Thực nghiệm kích thích cá Trê vàng (Clarias macrocephalus) sinh sản với liều lượng LHRH-a khác nhau - Pdf 11

1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG
BÁO CÁO
Đề tài
THỰC NGHIỆM KÍCH THÍCH CÁ TRÊ VÀNG SINH SẢN
VỚI LIỀU LƯỢNG LHRH-A KHÁC NHAU
Giáo viên hướng dẫn
Ts. Nguyễn Văn Kiểm
Ks. Nguyễn Thành Tâm
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Kim Yến
Lớp Nuôi Trống Thủy Sản – K1
2
CHƯƠNG I
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Giới thiệu
Một số loài cá nước ngọt có giá trị kinh tế cao ở Đồng Bằng Sông Cửu Long
(ĐBSCL) đã được nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật đến người nuôi như quy
trình sinh sản nhân tạo cá tra, cá rô đồng, cá sặc rằn, cá mè vinh, Tuy nhiên, ở
ĐBSCL còn nhiều loài cá có phẩm chất thịt ngon, giá phù hợp, tiêu thụ phổ biến ở
thị trường nội địa, nhưng chưa được nuôi rộng rãi, đặc biệt là cá Trê vàng. Cá Trê
vàng phân bố khá rộng trên thế giới, ở Đông Nam Á được phân bố nhiều ở Thái
Lan, Lào, Campuchia và ĐBSCL. Nhiều người dân cho biết cách đây khoảng 20
năm cá Trê vàng có nhiều ở ĐBSCL, nhưng ngày nay còn gặp rất ít. Nguyên nhân
vì sao có hiện tượng này vẫn chưa có câu trả lời (Trần Thị Thúy An, 2009).
Nhiều nguyên nhân dẫn đến việc nuôi cá Trê vàng chưa phát triển mạnh như sinh
trưởng chậm, quy trình nuôi chưa hoàn chỉnh, số lượng cá giống ít, hiện nay đã mở
nhiều cơ sở sản xuất giống nhưng vẫn chưa đạt hiệu quả cao. Đặc biệt, nguồn cá
Trê vàng ngoài tự nhiên ngày càng giảm, nếu không can thiệp kịp thời thì trong
tương lai không xa, loài cá có giá trị kinh tế này có nguy cơ bị tuyệt chủng.

Giống: Clarias
Loài: Clarias macrocephalus Gunther, 1864.
4
Tên tiếng anh: Yellow catfish
Tên địa phương: Cá Trê vàng
Ở Việt Nam hiện nay có 3 loài cá Trê địa phương và 1 loài cá Trê nhập nội:
Clarias macrocephalus: Phổ biến ở Nam Bộ
Clarias batrachus: Phổ biến ở Nam Bộ
Clarias fuscus: Phổ biến ở Bắc Bộ
Clarias gariepinus: nhập nội vào miền Nam vào khoảng cuối năm 1974 (Trương
Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993).
2.1.2 Đặc điểm phân bố
Cá Trê phân bố ở thủy vực nước ngọt của Ấn Độ, Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan,
Mã Lai, Lào, Campuchia, Philippin, và ĐBSCL Việt Nam (Trương Thủ Khoa và
Trần Thị Thu Hương, 1993).
Cá Trê vàng có cơ quan hô hấp phụ nên chịu được môi trường sống khắc nghiệt
như ao, hồ, nơi có lượng oxy hòa tan thấp. Trong tự nhiên, cá thích rúc dưới bùn,
chui trong các hang hốc (Đoàn Khắc Độ, 2008)
2.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng và sinh trưởng
Cá Trê vàng có tập tính ăn tạp nhưng thiên về động vật đáy, cá rất thích ăn mồi là
xác động vật đang thối rữa. Khả năng sử dụng thức ăn chế biến cũng rất cao
(Nguyễn Văn Kiểm, 2004). Sức lớn của cá phụ thuộc vào mật độ cá thả nuôi, số
lượng và chất lượng thức ăn, điều kiện ao nuôi (Từ Thanh Dung và ctv, 1994).
Cá có tốc độ sinh trưởng tương đối chậm. Giai đoạn cá hương, cá giống thì tăng
nhanh về chiều dài, sau đó từ cỡ 15 cm trở đi tăng trọng nhanh hơn. Cá một năm
tuổi trong tự nhiên có trọng lượng trung bình 400 - 500 g/con (Phạm Văn Khánh
và ctv, 2004; trích bởi Trần Thị Thúy An, 2009)
2.1.4 Đặc điểm sinh sản
Ngoài tự nhiên cá có thể sinh sản quanh năm, cá đạt từ 8 - 10 tháng tuổi mới thành
thục và đủ khả năng sinh sản. Cá có 2 mùa vụ sinh sản chính là tháng 3 - 6 và

pháp kỹ thuật lai tạo giữa cá Trê phi với cá Trê vàng ra đời. Vấn đề lai tạo giữa cá
Trê phi với Trê vàng đã thu được những kết quả đáng khích lệ (Nguyễn Văn Kiểm,
1999). Cá Trê phi có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất cả về chiều dài và trọng lượng,
cá Trê vàng có tốc dộ tăng trưởng chậm nhất, cá Trê lai có tốc độ tăng trưởng
mang tính chất trung gian giữa cá Trê vàng và cá Trê phi (Lê Tuyết Minh, 2000)
Kết quả nuôi vỗ cá Trê tại trường Đại Học Cần Thơ cho thấy với thức ăn hàm
lượng protein là 35%, cho ăn 4 - 5% trọng lượng thân thì sau khoảng 60 ngày nuôi
vỗ cá có thể tham gia sinh sản. Khối lượng trung bình có thể tham gia sinh sản của
cá Trê vàng là 250 - 300g và 350 - 400g đối với cá Trê trắng (Huỳnh Kim Hường,
2005).
Nguyễn Văn Kiểm và Huỳnh Kim Hường (2006), đã đưa ra kết luận sử dụng kích
thích tố HCG, LHRH-a, não thùy đều có thể gây chín và rụng trứng trên cá Trê
trắng sau khi tiêm liều sơ bộ 0,6 mg não thùy cá cho 1 kg cá cái. Liều kích thích tố
đơn có hiệu quả là đối với sự sinh sản cá Trê trắng: HCG 2000 UI/kg, não thùy 5
mg/kg và LHRH-a 50 µg/kg cá cái.
6
Trong sinh sản nhân tạo, kích thích tố được dùng phổ biến nhất là LHRH-a hoặc
HCG. Sử dụng phương pháp tiêm 1 lần 50 - 70 µg LHRH-a và 10 mg
Domperidone hoặc HCG liều lượng 2500 UI cho 1kg cá cái; 20 - 30 µg LHRH-a
hoặc 500 UI cho 1kg cá đực (Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm, 2009).
Một số nghiên cứu thành công khi cho cá Trê đẻ tự nhiên trong ao với kích tố
(DOCA, LH, HCG, não thùy nhóm cá chép) kích thích cá đẻ. Thời gian phát triển
phôi 24 - 26 giờ, ở nhiệt độ 26 - 28
o
C (Huỳnh Kim Hường, 2005).
Theo Nguyễn Văn Triều và Phạm Văn Mạnh (1999) kết luận 3 kích thích tố với
liều lượng DOCA: 11.25 mg/kg cá cái, HCG: 3500 UI/kg cá cái, LHRH-a: 60
µg/kg cá cái đều có thể gây chín và rụng trứng hiệu quả nhất trên cá Trê vàng sau
khi tiêm liều sơ bộ 0,8 mg não thùy cá chép Hungary sấy khô cho 1 kg cá cái.
7

Văn Triều và Phạm Văn Mạnh (1999), Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm
(2009).
Trong thí nghiệm được thực hiện với liều lượng theo bảng 3.1
Bảng 3.1: Liều lượng LHRH-a kích thích cá Trê vàng sinh sản.
Loại kích thích tố
Liều lượng hormon
Nghiệm thức I Nghiệm thức II Nghiệm thức III
LHRH-a + Motilium
(µg/kg) (mg/kg)
40 + 5
mgMotilium
50 + 5
mgMotilium
60 + 5
mgMotilium
Tất cả các nghiệm thức thí nghiệm được lặp lại 3 lần, tỷ lệ đực/cái cho mỗi nghiệm
thức là 2/3.
3.2.3 Kỹ thuật vuốt trứng và giải phẫu lấy tinh sào
Do cá Trê vàng là loài không tự đẻ trứng, mặc dù cá được tiêm kích tố nên phải
dùng phương pháp thụ tinh nhân tạo.
Sau khi tiêm cá 14 - 16 giờ tùy theo nhiệt độ nước tiến hành kiểm tra mức độ rụng
trứng của cá để xác định được thời điểm vuốt trứng, có thể lấy mẫu trứng để khảo
sát. Cá cái đã thành thục tốt phải có những hạt trứng đạt kích thước tới hạn, rời rạc,
các mao mạch trên nang trứng nhỏ hoặc không còn thấy được và đạt khoảng 70 -
80% tế bào trứng có nhân lệch tâm (Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm,
2009).
Khi cá cái rụng trứng, quấn cá trong khăn bông và lau khô cá, giữ cá và chút đuôi
xuống thấp, vuốt nhẹ bụng cá từ phía đầu xuống thau hứng trứng (thau phải được
lau khô ráo), khi thấy trứng rụng khô ra hoặc trứng lẫn máu thì ngừng vuốt.
Trước khi vuốt trứng phải bắt cá đực giải phẫu lấy tinh sào, đem tinh sào cắt nhỏ

TLTT (%) = x 100
Số trứng quan sát được
11
- Tỷ lệ nở (TLN)
Số trứng nở
TLN (%) = x 100
Số trứng thụ tinh
- Ghi nhận một số yếu tố môi trường
+ Oxy: dùng máy đo oxy
+ Nhiệt độ: dùng nhiệt kế (từ 0 - 100
o
C)
+ pH: test đo pH
+ NH
4
+
/NH
3
: test đo NH
4
+
/NH
3
+ NO
2
-
: test đo NO
2

- Một ngày đo 1 lần vào lúc trước khi thay nước

kích thích tố
4.2.1.1 Trước khi tiêm kích thích tố
Quan sát bên ngoài buồng trứng cá Trê vàng gồm 2 nhánh, có dạng hình túi, màu
nâu nhạt, buồng trứng đạt kích thước lớn, chiếm tới hơn 2/3 thể tích xoang bụng.
Bên trong buồng trứng gồm nhiều vách ngăn gọi là tấm trứng, trên tấm trứng có
nhiều mạch máu, số lượng mạch máu lớn còn rất ít, chỉ còn mạch máu chính.
Buồng trứng gồm 3 dạng trứng khác nhau, hầu hết là những trứng ở giai đoạn IV
với khoảng 50% trứng đã phân cực. Ngoài ra, còn bắt gặp những trứng ở giai đoạn
Thời gian Nhiệt độ
(
o
C)
Oxy pH NO
2
NH
4
+
/NH
3
Sáng 24 - 25 4 - 5 7,5 0 0,25
Chiều 27 - 30 4 - 5 8 0 0,25
13
III và những trứng ở giai đoạn II. Khi thăm trứng thì độ nhớt trong buồng trứng
vừa, trứng rời rạc, nhìn thấy được noãn khổng ở những trứng có màu nâu nhạt.
Hình 4.1: Buồng trứng cá Trê vàng trước khi tiêm kích thích tố
4.2.1.2 Sau khi tiêm kích thích tố
Buồng trứng đạt kích thước lớn nhất, bề mặt buồng trứng căng phồng và mềm,
vuốt nhẹ bụng cá, trứng chảy ra thành dòng. Sau khi vuốt trứng, buồng trứng teo
nhỏ lại và mềm nhão, mạch máu xung huyết có màu đỏ tím, ngoài những trứng đã
rụng trong buồng trứng còn nhiều tế bào trứng ở các giai đoạn khác nhau.

lượng
LHRH-a
(µg/kg)
Tỷ lệ rụng
trứng
(%)
Sức sinh sản
thực tế
(số trứng/kg)
Tỷ lệ thụ
tinh
(%)
Tỷ lệ nở
(%)
Thời gian
hiệu ứng
thuốc
40 33,3
a
± 15.3 71
ab
± 1 3,4
a
± 3.7 0
a
14,4
a
± 0.5
50 37
a

40 µg/kg và nghiệm thức liều 50 µg/kg chưa thành thục hoàn toàn, tổng hợp cả 2
nguyên nhân trên cho thấy tỷ lệ thụ tinh của trứng ở 2 nghiệm thức liều 40 - 50
µg/kg không có sự khác biệt trong thống kê và thấp hơn nghiệm thức liều 60 µg/kg.
Cá bố mẹ ở nghiệm thức liều 60 µg/kg được mua ở trại sản xuất giống cá Trê vàng,
cá được nuôi vỗ tốt, cá đực và cá cái đều thành thục và đạt yêu cầu khi cho đẻ. Vì
vậy tỷ lệ thụ tinh của trứng cao (52,7 ± 3) hơn 2 nghiệm thức liều 40 µg/kg và 50
µg/kg.
Tỷ lệ nở của trứng ở nghiệm thức liều 40 µg/kg là 0 và nghiệm thức liều 50 µg/kg
(1,6 ± 0,2) nguyên nhân là do quá trình ấp trứng, quá trình phân hủy những trứng
không thụ tinh diễn ra rất nhanh dẫn đến điều kiện bất lợi cho những trứng được
thụ tinh, kết quả là những trứng tuy được thụ tinh nhưng không nở được hoặc tỷ lệ
nở rất thấp (liều 50 µg/kg). Trứng cá ở nghiệm thức liều 60 µg/kg có tỷ lệ nở cao
hơn ngoài vấn đề chất lượng cá bố mẹ tốt thì biện pháp thay nước kịp thời trong
khi ấp cũng là một trong các nguyên nhân giúp cho tỷ lệ nở của trứng tăng lên
(76,7± 1,5).
4.2.3 Quá trình phát triển phôi
Quan sát phôi dưới kinh hiển vi cho thấy quá trình phát triển phôi cá trê vàng cũng
tương tự như quá trình phát triển phôi của các loài cá nước ngọt khác. Thời gian
phát triển phôi cá trê vàng trong nghiên cứu này là 23 giờ 23 phút ở điều kiện nhiệt
độ nước 24 - 30
o
C. Kết quả ghi nhận sự phát triển của phôi được trình bày ở
bảng 4.3.
16
Bảng 4.3: Các giai đoạn phát triển phôi
Các giai đoạn phát triển phôi Thời gian sau thụ tinh
Đĩa mầm
2 tế bào
4 tế bào
8 tế bào

động lắc lư qua lại.
Cá sau 48 giờ: ấu trùng dài 5,2 - 5,6 mm, bơi lội chủ động, sống tụ thành đám, chui
rút. Hình thành sắc tố trên đầu và lưng, có điểm mắt, xuất hiện mầm râu trên và
dưới hàm, vây đuôi kéo dài từ thân đến đuôi, ống tiêu hóa màu vàng, tim, lượng
noãn hoàng giảm.
Cá sau 72 giờ: ấu trùng dài 6 - 7,1 mm, xuất hiện hệ thống tuần hoàn, mầm râu dài
ra từ từ, nhiều chấm sắc tố, lượng noãn hoàng giảm nhiều.
Cá sau 96 giờ: ấu trùng dài 7,1 - 7,8 mm, một vài ấu trùng hết noãn hoàng lúc này
có thể thả moina cho ăn.
18
CHƯƠNG V
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
5.1 Kết luận
 Kích thích tố LHRH-a + Motilium có thể sử dụng gây chín và rụng trứng ở cá
Trê vàng. Ở mức liều lượng kích thích tố 40 - 50 µg/kg cá cái cho kết quả các chỉ
số sinh sản không có sự khác biệt trong thống kê (p>0,05). Liều 60 µg/kg LHRH-a
kích thích cho cá Trê vàng sinh sản có hiệu quả và ổn định hơn (tỷ lệ rụng trứng là
100%).
 Chất lượng của cá bố mẹ có liên quan rất rõ ràng tới tỷ lệ rụng trứng của cá.
Nếu cá được nuôi vỗ tốt thì kết quả sinh sản nhân tạo sẽ tốt hơn (tỷ lệ rụng trứng,
tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở đều cao hơn) so với cá bố mẹ đánh bắt ngoài tự nhiên.
5.2 Đề xuất
Tiếp tục nghiên cứu thêm về ảnh hưởng của các loại kích thích tố với liều lượng
khác nhau đến sự thành thục và chín trứng lên cá Trê vàng.
19
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đoàn Khắc Độ, (2008). Kỹ thuật nuôi cá Trê vàng lai và cá Trê vàng, Trung tâm
học liệu, trường Đại Học Cần Thơ. NXB Đà Nẵng.
2. Huỳnh Kim Hường, (2005). Nghiên cứu sự thành thục sinh dục và thử nghiệm
sinh sản nhân tao cá trê trắng (Clarias batrachus). Tuyển tập công trinh nghiên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status