Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư và
sự vận dụng vào công cuộc công nghiệp hóa-
hiện đại hóa của nước ta hiện nay
1
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
1.2.1. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối 5
3. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và tương đối được vận dụng vào
công cuộc công nghiệp hoá- hiện đại hoá của nước ta hiện nay 10
LỜI MỞ ĐẦU
Trong bài điếu văn của Ăng-ghen đọc trước mộ của Các- Mác, một
trong ba cống hiến vĩ đại của Mác được Ăng-ghen nhắc tới đó là việc tìm ra
quy luật vận động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa hiện nay và
của xã hội tư sản do phương thức đó sinh ra. Phải nói rằng học thuyết giá trị
thặng dư là “hòn đá tảng” trong toàn bộ lí luận kinh tế của C.Mác. Trong
quyển I của bộ tư bản có tựa đề là “Về tư bản”, C.Mác đã trình bày một cách
khoa học hệ thống các phạm trù kinh tế chính trị tư bản mà trước đó, chưa ai
có thể làm được. Một trong số các học thuyết được nêu ra là thuyết giá trị
2
thặng dư, nhờ có nó mà toàn bộ bí mật của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa
được vạch trần, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được nêu ra một
cách chính xác, mà trong đó hai phương pháp sản xuất chính là phương pháp
sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và tương đối được áp dụng rộng rãi nhất,
nhằm tạo ra tư bản để tích luỹ và tái mở rộng sản xuất, đưa xã hội tư bản
ngày càng phát triển. Hai phương pháp này đã được đưa vào ứng dụng ở
nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Nước ta đang trong công
cuộc công nghiệp hóa- hiện đại hóa, để phù hợp với những vấn đề mà thực
tiễn đòi hỏi chúng ta phải nhận thức lại, bổ sung và phát triển các học thuyết
đặc biệt là học thuyết giá trị thặng dư.
Đề tài này nghiên cứu lý luận và thực tiễn về “ Phương pháp sản xuất
giá trị thặng dư và sự vận dụng vào công cuộc công nghiệp hóa- hiện đại hóa
hết nhà tư bản phải sản xuất ra hàng hoá có giá trị sử dụng, vì giá trị sử dụng
là nội dung vật chất của hàng hoá, là vật mang giá trị và giá trị thặng dư.
Đây cũng là quá trình nhà tư bản tiêu dùng hàng hoá sức lao động và tư liệu
sản xuất để sản xuất giá trị thặng dư. Bởi thế mỗi sản phẩm được làm ra đều
được kiểm soát bởi nhà tư bản và thuộc sở hữu của nhà tư bản. Trong quá
trình sản xuất tư bản chủ nghĩa, bằng lao động cụ thể của mình công nhân
lao động làm thuê sử dụng tư liệu sản xuất và chuyển giá trị của chúng vào
4
hàng hoá, bằng lao động trừu tượng công nhân tạo ra giá trị mới lớn hơn giá
trị sức lao động, phần lớn hơn đó là giá trị thặng dư.
Khi thu được giá trị thặng dư nhà tư bản sẽ chia nó làm nhiều phần, sử
dụng vào những mục đích khác nhau, trong đó một phần rất lớn dùng mua tư
liệu sản xuất, để tái mở rộng sản xuất nhằm đem lại nhiều giá trị thặng dư
hơn.
1.2.Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư
Đã có nhiều phương pháp được dùng để tạo ra giá trị thặng dư, nhưng
hai phương pháp được sử dụng chủ yếu là phương pháp giá trị thặng dư
tuyệt đối và phương pháp giá trị thặng dư tương đối. Mỗi phương pháp đại
diện cho một trình độ khác nhau của giai cấp tư sản, cũng như những giai
đoạn lịch sử khác nhau của xã hội.
1.2.1. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối.
Phương pháp giá trị thặng dư tuyệt đối được áp dụng ở giai đoạn đầu
của chủ nghĩa tư bản, thời kì này nền kinh tế sản xuất chủ yếu là sử dụng lao
động thủ công, hoặc lao động với những máy móc giản đơn ở các công
trường thủ công. Đó là sự gia tăng về mặt lượng của quá trình sản xuất ra giá
trị thặng dư. Bởi phương pháp giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư
thu được do kéo dài ngày lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu, trong
khi năng suất lao động, giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu là
không thay đổi.
Giả sử ngày lao động là 8 giờ, trong đó 4 giờ là thời gian lao động tất
và tinh thần của người lao động và vấp phải cuộc đấu tranh ngày càng mạnh
mẽ của giai cấp công nhân. Mặt khác, khi sản xuất tư bản chủ nghĩa phát
triển đến giai đoạn đại công nghiệp cơ khí, kĩ thuật đã tiến bộ làm cho năng
suất lao động tăng lên nhanh chóng, thì các nhà tư bản chuyển sang phương
thức bóc lột dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động, bó lột giá trị thặng dư
tương đối. Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được do rút ngắn
thời gian lao động tất yếu bằng cách nâng cao năng suất lao động xã hội,
nhờ đó tăng thời gian lao động thăng dư lên ngay trong điều kiện độ dài
ngày lao động vẫn như cũ. Vì giá trị sức lao động được quyết định bởi các tư
liệu tiêu dùng và dịch vụ để sản xuất, tái sản xuất sức lao động, nên muốn hạ
thấp giá trị sức lao động thì phải giảm giá trị các tư liệu sinh hoạt và dịch vụ
cần thiết cho người lao động. Điều đó chỉ được thực hiện bằng cách tăng
năng suất lao động xã hội cho các ngành sản xuất tư liệu tiêu dùng và các
ngành sản xuất tư liệu sản xuất để sản xuất ra các tư liệu sinh hoạt và dịch
vụ.
Giả sử ngày lao động là 8 giờ, nó được chia ra 4 giờ là thời gian lao
động tất yếu, 4 giờ là thời gian lao động thặng dư, khi đó tỷ suất giá trị thặng
dư là 100%. Nhưng khi máy móc được thay đổi, ngày lao động không thay
đổi, thời gian lao động tất yếu của người công nhân chỉ còn lại là 3 giờ, thời
gian lao động thặng dư đã tăng lên là 5 giờ, vì vậy tỷ suất thặng dư đã tăng
lên là 166%. (Đồng nghĩa với trình độ bóc lột tăng lên).
Sự ra đời và phát triển và sử dụng rộng rãi máy móc đã làm cho năng
suất lao động tăng lên nhanh chóng. Máy móc có ưu thế tuyệt đối so với các
công cụ thủ công, vì công cụ thủ công là công cụ lao động do con người trực
tiếp sử dụng bằng sức lao động nên bị hạn chế bởi khả năng sinh lý của con
người, nhưng khi lao động bằng máy móc sẽ không gặp phải những hạn chế
7
đó. Vì thế, việc sử dụng máy móc làm năng suất lao động tăng lên rất cao,
làm giảm giá trị tư liệu sinh hoạt, làm hạ thấp giá trị hàng hoá sức lao động,
rút ngắn thời gian lao động tất yếu kéo dài thời gian lao động thặng dư, giúp
càng nhiều sức lao động làm thuê. Máy móc hiện đại được áp dụng, các lao
động chân tay bị cắt giảm nhưng điều đó không đi đôi với giảm nhẹ cường
độ lao động của người công nhân, mà trái lại do việc áp dụng máy móc
không đồng bộ nên khi máy móc chạy với tốc độ cao, có thể chạy với tốc độ
liên tục buộc người công nhân phải chạy theo tốc độ vận hành máy làm cho
cường độ lao động tăng lên, năng suất lao động tăng, ngoài ra nền sản xuất
hiện đại áp dụng tự động hoá cao cường độ lao động người công nhân tăng
lên với hình thức mới đó là cường độ lao động thần kinh thay thế cho cường
độ lao động cơ bắp, tạo ra sản phẩm chứa nhiều chất xám có giá trị lớn. Nên
sản xuất tư bản chủ nghĩa trong diều kiện hiện đại là sự kết hợp tinh vi của
hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và
tương đối.
2. Ý nghĩa của việc nghiên cứu các phương pháp
sản xuất giá trị thặng dư:
Việc nghiên cứu 2 phương pháp nói trên, khi gạt bỏ mục đích và tính
chất của chủ nghĩa tư bản thì các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư, nhất
là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng dư siêu
ngạch có thể vận dụng trong các danh nghệp ở nước ta nhằm kích thích sản
xuất, tăng năng suất lao động xã hội, sử dụng kỹ thuật mới, cải tiến tổ chức
quản lý, tiết kiệm chi phí sản xuất.
9
Đối với quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân của nước ta, việc
nghiên cứu sản xuất giá trị thặng dư gợi mở cho các nhà hoạch định chính
sách phương thức làm tăng của cải, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trong điều
kiện điểm xuất phát của nước ta còn thấp, để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,
cần tận dụng triệt để các nguồn lực, nhất là lao động và sản xuất kinh doanh.
Về cơ bản lâu dài, cần phải coi trọng việc tăng năng suất lao động xã hội, coi
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân là là giải pháp
cơ bản để tăng năng suất lao động xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
3. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối
chúng chỉ là những nhân tố vô cớ. Điểm xuất phát để nhận thức tầm quan
trọng của học thuyết giá trị thặng dư chính là luận điểm sản phẩm của lao
động thừa vượt quá những chi phí để duy trì lao động và việc xây dựng, tích
luỹ quỹ sản xuất xã hội và dự trữ “Tất cả những cái đó đã và mãi mãi vẫn là
cơ sở cho mọi sự tiến bộ về xã hội, về chính trị và về tinh thần. Nó sẽ là điều
kiện và động cơ kích thích sự tiến bộ hơn nữa…”
Chúng ta lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội từ điểm xuất phát
là nước tiểu nông cũng có nghĩa từ một nước chưa có nền kinh tế hàng hoá
mặc dù có sản xuất hàng hoá. Cái thiếu của đất nước ta – theo cách nói của
C.Mác – không phải là và chủ yếu là cái đó, mà cái chính là chưa trải qua sự
ngự trị của cách tổ chức của kinh tế xã hội theo kiểu tư bản chủ nghĩa.
Đất nước ta đang đứng trước nhiệm vụ cháy bỏng là tạo ra tiền đề thực
tiễn tuyệt đối cần thiết, đó là sự phát triển của sức sản xuất, phát triển kinh tế
11
hàng hoá sẽ tạo ra ngày càng nhiều giá trị thặng dư dù là chúng biểu hiện
những quan hệ xã hội khác nhau. Chúng ta không thể đạt được mục tiêu kinh
tế ấy ngay trong thời gian ngắn mà phải biết rút ngắn những quá trình tất yếu
mà chủ nghĩa tư bản đã phải trải qua và đang thực hiện để có một nền kinh tế
thị trường cực thịnh như ngày nay. Đó là một quá trình phát triển trải qua
nhiều giai đoạn phân công lao động xã hội. Nền kinh tế hàng hoá tư bản chủ
nghĩa hình thành và giá trị thặng dư cũng được sản xuất ra với khối lượng
lớn lao trong sự phân công lao động, đặc biệt khi khoa học công nghệ phát
triển và vận dụng có ý thức, rộng rãi vào sản xuất với quy mô chưa từng có.
Các giai đoạn phát triển sản xuất và chiếm đoạt giá trị thặng dư của chủ
nghĩa tư bản đã diễn ra một cách tự phát và tuần tự. Nhưng đó cũng là những
giai đoạn của một quá trình lịch sử – tự nhiên mà chúng ta chỉ có thể rút
ngắn chứ không thể bỏ qua. Đó cũng là ý nghĩa thực tiễn rút ra từ học thuyết
giá trị thặng dư của C.Mác.
Trong hoàn cảnh đất nước ta hiện nay cần có phương hướng khai thác
và vận dụng những tư tưởng và các nguyên lý của học thuyết giá trị thặng dư
cấp công nhân về nhiều phương diện, song chúng ta không thể bỏ qua hai
khía cạnh:
- Xã hội mới – xã hội chủ nghĩa muốn giải phóng người công nhân từ
người làm thuê thành người làm chủ, song không thể làm chủ, nếu họ không
có sở hữu về tài sản, vốn. Do vậy, giai cấp công nhân ngày nay không còn là
giai cấp vô sản mà phải là giai cấp hữu sản. Thực tiễn đã diễn ra như vậy.
- Giai cấp công nhân muốn giữ vai trò lãnh đạo cách mạng, nếu cơ cấu
của nó được quan niệm như là một lực lượng lao động vận động theo hướng
13
lao động có trí tuệ cao, chiếm tỷ trọng ngày càng nhiều và trở thành đặc
trưng của lao động sống.
Kết quả phát triển khả quan của Việt Nam cho thấy trong những năm
vừa qua nước ta đã xác định đúng mục tiêu và nhiệm vụ của mình, chúng ta
đã đi đúng hướng trong phát triển kinh tế, con đường phát triển kinh tế theo
hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước là hoàn toàn phù hợp nhưng
cũng phải khẳng định rằng Việt Nam phải cố gắng nhiều hơn nữa thì mới có
thể đạt được mục tiêu tới năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công
nghiệp.
14
KẾT LUẬN
Việc nghiên cứu các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư đã giúp cho
chúng ta thấy rằng: Mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá là tạo ra tiềm lực
to lớn, đủ khả năng xây dựng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của toàn
dân, và thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, bảo vệ
vững chắc nền độc lập của tổ quốc. Đó là quá trình phấn đấu lâu dài, gian
khổ, đòi hỏi mọi người phải có hoài bão lớn, quyết tâm cao, chấp nhận
những khó khăn thử tháchvà hy sinh cần thiết để vĩnh viễn đưa dân tộc ta
thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu. Đó là điều mà toàn thể nhân dân Việt Nam
mong đợi và đang cố gắng.
Bài tiểu luận này hi vọng đã có thể cung cấp những kiến thức cơ bản về