BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Đề tài
"Văn hóa Việt Nam so với văn hóa các
nước trong khu vực Đông Nam Á"
Nhóm SVTH: 10 Trang 1
MỤC LỤC
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP 1
Đề tài 1
"Văn hóa Việt Nam so với văn hóa các nước trong khu vực Đông Nam Á" 1
MỤC LỤC 2
Đông Nam Á là khu vực có nền văn hóa lâu đời, được tạo nên từ rất nhiều mối quan
hệ và bản sắc riêng của mỗi dân tộc. Tiếp cận văn hoá Đông Nam Á ngày nay cái cảm
đầu tiên với mỗi người sẽ là một nền văn hoá đa dạng trong thống nhất. Trong kho
tàng văn hoá đồ sộ ấy dẫu có rất nhiều yếu tố chung làm nên cái gọi là “khung” Đông
Nam Á song cũng có không ít những yếu tố đặc sắc, riêng biệt tiêu biểu cho mỗi quốc
gia, mỗi dân tộc 3
Nằm trong tổng thể văn hoá Đông Nam Á, Việt Nam là một trong số ít những quốc
gia hội tụ được nhiều giá trị của nền văn hoá - văn minh phương Đông, mang nhiều
đặc trưng điển hình của một Đông Nam Á thu nhỏ. Sức sống văn hoá Việt Nam cũng
được thể hiện rất đa dạng trên mọi khía cạnh của cuộc sống, xét cả về phương diện vật
chất lẫn tinh thần. Ở mỗi khía cạnh lại có những thành tựu văn hoá đặc sắc riêng,
được tiếp thu, phát huy từ thế hệ này sang thế hệ khác và lưu truyền đến tận ngày nay.
Để hoàn thiện một cái nhìn tổng quát nhất về văn hoá Việt Nam, trong bài báo cáo
này chúng tôi sẽ tiến hành nghiên cứu: Một vài nét khác biệt của văn hoá Việt Nam
với các nước Đông Nam Á, qua đó sẽ giúp chúng ta có thể nhận diện chính xác hơn
những nét riêng có đã làm nên giá trị muôn đời của văn hoá Việt. Khoảnh khắc nhìn
lại đây sẽ thay cho thông điệp của người viết về việc bảo tồn, gìn giữ cho muôn đời
sau những giá trị văn hoá quí giá của dân tộc 3
NỘI DUNG 4
1. Khái quát về văn hoá Đông Nam Á 4
lại có những thành tựu văn hoá đặc sắc riêng, được tiếp thu, phát huy từ thế
hệ này sang thế hệ khác và lưu truyền đến tận ngày nay. Để hoàn thiện một
cái nhìn tổng quát nhất về văn hoá Việt Nam, trong bài báo cáo này chúng tôi
sẽ tiến hành nghiên cứu: Một vài nét khác biệt của văn hoá Việt Nam với các
Nhóm SVTH: 10 Trang 3
nước Đông Nam Á, qua đó sẽ giúp chúng ta có thể nhận diện chính xác hơn
những nét riêng có đã làm nên giá trị muôn đời của văn hoá Việt. Khoảnh
khắc nhìn lại đây sẽ thay cho thông điệp của người viết về việc bảo tồn, gìn
giữ cho muôn đời sau những giá trị văn hoá quí giá của dân tộc.
NỘI DUNG
1. Khái quát về văn hoá Đông Nam Á
1.1. Đông Nam Á - một khu vực địa lý, văn hoá, lịch sử thống
nhất
Về mặt địa lý, Đông Nam Á là khu vực nhiệt đới, gió mùa, khí hậu
nóng ẩm, nắng lắm, mưa nhiều. Xét ở góc độ cảnh quan địa lý, Đông Nam Á
có đủ rừng núi, đồng bằng, sông, biển. Đó là những hằng số tự nhiên góp
phần tạo nên bản sắc thống nhất của văn hoá Đông Nam Á: văn hoá nông
nghiệp lúa nước, văn hoá sông biển và văn minh xóm làng.
Về mặt lịch sử, Đông Nam Á là một trong những cái nôi của nhân loại.
Trong quá trình phát triển, số phận của các dân tộc, các quốc gia Đông Nam
Á thăng trầm theo những bước lên xuống gập ghềnh khá giống nhau. Nơi đây
có chung các nền văn hoá nổi tiếng: văn hoá Hoà Bình, văn hoá Bắc Sơn, văn
hoá Đông Sơn.v.v. Con đường dựng nước và giữ nước của các dân tộc, các
quốc gia Đông Nam Á cũng luôn luôn ở vào một hoàn cảnh tương tự: xây
Nhóm SVTH: 10 Trang 4
dựng nhà nước sơ khai ban đầu theo mô hình tổ chức của Ấn Độ, cùng phải
đối mặt với đế quốc Nguyên Mông, các đế quốc phương Tây và Nhật Bản
1.2. Đông Nam Á - là một khu vực chịu sự ảnh hưởng của các
khía cạnh của văn hoá Đông Nam Á. Dưới đây chỉ xin đơn cử một vài ví dụ
minh hoạ.
Về mặt ngôn ngữ, sự đa dạng của chúng được thể hiện ở chỗ mỗi quốc
gia Đông Nam Á hiện có đến hàng chục, thậm chí hàng trăm ngôn ngữ khác
nhau. Với gần 200 triệu dân sống ở 13.000 hòn đảo, Indonesia có đến hơn 200
ngôn ngữ dân tộc khác nhau cùng tồn tại. Đất nước 7.107 hòn đảo Philippines
cũng có đến khoảng 80 ngôn ngữ dân tộc. Các nước Đông Nam Á khác cũng
là những quốc gia đa ngôn ngữ. Tuy nhiên, dù hết sức đa dạng, nhiều vẻ các
ngôn ngữ Đông Nam Á đều chỉ thuộc về một trong số 4 ngữ hệ như chúng ta
đã biết: Nam Á, Nam Đảo, Thái, Hán Tạng. Và xa hơn nữa, chúng đều bắt
nguồn từ một gốc chung là ngôn ngữ Đông Nam Á tiền sử. Quả là một sự
thống nhất cao độ từ trong cội nguồn của chúng.
Phong tục tập quán là một cái gì hết sức riêng biệt của mỗi dân tộc. Ở
Đông Nam Á có đến hàng trăm dân tộc khác nhau, vì thế các phong tục, tập
quán cũng rất đa dạng. Sự đa dạng của nó đến mức mỗi làng, mỗi bản đều có
những tập tục riêng của mình. Song trong cái hằng hà sa số ấy, người ta vẫn
tìm thấy nhiều đặc điểm chung mang tính chất toàn vùng, mang tính phổ quát
cho cả khu vực. Đó là cách ăn mặc với một trang phục chung là sarông (váy),
khố, rồi vòng đeo tai, vòng đeo cổ.v.v. Đó là tục ăn uống với thức ăn chính là
cơm, rau, cá, và hoa quả. Đó là tục ăn hỏi trước khi tổ chức đám cưới linh
đình. Đó là tục chôn theo người chết những thứ cần thiết cho cuộc sống và
Nhóm SVTH: 10 Trang 6
những thứ mà khi còn sống họ thường ưa thích. Đó là tục nhai trầu, cưa, và
nhuộm răng đen, xăm mình; rồi đến cả những trò vui chơi giải trí như thả
diều, thi chọi gà, bơi thuyền.v.v. Trong cách ăn ở, ngôi nhà chung của các dân
tộc Đông Nam Á là nhà sàn “cao cẳng” thích hợp với mọi địa hình và rất phù
hợp với khí hậu nóng ẩm của khu vực.
Sự đa dạng của phong tục tập quán còn được biểu hiện ở các lễ hội, lễ
tết Đông Nam Á. Có thể nói, ở mỗi dân tộc, mùa nào, tháng nào cũng có lễ
nông thôn, cũng như với nguồn gốc xa xưa, tức là duy trì cái cơ sở chung gắn
liền với quá khứ.
Những yếu tố, những đặc trưng văn hoá mang tính nông thôn còn tồn
tại khá nhiều, chẳng hạn:
- Nông nghiệp lúa nước và tổ chức làng xã có tính chất tự quản thích
hợp với nền nông nghiệp này.
- Quan niệm về gia đình xây dựng trên sự hoà hợp vợ chồng trong đó
vai trò của người phụ nữ được coi trọng.
- Những nghi lễ gắn liền với lá trầu, quả cau trong mọi giao tiếp xã hội.
- Những tín ngưỡng gắn liền với linh hồn cha mẹ, những tàn dư vạn vật
hữu linh vẫn được duy trì cho dù nước này theo Phật giáo, nước kia theo Hồi
giáo hay Thiên chúa giáo.
- Trong văn học vai trò của văn học dân gian vẫn chiếm vị trí quan
trọng, bên cạnh dòng văn học mới ít chịu ảnh hưởng của văn học phương Tây.
Các lĩnh vực văn hoá nghệ thuật khác như âm nhạc, vũ, điêu khắc, hội hoạ
cũng ở trong tình trạng tương tự.
Nhóm SVTH: 10 Trang 8
- Về mặt tâm thức, con người Đông Nam Á coi trọng cộng đồng hơn cá
nhân, thích hoà hợp hơn cạnh tranh, lấy tình nghĩa làm chính trong các quan
hệ giưũa người với người.
Như vậy, nhìn chung có thể đánh giá rằng, Đông Nam Á là một khu
vực có những đặc trưng văn hoá riêng. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, bản
sắc ấy ngày càng được bồi đắp thêm bởi những yếu tố mới tiến bộ. Ngày nay,
các nước Đông Nam Á đều đã giành được độc lập và đang bước vào thời kì
phát triển kinh tế, xây dựng xã hội mới giàu mạnh, tiên tiến, hiện đại. Chỉ với
mấy chục năm khôi phục kinh tế, phát triển đất nước, các quốc gia Đông Nam
Á đã thu được những thành tựu đáng kể. Có được những thành tự ấy, một
trong những lý do quan trọng nhất là bởi khu vực này từ xa xưa đã có một bản
sắc văn hoá chung, đặc sắc mà chỉ ngày nay trong hoàn cảnh thế giới mới, nó
chống giặc và đắp giữ đê trồng lúa), từ đó các bộ lạc nguyên thuỷ phát triển
thành dân tộc.
Giai đoạn văn hoá Văn Lang - Âu Lạc (gần năm 3000 đến cuối thiên
niên kỷ 1 trước CN) vào thời đại đồ đồng sơ khai, trải 18 đời vua Hùng, được
coi là đỉnh cao thứ nhất của lịch sử văn hoá Việt Nam, với sáng tạo tiêu biểu
là trống đồng Đông Sơn và kỹ thuật trồng lúa nước ổn định.
Sau giai đoạn chống Bắc thuộc có đặc trưng chủ yếu là song song tồn
tại hai xu hướng Hán hoá và chống Hán hoá, giai đoạn Đại Việt (từ thế kỉ 10
đến 15) là đỉnh cao thứ hai của văn hoá Việt Nam. Qua các triều đại nhà nước
phong kiến độc lập, nhất là với hai cột mốc các triều Lý - Trần và Lê, văn hoá
Việt Nam được gây dựng lại toàn diện và thăng hoa nhanh chóng có sự tiếp
thu ảnh hưởng to lớn của Phật giáo và Nho giáo.
Sau thời kì hỗn độn Lê - Mạc và Trịnh - Nguyễn chia cắt đất nước, rồi
từ tiền đề Tây Sơn thống nhất đất nước và lãnh thổ, nhà Nguyễn tìm cách
Nhóm SVTH: 10 Trang 10
phục hưng văn hoá dựa vào Nho giáo, nhưng lúc ấy Nho giáo đã suy tàn và
văn hoá phương Tây bắt đầu xâm nhập vào Việt Nam. Kéo dài cho tới khi kết
thúc chế độ Pháp thuộc là sự xen cài về văn hoá giữa hai xu hướng Âu hoá và
chống Âu hoá, là sự đấu tranh giữa văn hoá yêu nước với văn hoá thực dân.
Giai đoạn văn hoá Việt Nam hiện đại được hình thành kể từ những năm
20, 30 của thế kỷ XIX, dưới ngọn cờ của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa
Mác - Lênin. Với sự hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền văn minh thế giới
hiện đại, đồng thời giữ gìn, phát huy bản sắc dân tộc, văn hoá Việt Nam hứa
hẹn một đỉnh cao lịch sử mới.
2.2. Những đặc trưng khác biệt của văn hoá Việt Nam so với
các nước trong khu vực Đông Nam Á
Như chúng ta đã biết, văn hóa là một khái niệm rất rộng, nó bao gồm
tất cả những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá
trình lịch sử của mình. Khi nghiên cứu về văn hóa, nhất là văn hóa của Đông
động lịch sử của cách mạng Mác xít - chủ nghĩa yêu nước chống thực dân,
cuộc tiếp xúc hòa nhập với CNXH hiện thực và giờ đây là "toàn cầu hóa".
Có thể nói mọi nền văn minh đều đi qua ngã tư Việt Nam nhưng khác
với các ngã tư biến thành phố thị, thành trung tâm lớn thì ngã tư Việt Nam
vẫn chỉ là ngã tư để đi qua, để quá cảnh. Làn gió đi qua mát mẻ nhưng sự tích
đọng không nặng nề, thấm đẫm. Việt Nam không theo Phật đậm như
Campuchia, không Khổng đậm như Hàn Quốc, không Kito đậm như
Philippines và không Hồi giáo đậm như Indonesia. Giao tích văn hóa diễn ra
kiểu “ăn hương ăn hoa” khéo léo chắt lấy tinh hoa đấy nhưng cũng hời hợt,
không triệt để, đủ để tạo một khoảng trống cho chủ thể nội tại có thể phát huy
sức sáng tạo của mình.
Để minh chứng rõ hơn về vấn đề này chúng tôi xin đưa ra dẫn chứng về
nét độc đáo của cồng chiêng Tây Nguyên so với các nước Đông Nam Á khác:
Nhóm SVTH: 10 Trang 12
Sự độc đáo và khác biệt cơ bản giữa cồng chiêng Tây Nguyên đối với
cồng chiêng của các nước trong khu vực Đông Nam Á ngoài sự gắn kết với
không gian văn hóa, là sự phong phú trong cơ cấu của các dàn chiêng (riêng
người Gia-rai trước đây đã tồn tại 5 dàn cồng chiêng khác nhau: loại dùng
trong lễ bỏ mả, loại dùng để uống rượu cần, loại dùng khi có đám rước, loại
dùng tế thần lửa và loại dùng để đón người chiến sĩ chiến thắng trở về) và
nhất là sự độc đáo, khác biệt trong cách thức diễn tấu.
Cồng chiêng của các nước Đông Nam Á lục địa: Lào, Campuchia, Thái
Lan, Myanma, các nước hải đảo: Indonesia, Philippines, Malaysia với các dàn
chiêng Gamelan, Gong Kebyar (Indonesia), Kulingtan (Philippines), Khong
wong yai (Thái Lan, Lào), Khong thom (Campuchia), Ky waing (Myanma)
ngoài 1 đến 2 chiếc cồng lớn là treo trên giá (Agong – cặp cồng núm), còn đa
phần là cồng có núm nhỏ, mà mỗi cồng có núm được úp trên một hộp bằng
đồng - Gs. Trần Văn Khê mô tả như hình cái ô trầu có nắp, được sắp đặt theo
một hệ thống cố định trên một giàn tròn bằng mây hoặc giá bằng gỗ. Nhạc
cảm hứng diễn đạt trong quá trình diễn tấu như khom người, nghiêng mình,
cúi mặt ). Cách gõ cồng của Tây Nguyên có hai cách: đánh bằng dùi và đánh
bằng cườm tay. Đánh bằng dùi, nếu là dùi mềm cho âm thanh tròn trĩnh, dịu
dàng, trầm lắng, nếu là dùi cứng cho âm thanh độ mãnh liệt, sắc nhọn. Đánh
bằng cườm tay cho âm thanh cảm giác mờ ảo, xa xăm, huyền bí, hoang sơ.
Bàn tay trái phía sau cồng không chỉ để giữ cồng mà cũng tham gia diễn tấu,
lúc bịt lúc mở mặt chiêng để tạo tiếng ngắt, tiếng ngân theo từng sắc thái của
bài chiêng.
Bởi vậy có thể khẳng định: “không bao giờ bật gốc qua các cơn bão
lốc, luôn bảo tồn cái vốn có một cách dai đẳng, khéo léo nhưng cũng không
đột biến, bùng phát tới một đỉnh nào” - chính là nét khác biệt dễ nhận thấy
nhất trong văn hóa Việt Nam”. Chính yếu tố này đã tạo nên một nền văn hoá
Nhóm SVTH: 10 Trang 14
Việt Nam vừa truyền thống vừa có sự tiếp biến mềm mại không làm mất đi
bản sắc riêng của dân tộc.
2.2.2. Văn hoá Việt Nam và con đường “trung dung” vừa
phải
Không cực đoan, không triệt để, không đi tới cùng, không quá khích,
không đồ sộ, không lấn át, không cuồng nhiệt mà mềm dẻo, linh hoạt, bền
bỉ, xinh xắn, khôn khéo, có tình, có nghĩa đại loại đó là người Việt và Việt
Nam. Sông dài, biển rộng, núi cao nhưng ấn tượng sâu sắc về non sông Việt
là những cái đèo và những sông nhỏ hiền lành Cầu, Đường, Hương, Thu
Bồn Trong văn chương, hội họa, phong cảnh không phải biển hùng vĩ như
biển hồ Tonle sap (Campuchia) hay những ngọn núi lửa phun đầy hoang dại
như Cụm núi lửa Tengger Caldera (Indonesia). Kiến trúc thì cũng xinh xắn, to
nhất là các đình, hoàng cung Huế cũng rất vừa phải, các quốc tự quốc tháp
(trong tứ đại khí) thời Lý Trần cũng rất xinh so với chùa tháp ở Thái Lan,
Malaysia và thật nhỏ bé so với Ăngco hay Borobudua.
Vẻ đẹp đàn bà không "nghiêng nước, nghiêng thành", "chim sa cá lặn"
Thời kỳ thuộc Pháp, chữ Hán dần bị loại bỏ, thay thế bằng tiếng Pháp
dùng trong ngôn ngữ hành chính, giáo dục, ngoại giao. Nhưng nhờ chữ Quốc
ngữ, có lợi thế đơn giản về hình thể kết cấu, cách viết, cách đọc, văn xuôi
tiếng Việt hiện đại thực sự hình thành, tiếp nhận thuận lợi các ảnh hưởng tích
cực của ngôn ngữ văn hóa phương Tây.
Chữ quốc ngữ là sản phẩm của một số giáo sĩ phương Tây trong đó có
Alexandre de Rhodes hợp tác với một số người Việt Nam dựa vào bộ chữ cái
Latinh để ghi âm tiếng Việt dùng trong việc truyền giáo vào thế kỉ 17. Chữ
quốc ngữ dần được hoàn thiện, phổ cập, trở thành công cụ văn hóa quan
trọng. Cuối thế kỉ 19, đã có sách báo xuất bản bằng chữ quốc ngữ.
Nhóm SVTH: 10 Trang 16
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, tiếng Việt và chữ quốc ngữ giành
được địa vị độc tôn, phát triển dồi dào, là ngôn ngữ đa năng dùng trong mọi
lĩnh vực, ở mọi cấp học, phản ánh mọi hiện thực cuộc sống. Ngày nay, nhờ
cách mạng, một số dân tộc thiểu số ở Việt Nam cũng có chữ viết riêng.
Đặc điểm của tiếng Việt: đơn âm nhưng vốn từ cụ thể, phong phú, giầu
âm sắc hình ảnh, lối diễn đạt cân xứng, nhịp nhàng, sống động, dễ chuyển đổi,
thiên về biểu trưng, biểu cảm, rất thuận lợi cho sáng tạo văn học nghệ thuật.
2.2.3. Văn hoá làng - tổ chức cộng đồng căn bản của văn hoá
Việt
Cộng đồng người Việt được tổ chức theo các đơn vị cơ bản là làng. Các
nhà nghiên cứu về làng xã Việt Nam cũng đã thừa nhận rằng: “Làng kiểu Việt
Nam, nhất là ở Bắc Bộ không thấy ở nơi nào khác trên thế giới.” Cái làng
phát triển nhất cũng không là tiền thân đô thị phong kiến hay tư bản như ở các
nước khác. Nó không chỉ là nơi tụ hội, cố kết các phong tục tập quán và
những thành tựu văn hóa dân gian như từ Phan Kế Bính tới các nhà nghiên
cứu văn hóa dân gian hiện nay quan niệm.
Làng là một tổ chức khá khép kín. Về quy hoạch, làng là một cụm dân
cư nông nghiệp, thủ công nghiệp với diện tích nhỏ. Về hành chính, nó không
cũng như những hiện tượng tiêu cực của văn hóa Việt Nam thời phong kiến.
Nhận định, đánh giá
Như vậy, có thể nói Văn hóa dân tộc Việt Nam nảy sinh từ một môi
trường sống cụ thể: xứ nóng, nhiều sông nước, nơi gặp gỡ của nhiều nền văn
minh lớn. Điều kiện tự nhiên (nhiệt, ẩm, gió mùa, sông nước, nông nghiệp
trồng lúa nước ) đã tác động không nhỏ đến đời sống văn hóa vật chất và
tinh thần của dân tộc, đến tính cách, tâm lý con người Việt Nam.
Tuy nhiên, điều kiện xã hội và lịch sử lại là những yếu tố chi phối rất
lớn đến văn hóa và tâm lý dân tộc. Cho nên cùng là cư dân vùng trồng lúa
Nhóm SVTH: 10 Trang 18
nước, vẫn có những điểm khác biệt về văn hóa giữa Việt Nam với Thái Lan,
Lào, Indonesia, Ấn Độ Cùng cội nguồn văn hóa Đông Nam Á, nhưng do sự
thống trị lâu dài của nhà Hán, cùng với việc áp đặt văn hóa Hán, nền văn hóa
Việt Nam đã biến đổi theo hướng mang thêm các đặc điểm văn hóa Đông Á.
Dân tộc Việt Nam hình thành sớm và luôn luôn phải thực hiện các cuộc
chiến tranh giữ nước, từ đó tạo nên một đặc trưng văn hóa nổi bật: tư tưởng
yêu nước thấm sâu và bao trùm mọi lĩnh vực. Các yếu tố cộng đồng có nguồn
gốc nguyên thuỷ đã sớm được cố kết lại, trở thành cơ sở phát triển chủ nghĩa
yêu nước và ý thức dân tộc. Chiến tranh liên miên, đó cũng là lý do chủ yếu
khiến cho lịch sử phát triển xã hội Việt Nam có tính bất thường, tất cả các kết
cấu kinh tế - xã hội thường bị chiến tranh làm gián đoạn, khó đạt đến điểm
đỉnh của sự phát triển chín muồi. Cũng vì chiến tranh phá hoại, Việt Nam ít
có được những công trình văn hóa-nghệ thuật đồ sộ, hoặc nếu có cũng không
bảo tồn được nguyên vẹn.
Qua những nét đặc trưng căn bản trên chúng ta có thể đưa ra nhận định
như sau: Bản sắc văn hóa Việt, thế mạnh của nó chính là tính lưỡng căn - hai
gốc rễ ( lưỡng thể vừa văn hóa biển vừa văn hóa đại lục) - Đông Á - Đông
Nam Á. Ta “gần” – “giống” Trung Hoa, Nhật Bản - Triều Tiên bao nhiêu thì
cũng gần Thái, Malaysia, Indonesia bấy nhiêu. Chính yếu tố lưỡng căn vừa
giáo bàng bạc (religosité), không cuồng tín. Ảnh hưởng còn mạnh của các tín
ngưỡng bản địa (vật linh). Tín ngưỡng dân gian sống dẻo dai và hoà trộn cả
vào các tôn giáo chính thống. Các tôn giáo bên ngoài du nhập vào Việt Nam
không làm mất đi tín ngưỡng dân gian bản địa mà hoà quyện vào nhau làm
cho cả hai phía đều có những biến thái nhất định. Ví dụ Nho giáo không hạ
thấp được vai trò người phụ nữ, việc thờ Mẫu ở Việt Nam rất thịnh hành.
Tính đa thần, dân chủ, cộng đồng được thể hiện ở việc thờ tập thể gia tiên, thờ
nhiều cặp thần thánh, vào một ngôi chùa thấy không chỉ thờ Phật mà thờ cả
nhiều vị khác, thấn linh có mà người thật cũng có. Và có lẽ chỉ ở Việt Nam
Nhóm SVTH: 10 Trang 20
mới có chuyện con cóc kiện cả ông Trời, cũng như môtíp người lấy tiên trong
các chuyện cổ tích. Đây chính là những nét riêng của tín ngưỡng Việt Nam.
- Ở Việt Nam không có một hệ thống lý luận triết học và tư tưởng
riêng, thiếu triết gia tầm cỡ quốc tế, nhưng không có nghĩa là không có những
triết lý sống và những tư tưởng phù hợp với dân tộc mình:
+ Xã hội nông nghiệp có đặc trưng là tính cộng đồng làng xã với nhiều
tàn dư nguyên thuỷ kéo dài đã tạo ra tính cách đặc thù của con người Việt
Nam. Người Việt có tinh thần cộng đồng cao; dân tộc sớm phát triển (gia đình
- làng - nước). Lý do: tập hợp chống ngoại xâm, đắp đê. Hạt nhân: làng xã cổ
truyền. Tinh thần yêu nước là yếu tố chủ đạo trong việc cố kết làng xã.
+ Đó là một lối tư duy lưỡng hợp (dualisme), một cách tư duy cụ thể,
thiên về kinh nghiệm cảm tính hơn là duy lý, ưa hình tượng hơn khái niệm,
nhưng uyển chuyển linh hoạt, dễ dung hợp, biết thích nghi để tồn tại, ứng xử
mềm mỏng, dung hoà. Như với trường hợp của phát triển của tôn giáo Việt
Nam, thời Lý-Trần, Phật giáo cực thịnh nhưng vẫn đón nhận cả Nho giáo,
Lão giáo, tạo nên bộ mặt văn hóa mang tính chất "Tam giáo đồng nguyên" (cả
ba tôn giáo cùng tồn tại).
+ Quen sống thanh bạch, đơn sơ mộc mạc. Do đó thích cái bình dị, cái
khéo, xinh, duyên dáng hơn tìm cái huy hoàng tráng lệ. Nghệ thuật tạo hình