LUẬN VĂN:
Sự tuần hoàn của tư bản Lời mở đầu
Sự tuần hoàn của tư bản ở đây là gì?
Nó được hiểu như một chu kỳ hay một vòng quay của tiền tệ, sự tuần hoàn đó nó sẽ
không mất đi mà chỉ biến đổi từ dạng này sang dạng khác, nó được hiểu qua công thức
sau:
T - H - T'
T - là số tiền tệ (tư bản), bỏ ra ban đầu để mua tư liệu sản xuất, sức lao động, sau đó
biến thành "H" đem bán để thu về một lượng giá trị là T'. T' ở đây là số tiền hay giá trị kết
tinh của sản xuất hàng hoá mà chúng ta nói một cách chính xác hơn là lợi nhuận mà nhà tư
bản thu được qua quá trình đầu tư sản xuất. Mỗi quá trình của tư bản, tiền tệ càng lớn thì
Quá trình này thể hiện như sau:
Slđ
T -
H
TLsx
Rõ ràng, trong quá trình này hành vi T - Slđ (việc mua sức lao động) là yếu tố đặc
trưng khiến tiền xuất hiện ngay từ đầu với tư cách là tư bản. Hành vi T - Tlsx chỉ cần thiết
để sức lao động đã mua có thể hoạt động được song T - Slđ được coi là nét đặc trưng của
phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa không phải do tính chất tiền tệ của mối quan hệ đó.
Tiền đã xuất hiện rất sớm để mua cái được gọi là sự phục vụ, nhưng tiền lúc ấy vẫn không
biến thành tư bản tiền tệ. Nét đặc trưng không phải ở chỗ người ta có thể mua sức lao động
bằng tiền, mà sức lao động biến thành hàng hoá. Đây là một việc mua bán, một quan hệ
hàng hoá tiền tệ, những người mua là nhà tư bản - kẻ chiếm hữu tư liệu sản xuất và người
bán là người lao động làm thuê bị tách rời hoàn toàn với tư liệu sản xuất và tư liệu sinh
hoạt. Vậy không phải bản chất của tiền tệ đã đẻ ra mối quan hệ tư bản chủ nghĩa; trái lại,
chính sự tồn tại của quan hệ tư bản chủ nghĩa mới làm cho chức năng của tiền tệ là công cụ
của lưu thông hàng hoá nói chung biến thành chức năng của tư bản. Do đó, trên cơ sở tư
liệu sản xuất và sức lao động đã hoàn toàn bị tách rời nhau, quan hệ giai cấp giữa nhà tư
bản và người lao động làm thuê đã có rồi, thì tiền của nhà tư bản ứng ra để thực hiện hành
vi:
Slđ
Tlsx
Hoàn thành quá trình này, giá trị tư bản đã trút bỏ hình thái tiền tệ và mang hình thái
các yếu tố của sản xuất TBCN: tư liệu sản xuất và sức lao động, tức là hình thái tư bản sản
xuất. Như vậy, kết quả của giai đoạn thứ 1' là tư bản tiền tệ biến thành tư bản sản xuất.
b. Giai đoạn thứ hai: SX
Tư bản ứng ra mua hàng hoá sức lao động tư liệu sản xuất nhằm mục đích thu về một
biến thành tư bản hàng hoá.
c. Giai đoạn thứ ba: H ' - T'
Sản xuất hàng hoá, tư bản chưa thể ngừng vận động nhà tư bản đang tồn tại dưới hình
thức hàng hoá, cần phải đem bán để thu tiền về.
Quá trình này có thể biểu hiện bằng công thức H' - T'. Không khác gì hàng hoá thông
thường, hàng hoá tư bản đưa ra lưu thông cũng chỉ thực hiện chức năng vốn có của hàng
hoá là bán để lấy tiền. Nhưng nó là tư bản hàng hoá người ngay sau khi quá trình sản xuất,
nó đã là hàng hoá, có giá trị bằng giá trị tư bản ứng trước và giá trị thặng dư. Nhờ vậy, tiến
hành trao đổi theo đúng quy luật giá trị của nó thu về được T', nghĩa là thu về được số tiền
trội hơn so với số tiền ứng ra ban đầu. Chức năng của H' không chỉ là chức năng của mọi
sản phẩm hàng hoá, mà quan trọng hơn còn là chức năng thực hiện giá trị thặng dư được
tạo ra trong qúa trình sản xuất. Kết thúc giai đoạn này, tư bản hàng hoá đã biến thành tư
bản tiền tệ. Đến đây, mục đích của tư bản được thực hiện. Tư bản trở lại hình thái ban đầu,
với số lượng lớn hơn trước.
Tổng hợp quá trình vận động của tư bản trong cả ba giai đoạn, ta có công thức:
Slđ
Tlsx
Trong công thức này, với tư cách là một giá trị, tư bản đã trải qua một chuỗi biến hoá
hình thái có quan hệ với nhau, qui định lẫn nhau; có bao nhiêu biến hoá hình thái là có bấy
nhiêu thời kỳ hay giai đoạn của quá trình vận động từ tư bản. Trong giai đoạn đó, có hai
giai đoạn thuộc lĩnh vực lưu thông và một giai đoạn thuộc lĩnh vực sản xuất. Sự vận động
của tư bản trải qua đoạn, lần lượt mang ba hình thái rồi quay trở về hình thái ban đầu với
giá trị không chỉ được bảo tồn mà còn tăng lên, gọi là sự tuần hoàn của tư bản.
ố sản xuất
G. đoạn II
Hình thức tư
bản sản xuất.
Chức năng sản
xuất ra hàng
hoá t
ạo ra
G. đoạn III.
Hình thức tư
bản hàng hoá.
Chức năng thực
hiện giá trị
và giá tr
ị Tư bản tiền tệ, tư bản sản xuất và tư bản hàng hoá đều không phải là những loại tư
bản độc lập mà chỉ là những hình thái chức năng đặc thù của tư bản công nghiệp. Tư bản
này lần lượt mang 3 hình thái và xét trong qúa trình vận động liên tục, mỗi hình thái đều
có thể xem là điểm xuất phát đồng thời là điểm hồi qui của nó. Vì vậy, tư bản công nghiệp
vận động đồng thời cùng một lúc dưới cả 3 dạng tuần hoàn: tuần hoàn của tư bản tiền tệ,
tuần hoàn của tư bản sản xuất, tuần hoàn củatư bản hàng hoá.
a. Dưới chủ nghĩa tư bản, tư bản cho vay là một bộ phận của tuần hoàn tư bản công
nghiệp dưới hình thức tư bản tiền tệ tách ra. Trong quá trình tuần hoàn của tư bản công
nghiệp tất yếu sẽ dẫn đến hai hiện tượng ngược nhau: Một số nhà tư bản có một lượng tiền
tạm thời chưa dùng đến, họ cần cho vay để thu lợi tức; trong khi đó, một số nhà tư bản
khác cần tư bản để mua NVL, cần mở rộng kinh doanh mà chưa tích luỹ đủ vốn họ cần
phải đi vay. Từ đó xuất hiện tư bản cho vay.
được liên tục.
c. Trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, tư bản thương nghiệp là một bộ phận của tư
bản công nghiệp dưới hình thái tư bản hàng hoá tách ra. Nó được hình thành khi có một số
thương nhân ứng tư bản tiền tệ ra đảm bảo việc mua và bán hàng hoá cho tư bản công
nghiệp nhằm mục đích thu lơị nhuận. Tư bản thương nghiệp là tư bản hoạt động trong lĩnh
vực lưu thông hàng hoá. Nó thực hiện chức năng của tư bản hàng hoá đã tách ra khỏi quá
trình tuần hoàn của tư bản công nghiệp. Sự tách rời này phản ánh sự phát triển sản xuất và
phân công lao động xã hội.
Ra đời từ tư bản công nghiệp, tư bản thương nghiệp có quan hệ hai mặt đối với tư
bản công nghiệp: sự "phụ thuộc ở bên trong" và "độc lập ở bên ngoài".
Tuần hoàn của tư bản hàng hoá có công thức: H' - T' - H SX H' khác hẳn với các
hình thái tuần hoàn khác, điểm xuất phát của nó bao giờ cũng bắt đầu bằng H' - một giá trị
đã tăng thêm giá trị, một giá trị tư bản ứng trước đã chứa đựng giá trị thặng dư với bất kỳ
qui mô như thế nào. Do đó tuần hoàn tư bản hàng hoá có một số đặc điểm sau đây:
- Ngay từ đầu nó đã biểu hiện là hình thái của sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa
nên đã bao gồm cả tiêu dùng sản xuất và tiêu dùng cá nhân.
- Kết thúc bằng H chứ chưa chuyển hoá trở lại thành tiền đã tăng thêm giá trị mới
(T'), nó là hình thái chưa hoàn thành, còn phải tiếp tục vận động. - Tuần hoàn của tư bản hoàng hoá là hình thái nổi bật sự liên tục của lưu thông hàng
hoá. H' là điểm bắt đầu tuần hoàn và H' điểm kết thúc tuần hoàn đều biểu hiện một khối
lượng giá trị sử dụng được sản xuất ra để bán. Do đó H' điểm bắt đầu tuần hoàn đòi hỏi lưu
thông thì điểm kết thúc H' cũng đòi hỏi ngay một qúa trình lưu thông mới.
- Hình thái tuần hoàn này còn trực tiếp bộc lộ mối quan hệ giữa những người sản
xuất hàng hoá với nhau. Nó không phải là một hình thái vận động chung cho mọi tư bản
công nghiệp cá biệt - mà đồng thời còn là hình thái vận động của tổng số những tư bản cá
biệt, tức là toàn bộ tư bản của các giai cấp các nhà tư bản, là một vận động trong đó vận
động của mỗi một tư bản công nghiệp cá biệt chỉ là một vận động bộ phận, chằng chịt với
những vận động của các tư bản khác nhau và được qui định bởi những vận động này.
với việc sản xuất và giá trị thặng dư.
2.1. Thời giai chu chuyển và số vòng chu chuyển.
Thời gian chu chuyển của tư bản là khoảng thời gian là khi nhà tư bản ứng một
lượng tư bản ra dưới một hình thái nào đó cho đến khi nó chở về tay nhà tư bản cũng dưới
hình thái như thế có thêm giá trị thặng dự.
Vì chu chuyển của tư bản chỉ là tuần hoàn của tư bản xét trong một quá trình định kỳ
nên thời gian chu chuyển của tư bản cũng là thời gian tư bản trải qua các gian đoạn lưu
thông và sản xuất trong quá trình tuần hoàn tức là bằng tổng thời gian lưu thông và thời
gian sản xuất cộng lại.
Thời gian sản xuất của tư bản là thời gian tư bản nằm trong lĩnh vực sản xuất. Thời
gian sản xuất bao gồm:
- Thời gian lao động trực tiếp: Là thời gian người lao động dùng tư liệu lao động tác
động vào đối tượng lao động để tạo ra sản phẩm. Đây là thời gian đầu tạo ra giá trị và giá
trị thặng dư cho nhà tư bản.
- Thời gian gián đoạn lao động: Là thời gian đối tượng lao động hoặc bán thành
phẩm, chịu sự tác động của tự nhiên mà không cần lao động của con người góp sức hoặc
nếu có không đáng kể.
Thời gian lao động trực tiếp và thời gian gián đoạn lao động có thể xen kẽ vào nhau,
cũng có thể tách thành những thời kỳ riêng biệt tuỳ thuộc từng ngành sản xuất cụ thể. Thời gian gián đoạn lao động không tạo ra giá trị và giá trị thặng dư. Do đó, rút ngắn
thời gian này là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với các xí nghiệp tư bản chủ
nghĩa.
Thời gian sản xuất của tư bản dài hay ngắn do tác động của nhiều yếu tố, chủ yếu là 4
nhân tố sau đây:
- Tính chất của ngành sản xuất.
- Sản phẩm sản xuất chịu sự tác động của quá trình tự nhiên dài
hay ngắn.
- Năng xuất lao động, trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật cao
phận tư bản không giống nhau, do đó vòng chu chuyển của chúng cũng rất khác nhau.
Trong lĩnh vực kinh tế người ta phân chia các bộ phận tư bản thành tư bản cố định và tư
bản lưu động.
Tư bản cố định là bộ phận tư bản tham gia toàn bộ vào quá trình sản xuất, nhưng giá
trị của nó chỉ chuyển từng phần sang sản phẩm. Được xếp vào tư bản cố định trước hết là
bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thái tư liệu lao động như máy móc, nhà xưởng đang được
sử dụng trong quá trình sản xuất. Tư liệu lao động càng bền, càng có giá trị thì càng chậm
hao mòn bấy nhiêu thời gian và giá trị khấu hao càng nhiều. Do bản chất của tư bản cố
định là chỉ chuyển một phần giá trị của nó sang sản phẩm chứ không chuyển toàn bộ giá trị
nên thông thường khi mua dây chuyền sản xuất có giá trị cao các công ty thường tính khấu
hao đều trong nhiều năm nhằm giảm giá thành sản phẩm giúp sản phẩm có chỗ đứng trên
thị trường cạnh tranh.
Bộ phận tư bản này không lưu thông dưới hình thái giá trị sử dụng của nó chỉ có giá
trị của nó lưu thông và lưu thông dần từng phần theo nhịp độ giá trị đó được chuyển vào
sản phẩm. Phần giá trị cố định như vậy trong tư liệu lao động không ngừng giảm cho đến
khi tư liệu lao động không thể dùng được nữa.
Tư bản lưu động là một bộ phận tư bản sản xuất mà giá trị của nó sau một thời kỳ sản
xuất có thể hoàn lại hoàn toàn cho nhà tư bản dưới hình thức tiền tệ, sau khi hàng hoá đã
bán song. Ngược lại với tư bản cố định, tư bản lưu động chuyển toàn bộ gía trị sang sản
phẩm trong quá trình sản xuất. Đó là tư bản bất biến dưới hình thái nguyên liệu, vật liệu phụ, nhiên liệu tiêu dùng trong quá trình sản xuất. Bộ phận tư bản khả biến xét về
phương thức chu chuyển cũng giống như bộ phận tư bản bất biến lưu động nên cũng được
xét vào tư bản lưu động.
Sự phân chia tư bản thành tư bản cố định và tư bản lưu động là đặc điểm riêng của tư
bản sản xuất. Căn cứ vào sự phân chia là phương thức chu chuyển của tư bản. Tư bản cố
định chu chuyển chậm hơn tư bản lưu động. Trong khi tư bản cố định chu chuyển được 1
vòng thì tư bản lưu động có thể chu chuyển được nhiều vòng hơn.
Xác định tư liệu sản xuất là tư bản cố định hay tư bản lưu động phải căn cứ vào chức
những chi phí sửa chữa lớn có tính chất thay thế hay đổi mới tư bản cố định tính vào quĩ
khâú hao TSCĐ.
2.3. Chu chuyển chung, chu chuyển thực tế của tư bản ứng trước và tỉ suất giá trị
thặng dư hàng năm.
a. Chu chuyển chung.
Tốc độ chu chuyển của tổng tư bản ứng trước được tính bằng tốc độ chu chuyển
trung bình của tư bản cố định và tư bản lưu động. Công thức tính tốc độ chu chuyển của
tổng tư bản ứng trước được tính bằng giá trị chu chuyển của tư bản cố định và giá trị chu
chuyển của tư bản lưu động trong năm chia cho tổng số tư bản ứng trước.
Ví dụ: Tổng tư bản ứng trước là 80.000 đ, trong đó tư bản cố định là 60.000đ và cứ
10 năm phải đổi mới 1 lần tức 1 năm chu chuyển giá trị của nó vào sản phẩm mới
60.000
10
= 6.000đ; còn tư bản lưu động là 20.000 và cứ 2 tháng chu chuyển một lần tức 1 năm
chuyển một số giá trị vào sản phẩm mới là 20.000 x 6 = 120.000đ thì tốc độ chu chuyển
của tổng tư bản ứng trước bằng
120.000 + 6.000
80.000
= 1,575 vòng.
Qua ví dụ trên chỉ rõ tốc độ chu chuyển của tổng tư bản tỉ lệ thuận với tổng giá trị
chu chuyển của tư bản cố định và tư bản lưu động, tỉ lệ nghịch với giá trị của tổng tư bản
ứng trước.
Tăng tốc độ chu chuyển của tư bản sẽ tăng được hiệu suất sản xuất và mang lại giá trị
thặng dư nhiêù hơn cho nhà tư bản. Tăng tốc độ chu chuyển của tư bản cố định còn giúp nhà tư bản có thể tránh được thiệt hại do hao mòn và tăng cường sử dụng quĩ khấu hao vào
việc mở rộng và cải tiến sản xuất.
b. Chu chuyển thực tế.
cũng khác nhau. Tư bản A đạt tỉ suất giá trị thặng dư hàng năm là
20.000
20.00
x 100% = 100%;
tư bản B đạt tỉ suất giá trị thặng dư là
40.000
20.000
x 100% = 200%.
Tuy hai tư bản khả biến ứng trước như nhau nhưng do tốc độ chu chuyển khác nhau
nên tư bản khả biến sử dụng khác nhau và do đó tuy tỉ suất giá trị thặng dư thực tế như
nhau lại dẫn đến tỉ suất giá trị thặng dư hàng năm khác nhau.
III. ý nghĩa thực tiễn khi nghiên cứu lý thuyết thuần hoàn và chu chuyển của tư
bản đối với việc quản lý các doanh nghiệp ở nước ta khi bước vào nền kinh tế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước.
Tại Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng cho nền
kinh tế nước ta, từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước. Trước năm 1986 quan hệ ngoại giao của nước ta với
các nước trên thế giới rất mờ nhạt, chủ yếu quan hệ với một số nước anh em như: Liên Xô
(cũ), Trung Quốc, Bungari với mục đích tiếp tục nhận viện trợ . Nền kinh tế trong nước
còn đang yếu, các doanh nghiệp sản xuất theo lệnh từ cấp trên đưa xuống và cũng chính
Nhà nước tìm cách tiêu thụ sản phẩm cho doanh nghiệp bên cạnh đó lạm phát luôn là mức
phi mã. Từ khi chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước các doanh
nghiệp có trách nhiệm duy trì, bảo tồn và phát triền nguồn vốn hiện có nghĩa là doanh
nghiệp tự mình sản xuất kinh doanh tìm "đầu vào" và "đầu ra" cho doanh nghiệp. Về phía
Nhà nước lúc này chỉ quản lý các doanh nghiệp ở tầm vĩ mô. Do đó nghiên cứu lý thuyết
thuần hoàn của tư bản rất có ý nghĩa đối với việc quản lý các doanh nghiệp ở nước ta trong
nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
Thứ nhất: xác định đường lối sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp.
Hiện nay nước ta đang tồn tại song song 5 phần kinh tế. Cùng với sự xuất hiện của
những doanh nghiệp mới thành lập đã có rất nhiều doanh nghiệp làm ăn không có hiệu quả
tiết kiệm các chi phí bảo quản và sửa chữa bằng cách nâng cao ý thức người lao động đối
với việc sử dụng máy móc, tăng cường sử dụng hết công suất máy thiết kế để thu hồi vốn
nhanh và thu nhiều lợi nhuận trong thời gian ngắn nhất.
Thứ ba: đưa ra các giải pháp để tăng tốc độ chu chuyển vốn. Muốn quay vòng vốn nhanh để tiếp tục một chu kỳ sản xuất mới các doanh nghiệp
phải ra sức rút ngắn thời gian sản xuất và thời gian lưu thông vì nó là thành phần tạo nên
thời gian chu chuyển của vốn. Các doanh nghiệp ở nước ta trong cơ chế thị trường có sự
quản lý của nhà nước thường đưa ra những giải pháp sau đây để rút ngắn thời gian sản
xuất.
+ áp dụng khoa học - kỹ thuật hiện đại để tăng năng suất lao động. Bên cạnh việc
nhập khẩu một số dây chuyền nước ngoài có công nghệ tiên tiến các doanh nghiệp không
nên bỏ qua những dây chuyền sản xuất có khả năng sử dụng bằng cách bán lại cho những
doanh nghiệp cần nó.
+ Mở rộng quan hệ để liên doanh, liên kết. Việt Nam là một trong những nước nghèo
nhất trên thế giới do đó liên doanh liên kết là con đường ngắn nhất để bắt kịp với sự tiến
bộ của xã hội.
+ Cải tiến bộ máy tổ chức và quản lý lao động. Hiện nay một số doanh nghiệp nhà
nước có cơ cấu tổ chức quản lý cồng kềnh dẫn đến giải quyết công việc bị chồng chéo lên
nhau,vi phạm quyền hạn và trách nhiệm của người này với người khác. Vì vậy, các doanh
nghiệp cần phải giảm lực lượng lao động gián tiếp không có năng lực để bộ máy được gọn
nhẹ linh hoạt, tuân thủ chế độ một thủ trưởng. Mặt khác lực lượng lao động trực tiếp là
người sản xuất ra sản phẩm nên phải bố trí ca kíp làm việc hợp lý cho mọi người để có
thời gian nghỉ ngơi. Thực hiện chế độ làm việc 40 giờ một tuần đồng thời trả lương xứng
đáng cho người lao động đã bỏ sức ra, khuyến khích người lao động làm việc có năng suất,
hiệu quả bằng những phần thưởng vật chất và tinh thần.
Một số giải pháp rút ngắn thời gian lưu thông.
+ Nhu cầu của con người thường xuyên biến đổi, khi một nhu cầu này được thoả mãn
vận động đó.
Nước ta sau hơn 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới chuyển từ nền kinh tế tập
trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường đã thu được nhiều kết quả to lớn đáng
khả quan. Bộ mặt đất nước đã và đang thay đổi một cách nhanh chóng, đời sống nhân dân
được cải thiện và nâng cao. Đặc biệt trong một vài năm trở lại đây kinh tế thị trường đã tạo
ra một môi trường kinh tế hết sức sôi động và cạnh tranh gay gắt do đó để tồn tại và đứng
vững trên thị trường các doanh nghiệp cần kết hợp phân tích lý thuyết tuần hoàn và chu
chuyển của tư bản với điều kiện hiện có của doanh nghiệp. Do lần đầu tiên với việc nghiên
cứu môn Kinh tế chính trị và thời gian có hạn nên không thể tránh được những sai sót
trong quá trình thực hiện. Tài liệu tham khảo 1. C.Mác tư bản quyển 2 - Tập 1
2. C.Mác tư bản quyển 2 - Tập 2
3. Chính sách cổ phần hoá DNNN (NXB chính trị quốc gia 1997)
4. Một số văn kiện Đại hội Đảng VIII
5. Giáo trình “Kinh tế chính trị” tập II - Trường ĐH KTQD
6. Tạp chí “Tài chính tiền tệ” số 2, 05, 18 năm 1999
7. Tạp chí “Phát triển kinh tế” các số: 20-22/2000
8. Tạp chí “Ngân hàng” số 4/2000
9. Tạp chí “Doanh nghiệp” số 8/2000
Mục lục
2.3. Chu chuyển chung, chu chuyển thực tế của tư bản ứng trước và tỉ
suất giá trị thặng dư hàng năm
15
III/ ý nghĩa thực tiễn khi nghiên cứu lý thuyết tuần hoàn và chu
chuyển của tư bản đối với việc quản lý các doanh nghiệp ở nước ta
khi bước vào nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước
17
Kết luận
21