ 17 - 19. Ở cá đực khi trưởng thành, vi lưng kéo dài tới
khỏi gốc vi đuôi còn cá cái thì vi này ngắn, chưa tới gốc vi đuôi. Gốc vi hậu môn kéo
dài. Khởi điểm vi hậu môn ngang với vẩy đường bên thứ 5 và phần cuối nối với vi
đuôi. Gai vi lưng, vi hậu môn cứng, nhọn. Tia phân nhánh đầu tiên của vi bụng kéo
dài có thể chạm tới ngọn vi đuôi. Vi đuôi chẽ hai, rãnh chẻ cạn và phần cuối cuả 2
thùy vi đuôi tròn. Phần bụng của thân và đầu có màu xanh đen hoặc xám đen và lợt
dần xuống bụng. Có nhiều sọc đen nằm xiên vắt ngang thân cá. Chiều rộng 2 sọc lớn
hơn khoảng cách 2 sọc. Ở cá nhỏ các sọc ngang chưa rõ nhưng có 1 sọc dọc chạy từ
mõm tới gốc vi đuôi và ở gốc vi đuôi có 1 chấm đen tròn. Chấm và sọc này lợt dần và
mất hẳn khi cá lớn. Vi cá có màu xanh đen hoặc xám đen.

C thời gian phát triển
phôi 24h – 26h. Cá con sau khi nở ra sẽ tự dinh dưỡng bằng noãn hoàng trong 2 - 3
ngày. Sau khi hết noãn hoàng cá con sẽ xuống dưới lớp nước sâu hơn để kiếm thức
ăn.
Chiều dài tối đa của cá khoảng 25 cm. Theo Quách Thanh Hùng và csv (1999) nếu cá
đực và cá cái cùng tuổi thì cá đực có trọng lượng nhỏ hơn, lý do khiến cá đực có trọng
lượng nhỏ hơn cá cái có thể là do trong quá trình sinh sản cá đực thường phải giữ tổ
và chăm sóc đàn cá con nên chúng thường ăn ít hoặc đôi khi bỏ ăn. Cá ương trong ao
đạt chiều dài 2 – 3 cm sau 30 – 35 ngày, thức ăn cho cá ban đầu là động vật phiêu sinh
có kích thước nhỏ như luân trùng, các chất lơ lửng, tảo khi cá lớn hơn thì ăn nhiều
loại thức ăn hơn, cá ăn thiên về thực vật.
Ðối với cá Sặc Rằn, vì phân bố chủ yếu trên đồng ruộng hay các vùng trũng phèn
ngập nước, nên thời điểm hình thành vòng tuổi rất có thể là các tháng mùa khô. Bởi vì
trong những tháng này cá thường tập trung ở ao, đìa, kênh mương với mật độ cao, môi
trường khắc nghiệt, thiếu thức ăn (Trương Thủ Khoa và Nguyễn Minh Trung, 1980).
Trong điều kiện ĐBSCL những nghiên cứu trước đây cho rằng, độ béo của cá thường
đạt cao nhất vào các tháng mùa khô, tới đầu mùa mưa. Tương phản với độ béo là sự
16
phát triển lớn dần lên của tuyến sinh dục. Ðộ béo giảm dần ở các tháng mùa mưa, kết
thúc mùa sinh sản và sau đó lại tiếp tục một chu kỳ mới (Trương Quan Trí, 1987).
2.2.2 Sinh sản
Hora và Pillay (1962) cho rằng cá Sặc Rằn thành thục lần đầu sau 7 tháng tuổi. Khi
thành thục có thể phân biệt dễ dàng cá đực, cá cái bằng các biểu hiện bên ngoài của
dấu hiệu sinh dục phụ. Smith (1945) cho biết cá Sặc Rằn ở Thái Lan đến thời kỳ thành
thục, ở cá đực phần tia mềm vây lưng kéo dài tới hoặc vượt khỏi gốc vi đuôi, còn cá
cái thì vi này rất ngắn và không bao giờ chạm tới gốc vi đuôi. Hiện tượng tương tự
như vậy cũng thấy ở cá Sặc Rằn phân bố tại ĐBSCL (Nguyễn Tường Anh, 2004).
Ngoài chỉ tiêu căn bản này, cũng có thể phân biệt cá đực với các sọc ngang đậm nét
chạy từ lưng xuống bụng rõ hơn cá cái và miệng của nó cũng lớn hơn (Lê Như Xuân,
1993; Trương Thủ Khoa và Nguyễn Minh Trung, 1980). Sự phát triển tuyến sinh dục

Thời gian tái phát dục ở cá Sặc Rằn có thể từ 25 - 30 ngày, trong điều kiện đầy đủ
thức ăn cá Sặc Rằn có thể đẻ được 3 - 4 lần /năm (Phạm Văn Khánh, 2005).
2.2.3. Dinh dưỡng
Cũng như nhiều loài cá khác, ở thời kỳ đầu sau khi nở, cá dinh dưỡng bằng noãn
hoàng. Sau khi noãn hoàng tiêu biến cá chuyển sang ăn thức ăn bên ngoài (Lê Như
Xuân, 1993). Thức ăn ở thời kỳ đầu gồm nhiều loại như phiêu sinh động vật (Ciliata,
Rotifera, Copepoda, Cladocera), phiêu sinh thực vật (Bacillariophyceae,
Cyanophyceae, Flagellata, Chlorophyceae và mùn bã hữu cơ). Ở thời kỳ trưởng thành,
cấu tạo bộ máy tiêu hoá của cá phù hợp với loài ăn tạp. Những loại thức ăn thường
xuyên bắt gặp và chiếm khối lượng lớn trong ruột cá Sặc Rằn gồm: mùn bã hữu cơ,
thực vật phiêu sinh, động vật phiêu sinh, mầm non thực vật cũng như các loại thực vật
thủy sinh mềm trong nước. Ngoài ra, cá cũng sử dụng tốt các loại thức ăn do con
người cung cấp như: bột ngũ cốc các loại, động vật và khi thiếu thức ăn chúng ăn cả
trứng của chính nó (Quách Thanh Hùng và csv, 1999).
2.2.4 Khả năng thích nghi với môi trường
Cá Sặc Rằn có thể sống được ở nước thiếu hoặc không có oxy trong một thời gian nhờ
có cơ quan hô hấp phụ. Ngoài ra, cá còn có khả năng chịu được môi trường nước
nhiễm bẩn, có hàm lượng hữu cơ cao và môi trường có hàm lượng pH thấp (pH có thể
từ 4 - 4,5) (Nguyễn Tường Anh, 2004).
Nguyễn Phú Trí (1990) cho rằng cá Sặc Rằn sinh trưởng và phát triển tốt ở nhiệt độ từ
24 - 30
o
C và nhiệt độ thích ứng của cá dao động từ 11- 39
o
C.
Trong thời kỳ phát triển của phôi, cũng như các loài cá nuôi khác, phôi cá Sặc Rằn rất
nhạy cảm với các yếu tố môi trường: nhiệt độ, oxy hoà tan, pH,…Nếu các yếu tố môi
trường ổn định hoặc biến động trong khoảng thích hợp thì phôi cá phát triển bình
thường, cá con sinh ra khoẻ mạnh.
Trong các yếu tố môi trường nêu trên thì nhiệt độ là yếu tố có tác động rất lớn. Nhiệt

khác như cá Rô Đồng, cá Hường, cá Lóc….trong đó cá Sặc Rằn thường được ghép
với tỷ lệ dao động từ 30 - 70% tuỳ thuộc vào dạng mô hình nuôi.
Gần đây bên cạnh các mô hình nuôi kếp hợp thì có thể áp dụng phương pháp nuôi đơn
dưới dạng bán thâm canh hay thâm canh cá Sặc Rằn trong ao đất với mật độ cá thả
dao động từ 5 – 7 con/m
2
tăng lên 30 – 40 con/m
2
(Dương Nhựt Long, 2009). Tuy
nhiên, với các hình thức nuôi bán thâm canh hay nuôi ghép từ thực tế cho thấy các mô
hình này cho hiệu quả không cao do thời gian nuôi kéo dài, năng suất thấp, do đó việc
thực hiện mô hình nuôi thâm canh cá Sặc Rằn đang được người nuôi thuỷ sản quan
tâm.
Thông qua số liệu từ các trạm nông, khuyến ngư của các tỉnh Cần Thơ, Hậu Giang và
một số huyện của tỉnh An Giang cho thấy rằng năng suất nuôi nuôi cá Sặc Rằn của
các mô hình nuôi như sau: Với mô hình nuôi cá kết hợp với heo, mật độ thả là 10 – 15
19
con/m
2
, năng suất cá Sặc Rằn từ 4 – 5 tấn/ha (tối đa là 7 – 8 tấn/ha). Mô hình nuôi
ghép các loại cá với nhau, mật độ thả 10 – 20 con/m
2
, năng suất đạt 3 – 4 tấn/ha.
Trong quá trình nuôi, thức ăn sử dụng cho cá là thức ăn tự chế (cám + các loại phụ
phẩm của nhà máy chế biến thuỷ sản, hay cá tạp…) kết hợp với thức ăn công nghiệp,
trong đó thức ăn tự chế chiếm tỉ lệ cao hơn (từ 60 – 70%). Do đó, khi thả nuôi kết hợp
cá Sặc Rằn với các đối tượng nuôi khác thì năng suất thường không cao và cở cá khi
thu hoạch thường nhỏ, không đáp ứng cho việc làm cá khô xuất khẩu. Hiện nay, mô
hình nuôi đơn cá Sặc Rằn ở các tỉnh ĐBSCL không nhiều, do đó chưa có số liệu
thống kê chính xác về diện tích cũng như tình hình nuôi của mô hình này. Theo số liệu

thường thì do cá đẻ không tập trung, tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở và tỷ lệ sống của cá con
thấp: thông thường cá được giữ trong ao vào mùa khô cho đến khi mùa mưa tới mực
nước trên ruộng đạt khoảng 10 - 20 cm (vào tháng 5 - 6) đây là thời điểm tốt để thả cá
ra ruộng và cá sẽ đẻ rộ sau 5 - 7 ngày. Cá con sinh ra và lớn lên trong ruộng lúa với
nguồn thức ăn sẵn có trong tự nhiên.
2.4.2 Cho cá đẻ nhân tạo
Trong sinh sản nhân tạo theo Chung Lân và csv (1969) cho rằng: nguyên lý của kích
thích sinh sản là dựa vào nguyên lý chung về sinh vật học, trong quá trình sinh sản tự
nhiên của cá, đồng thời vì biết rằng trong ao nuôi không đủ điều kiện sinh thái làm
thoả mãn những yêu cầu về sinh sản của cá bố mẹ mà người ta dùng phương pháp
tiêm chất kích thích.
Vì thế, kích thích tố là một yêu cầu cần thiết để tạo cho cơ thể cá có một điều kiện
nhất định thoả mãn về sinh lý, sinh thái cho cơ thể cá tiến hành sinh sản. Trên cơ sở
đó kích thích sinh sản nhân tạo cá Sặc Rằn bằng các loại kích thích tố cũng được
nhiều tác giả nghiên cứu. Các loại kích thích tố như HCG, não thuỳ, LRH-a, đều có
tác dụng làm rụng trứng và kích thích cá Sặc Rằn sinh sản tốt.
Ðối với cá Sặc Rằn, Nguyễn Tường Anh (2004) đã sử dụng kích thích tố HCG để cho
sinh sản, liều lượng 2.500 – 3.000 UI HCG/kg cá cái, liều tiêm cho cá đực bằng ½ liều
tiêm cho cá cái, kết quả tốt với tỉ lệ cá đẻ là 75%, tỉ lệ thụ tinh 92% và tỉ lệ nở là 95%.
Trong khi đó nghiên cứu của Nguyễn Trọng Nho và Lê Như Xuân (1998) cho sinh
sản cá Sặc Rằn bằng kết hợp 2 loại hormon HCG và não thuỳ thể cá chép với liều
lượng 2.500 UI + 0,54 mg não/kg cá cái, tỉ lệ cá sinh sản 100%, tỉ lệ thụ tinh 98,5%, tỉ
lệ nở 94%.
Tương tự Nguyễn Văn Kiểm và csv (1999) cũng cho cá đẻ bằng cách tiêm HCG với
các liều lượng khác nhau từ 500 - 5.000 UI/kg. Qua kết quả nghiên cứu cho thấy ở tất
cả các liều lượng thì cá đều sinh sản nhưng ở liều lượng 1.000 UI/kg và 1.500 UI/kg
thì sức sinh sản đạt cao hơn so với các liều cao 4.000 - 5.000 UI/kg.
Theo Lê Như Xuân (1993) thì liều lượng HCG được sử dụng là từ 2.500 - 4.000 UI/kg
thường được sử dụng cho cá Sặc Rằn sinh sản. Nhưng kết quả thu được có sự biến
động lớn (từ 100.000 - 230.000 trứng/kg) vì phụ thuộc vào chất lượng cá bố mẹ.

phẩm nội tiết của thể vàng hoạt tính là progesteron – hormon có tác dụng chuẩn bị nội
mạc dạ con cho sự làm tổ của phôi và những thay đổi khác về sinh lý trong thời gian
mang thai và nuôi con bằng sữa. HCG là loại kích thích tố dị chủng được dùng có
hiệu quả cho nhiều loài cá nhất. Ngoài cá Mè, cá Trê, HCG có tác dụng gây rụng
trứng cho các loài cá khác ở nước ta như cá Chày, cá Vền, cá Trôi, cá Bống, cá
Vàng….
Theo Nguyễn Tường Anh (2004) ở đầu vụ sinh sản, do tính nhạy cảm của nang trứng
chưa cao đặc biệt là sự tiếp nhận của nang trứng đối với đối với yếu tố gây chín và
rụng trứng. Do đó ở đầu mùa sinh sản nếu chỉ sử dụng HCG đơn thuần thì tỷ lệ cá đẻ
thường thấp (do HCG không tham gia vào quá trình thành thục của trứng), trong khi
đó nếu kết hợp với não thuỳ thì tỷ lệ rụng trứng có thể tăng thêm 10 - 15% (do trong
22
não thuỳ có yếu tố thúc đẩy cá thành thục thêm một bước là FSH). Tỷ lệ não thuỳ là
30% so với tổng liều lượng.
Não thuỳ thể
Cấu tạo não thuỳ thể của cá cũng giống như động vật bậc cao. Não thuỳ thể nằm ở
mặt bụng của thuỳ trung gian, nối liền với mấu não dưới chia thành bộ phận thần kinh
và bộ phận tuyến thể. Trong não thuỳ thể của cá có lượng FSH rất thấp còn lượng LH
tương đương với động vật có vú. Não thùy thể tuyến yên được lấy ra từ những loài cá
thuộc các loài cá Chép, cá Trắm, cá Mè, cá Trê…đã thành thục còn tươi sống. Cá chết
vài giờ thì hoạt tính kích thích tố chỉ còn khoảng 50% (Nguyễn Tường Anh, 2001).
Não thuỳ thể cá Chép được xem là kích thích tố mạnh cho nhiều loài cá kể cả các đối
tượng khác họ và các loài cá biển.
LRH-a (Lutienizing Releasing Hormon)
LRH-a là một dạng của GnRH-a Hormon phóng kích dục tố.
LRH-a thường được sử dụng với các chất kháng Dopamin (chất gây ức chế sự tiết
kích dục tố). Theo Nguyễn Tường Anh (2004) chất kháng dopamin hiện nay sử dụng
kết hợp với GnRHa domperidin hoặc pimozide. Motilium là một trong những sản
phẩm thương mại của domperidone. GnRHa được sử dụng rộng rãi trên thế giới hiện
nay vì có một số ưu điểm:

Độ mặn: Là một yếu tố môi trường ảnh hưởng đến sự sinh sống và phân bố của thuỷ
sinh vật. Ở các vùng có độ mặn khác nhau sẽ là nơi cư trú của những loài thuỷ sinh
vật khác nhau. Theo Nguyễn Thị Oanh (2009) thì phôi cá Sặc Rằn phát triển bình
thừơng khi gây sốc ở độ mặn 1 ‰, 3 ‰, 5 ‰, 7 ‰, 9 ‰ nhưng ở 11 ‰ thì phôi dừng
phát triển và phân huỷ sau 20h.
N-NO
2
: Hàm lượng N-NO
2
quá cao sẽ ngăn cản oxy kết hợp Hemoglobin và gây chết
ngạt. Tính độc của Nitric giảm khi nhiệt độ và oxy hoà tan cao vì sẽ bị oxy hoá thành
dạng Nitrate không độc. Hàm lượng N-NO
2
thích hợp phải thấp hơn 0,5 mg/l (Nguyễn
Thị Ngọc Thuý, 1998).
NH
3
/NH
4
+
: Được cung cấp trong các thuỷ vực từ quá trình phân huỷ bình thường
protein, xác bã động thực vật phù du, sản phẩm bài tiết của động vật hay từ phân bón
vô cơ và hữu cơ. NH
3
là khí độc đối với thuỷ sinh vật. Theo Nguyễn Đình Trung
(2004), nitrite là một trong những chất đạm rất độc với tôm cá, tính độc của nitrite
khác nhau giữa môi trường nước ngọt và nước lợ, trong môi trường nước ngọt tính
độc của nitrite gấp 55 lần so với môi trường nước có độ mặn 16 ‰.
Một số yếu tố khác ảnh hưởng đến quá trình sinh sản của cá Sặc Rằn
Trong sinh sản nhân tạo tất cả các loài cá nuôi muốn thu được kết quả tốt thì nuôi vỗ

Tường Anh, 2004).
Vì cá Sặc Rằn có tập tính làm tổ, con đực làm tổ bằng nước bọt dưới những tán lá hay
lùm cây cỏ. Sau đó đưa cá cái đến gần tổ và cong mình ép cá cái đẻ trứng vào tổ, vì
vậy việc đặt giá thể (lá môn, lá sen nước…) là rất quan trọng trong lúc cho cá đẻ. Và
lưu ý không nên lấy giá thể ra sớm khi cá sinh sản chưa xong sẽ làm cho cá hoảng sợ
ảnh hưởng đến sức sinh sản của cá.
Hình 2.2: Hoạt động bắt cặp của cá Sặc Rằn
25
Mặc dù cá có tập tính ăn trứng sau khi đẻ (cá càng đói ăn càng nhiều) nhưng cũng
không nên bắt cá bố mẹ ra quá sớm. Thông thường kể từ khi cá đẻ đến lúc bắt cá bố
mẹ khoảng 3 – 5h.
Hình 2.3: Chuẩn bị dụng cụ cho cá Sặc Rằn sinh sản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status