LUẬN VĂN:
Lý luận của Lê nin về chủ nghĩa tư
bản nhà nước trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội Lời nói đầu
Lê nin không những là vị lãnh tụ vĩ đại của nước Nga mà còn là một danh nhân lớn của
thế giới. Suốt cuộc đời ông đã sống và đấu tranh cho giai cấp vô sản, cho chủ nghĩa xã hội và
ông đã để lại cho thế hệ sau nhiều di sản quý báu. Một trong số đó là lý luận về chủ nghĩa tư
bản nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Lý luận đó chẳng những có vị trí rất
quan trọng trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô cũ mà còn có ý nghĩa rất to
lớn đối với những nước hiện nay đang quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong đó có nước ta.
Lý luận đó được Lê- nin trình bày trong hệ thống chính sách “Kinh tế mới” - NEP. Theo
Lê nin đối với những nước có nền kinh tế tiểu nông như nước Nga - khi mà cơ sở vật chất kỹ
thuật của chủ nghĩa xã hội chưa có- thì việc chuyển sang chủ nghĩa xã hội tất yếu phải trải
qua một loạt những bước quá độ, cần phải: “ bắc những chiếc cầu nhỏ vững chắc đi xuyên
qua chủ nghĩa tư bản nhà nước tiến lên chủ nghĩa xã hội ”; “ phải lợi dụng chủ nghĩa tư bản
1.1.1. Hoàn cảnh ra đời của chính sách “ Kinh tế mới ”.
1.1.1.1. Chính sách “ Kinh tế cộng sản thời chiến ”.
Sau thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại, nước xã hội chủ nghĩa đầu
tiên trên thế giới ra đời. Cách mạng Xô Viết tranh thủ giải quyết những vấn đề cấp bách, củng
cố chính quyền của giai cấp vô sản, đặt nền móng cho việc xây dựng nền kinh tế xã hội chủ
nghĩa.
Đầu năm 1918, Lê nin đã đề ra kế hoạch khôi phục lại nền kinh tế và kế hoạch phát triển
kinh tế trong thời gian trước mắt - kế hoạch xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhưng đến năm
1918, kế hoạch của Lê nin phải hoãn lại vì nước Nga phải đương đầu với một hoàn cảnh vô
cùng khó khăn: đó là có nội chiến và can thiệp.
Cuộc nội chiến ở Nga là cuộc đấu tranh của nhân dân lao động chống lại sự nổi dậy của
bọn địa chủ, tư sản phản động mong tìm lại “ thiên đường đã mất ”. Lợi dụng tình hình ấy 14
nước đế quốc do Anh, Pháp cầm đầu đã tìm mọi cách can thiệp vũ trang để bóp chết nhà nước Xô Viết còn non trẻ. Cuộc nội chiến và can thiệp của nước ngoài đã làm cho nước Nga
khó khăn càng thêm khó khăn chồng chất.
Để đối phó với tình hình đó, Lê nin đã nêu ra khẩu hiệu “ Tất cả cho tiêu diệt kẻ thù ”
và thi hành chính sách “ Kinh tế cộng sản thời chiến”.
Chính sách “ Kinh tế cộng sản thời chiến ” gồm các nội dung chính sau đây:
Trưng thu lương thực thừa của nông dân, Nhà nước độc quyền mua bán lúa mì để cung
cấp cho thành thị và quân đội.
Nhà nước kiểm soát việc sản xuất và phân phối sản phẩm không những đối với đại công
nghiệp mà cả trung và tiểu công nghiệp.
Quốc hữu hoá cả những xí nghiệp vừa và nhỏ, có từ 5 công nhân trở lên (nếu có động
cơ) và 10 công nhân trở lên nếu không có động cơ.
Cầm buôn bán trao đổi sản phẩm trên thị trường, nhất là lúa mì, thực hiện chế độ tem
phiếu, trực tiếp phân phối sản phẩm cho người tiêu dùng, xoá bỏ Ngân hàng Nhà nước.
Đặt chế độ lao động cưỡng bức với nguyên tắc: “ Không làm thì không có ăn”.
Kết quả của chính sách “ Kinh tế cộng sản thời chiến ”.
có nguy cơ lâm vào một nạn đói trầm trọng.
Về giao thông vận tải: Bị tàn phá nghiêm trọng; 61% số đầu máy và 28% số toa xe bị
phá cùng với 4000 chiếc cầu và các ga, các kho tàng. So với trước chiến tranh, khối lượng
vận chuyển năm 1920 chỉ còn 20 % không tính đến khối lượng vận chuyển của quốc phòng
và nhu cầu của bản thân ngành đường sắt là 12 %.
Về tài chính tín dụng: Lâm vào tình trạng rối loạn. Năm 1918, bội chi ngân sách 81 tỷ
rúp. Năm 1921, con số bội chi lên tới 21.937 tỷ rúp. Nếu năm 1914, mức bảo đảm vàng cho
khối lượng tiền tệ trong lưu thông là 98,2% thì năm 1917 chỉ còn 6,8%.
Như vậy, nền kinh tế nước Nga đã lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng và toàn
diện. Lê nin đã ví nền kinh tế nước Nga lúc này như một người bị đánh thập tử nhất sinh chỉ
có thể đi lại bằng đôi nạng. Trong những năm nội chiến và nước ngoài vũ trang can thiệp, nhân dân vui lòng chịu
đựng khó khăn gian khổ, vui lòng thực hiện chính sách “ Kinh tế cộng sản thời chiến ”, vui
lòng chịu đựng cảnh trưng thu lương thực và sự thiếu thốn gắt gao về những nhu yếu phẩm
cần thiết. Nhân dân nhận thức được rằng toàn quốc cần phải dốc sức ra để đè bẹp bọn can
thiệp và bọn Bạch vệ, tức là kẻ thù chung của gian cấp công nhân và nhân dân lao động.
Nhưng khi cuộc chiến tranh kết thúc, chính sách “ Kinh tế cộng sản thời chiến ” đã làm xong
nhiệm vụ bất đắc dĩ của mình, giờ đây không cho phép dẫn nó đi xa hơn nữa vì trong các tầng
lớp nhân dân bắt đầu có sự bất mãn. Khối liên minh công nông có nguy cơ bị tan vỡ.
ở nhiều nơi, sự bất mãn của nông dân đã bị các thế lực phản cách mạng trong nước lợi
dụng để tổ chức những cuộc phiến loạn công khai chống lại chính quyền Xô Viết. Mùa hè
năm 1920, phiến loạn ở Tam - bốp và Vô - nô - xe - gô. Đầu năm 1921, phiến loạn nổ ra ở
nhiều nơi thuộc Xi- bê - ri và tiêu biểu nhất là cuộc bạo loạn ở Cron- Xtat gần Lê- nin- grát.
Vì vậy, cần thiết phải trở lại những quan hệ kinh tế khách quan giữa công nghiệp và nông
nghiệp, giữa thành thị và nông thôn. Do những yêu cầu đó, Đại hội X của Đảng Cộng sản
Bôn - sê - vích Nga họp từ 8 đến 16/3/1921 đã chủ trương thay chính sách “Kinh tế cộng sản
thời chiến” bằng chính sách “ Kinh tế mới ”.
1.1.2. Nội dung của chính sách “ Kinh tế mới ”.
Do đó, trong cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa tư bản sẽ là mắt xích, là phương thức
để phát triển lực lượng sản xuất, và nhờ đó dẫn tới những cơ sở cho sự thắng lợi của chủ
nghĩa xã hội. Như vậy, nếu trong con đường tuần tự, chủ nghĩa tư bản hay đúng ra là những
quan hệ tư bản sẽ dẫn tới xã hội tư bản, thì ở đây, chúng chỉ là khâu trung gian để xác lập chủ
nghĩa xã hội.
Có thể nói chủ nghĩa tư bản nhà nước là khâu then chốt nhất trong chính sách “ Kinh tế
mới ” - NEP. Với chủ nghĩa tư bản nhà nước, Lê nin đã tìm ra được “ cái khâu quyết định để
nối tất cả chuỗi tiến hoá trong lịch sử thành một cơ cấu chung, thành một cơ chế vận hành của
một nền kinh tế quá độ. ở đây quá trình tiến hoá lại là một quá trình lịch sử tự nhiên được rút
ngắn lại ”. Trong đó, nguyên tắc kinh tế hàng hoá là cơ sở chung, trên đó mọi thành phần
kinh tế hoạt động. Chủ nghĩa tư bản là nấc thang phát triển cao của kinh tế hàng hoá, bởi vậy,
trong kinh tế hàng hoá phát triển, các thành phần kinh tế đều có tính tư bản còn chủ nghĩa tư
bản nhà nước là nấc thang phát triển cao của chủ nghĩa tư bản, đến lượt mình, chủ nghĩa tư bản nhà nước lại biểu hiện ra là một trình độ phát triển cao, là hình thái phát triển của xã hội
hoá hoạt động kinh tế. Như vậy, chủ nghĩa tư bản nhà nước là hình thái hội tụ tất cả các thành
phần kinh tế trong một hình thái chung, một cơ cấu chung. Có thể nói, chủ nghĩa tư bản nhà
nước là một hình thức kinh tế của con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội, là con đường tién
hoá lịch sử - tự nhiên được rút ngắn đối với những nước lạc hậu chuyển lên chủ nghĩa xã hội.
Chính sách “ Kinh tế mới ” đã tạo điều kiện phát triển lực lượng sản xuất ở cả thành thị
lẫn nông thôn vì nó đáp ứng được yêu cầu của quy luật kinh tế của nền sản xuất xã hội chủ
nghĩa còn mang tính chất hàng hoá và có nhiều thành phần, trong đó có vấn đề sử dụng quan
hệ hàng hoá tiền tệ và việc sử dụng thành phần kinh tế tư bản nhà nước và tư nhân. Ngoài ra,
trong lý luận và thực tiễn hoạt động chính sách này đã nêu và thể hiện quan điểm mới về con
đường và các bước đi của thời kỳ quá độ. Đây không chỉ là sách lược có tính chất bắt buộc để
giải quyết tình trạng khủng hoảng ở Nga mà còn là đường lối chiến lược của thời kỳ quá độ đi
lên chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là lý luận của Lê nin về chủ nghĩa tư bản nhà nước.
1.2. Sự cần thiết phải sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước trong thời kỳ quá độ đi lên
chủ nghĩa xã hội.
” của chủ nghĩa tư bản nhà nước trong tay nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Trước hết, Lê nin đã khẳng định ngay “ Chủ nghĩa tư bản nhà nước ở trong một nước
mà chính quyền thuộc về tư bản và chủ nghĩa tư bản nhà nước ở trong một nước vô sản là hai
khái niệm khác nhau ”. Lê nin cho rằng chủ nghĩa tư bản nhà nước dưới chế độ tư bản nhà
nước là chủ nghĩa tư bản nhà nước thông thường, còn chủ nghĩa tư bản nhà nước dưới chế độ
cộng sản là chủ nghĩa tư bản nhà nước đặc biệt. Chúng phân biệt nhau bởi hai tính chất sau
đây:
Thứ nhất, ở tính chất giai cấp của nhà nước: “ Chủ nghĩa tư bản nhà nước của chúng tôi
khác về căn bản so với chủ nghĩa tư bản nhà nước ở những nước có chính phủ tư sản, sự khác
biệt đó chính là ở chỗ nhà nước của chúng tôi không phải đại diện cho giai cấp tư sản mà là
đại diện cho giai cấp vô sản ”.
Thứ hai, đó là sự khác biệt về tính chất xã hội của chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất: “
chủ nghĩa tư bản nhà nước của chúng tôi chẳng những nắm ruộng đất mà còn nắm những bộ
phận quan trọng nhất của công nghiệp nữa ”. Từ sự phân biệt đó, Lê nin đã luận giải rằng: “ Hiện nay, thực hiện chủ nghĩa tư bản nhà
nước có nghĩa là thực hiện chế độ kiểm kê và kiểm soát mà trước đây giai cấp tư sản đã thực
hiện ”, và rằng “ chủ nghĩa tư bản nhà nước là cái gì có tính chất tập trung, được tính toán,
được kiểm soát và được xã hội hoá”.
Về mặt chính trị, Lê nin cũng khẳng định chủ nghĩa tư bản nhà nước là “ không đáng sợ,
không thay đổi được gì có tính chất căn bản trong chế độ xã hội của nước Nga Xô Viết ” và “
chủ nghĩa tư bản nhà nước là một hình thức mới của đấu tranh giai cấp chứ không phải là hoà
bình giai cấp ”.
Khái niệm về chủ nghĩa tư bản nhà nước dưới chế độ cộng sản là một khái niệm hoàn
toàn mới mẻ, do Lê nin lần đầu tiên đưa ra. Trước Lê nin không có một quyển sách nào viết
một dòng về khái niệm này, kể cả Mác. Nhưng cả trong lý luận và thực tiễn nước Nga thời kỳ
đó đã chứng minh đó là một quan điểm hoàn toàn đúng đắn. Từ quan niệm đúng đắn đó, Lê
nin đã chỉ rõ tính tất yếu phải sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước trong thực tiễn nước Nga
lúc bấy giờ.
lên. Lê nin cho rằng điều đó “ sẽ đưa chúng ta đến chủ nghĩa xã hội bằng con đường chắc
chắn nhất ”.
Thứ ba, sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản nhà nước nảy sinh từ chính nhu cầu nội tại của
công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Để hoàn thành sứ mạng đó, nhà nước vô sản cần có
vốn, kỹ thuật, công nghệ, kinh nghiệm tổ chức, quản lý cùng các quan hệ sản xuất kinh tế xã
hội hoá. Tất cả những yếu tố đó, những thành tựu mà nhân loại tích luỹ được chỉ có thể tìm
thấy ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển. Bởi vậy, tất yếu phải có sự kết hợp với các nhà
tư bản trong và ngoài nước, tất yếu phải có sự hợp tác cùng nhau xây dựng nền kinh tế quốc
dân. Về vấn đề này, Lê nin cho rằng, để có được tri thức và kinh nghiệm tổ chức, quản lý
kinh tế trên qui mô toàn quốc, giai cấp vô sản phải học tập kinh nghiệm của các nhà tư sản
dẫu có phải trả học phí đắt cho họ. Người khẳng định rằng, việc sử dụng các nhà tư bản trong
quản lý kinh tế là điều cần thiết để “ khắc phục tình trạnh hỗn độn, tình trạng suy sụp về kinh
tế và hiện tượng lỏng lẻo trong quản lý kinh tế ”. Theo Lê nin chừng nào mà giai cấp công
nhân học được cách sắp đặt lại sản xuất với qui mô lớn thì khi ấy tất cả những con chủ bài
đều nằm trong tay công nhân và sẽ bảo đảm cho sự thành công của công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội. Bên cạnh việc học tập quản lý và kinh nghiệm tổ chức, thông qua chủ nghĩa tư
bản nhà nước, nước Nga sẽ huy động được vốn, kỹ thuật tiên tiến của nước ngoài để phát triển sản xuất, nhất là trong điều kiện nước Nga vừa bị chiến tranh tàn phá nặng nề, cơ sở vật
chất kỹ thuật lạc hậu. Như vậy, bằng cách sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước với những ưu
việt của nó về vốn, khoa học công nghệ, trình độ quản lý nước Nga sẽ có điều kiện để
nhanh chóng phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội, thực hiện thành
công quá trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Từ tất cả những lý do trên ta có thể khẳng định rằng sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản nhà
nước là một tất yếu khách quan. Vì vậy, kinh tế tư bản nhà nước đã tồn tại như một thành
phần kinh tế độc lập trong năm thành phần kinh tế của nước Nga lúc bấy giờ. Hơn thế nữa,
chủ nghĩa tư bản nhà nước còn có vai trò rất to lớn trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở nước Nga lúc bấy giờ.
2. Vai trò của chủ nghĩa tư bản nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
nghĩa tư bản là xu hướng và là kết quả phát triển, tự phát của nền sản xuất nhỏ. Nếu phát triển
được chủ nghĩa tư bản nhà nước thì chính quyền Xô Viết sẽ tăng cường được nền đại sản
xuất đối lập với nền tiểu sản xuất, nền sản xuất tiên tiến đối lập với nền sản xuất lạc hậu, nền
sản xuất cơ khí hoá đối lập với nền sản xuất thủ công, tăng thêm sản phẩm thu được từ đại
công nghiệp, củng cố những quan hệ kinh tế do Nhà nước điều chỉnh, đối lập với những quan
hệ kinh tế tiểu tư sản vô chính phủ. Chủ nghĩa tư bản nhà nước, vì lẽ ấy, trở thành công cụ để
“ đấu tranh chống tính tự phát tư bản chủ nghĩa ”, “ chống tệ đầu cơ ” - được coi là kẻ thù
chính của chủ nghĩa xã hội ở những nước tiểu nông tiến lên chủ nghĩa xã hộị.
Như vậy, có thể nói chủ nghĩa tư bản nhà nước là “ một bước tiến lớn ”, nhờ nó mà
chiến thắng được tình trạng hỗn độn, tình trạng suy sụp về kinh tế, khắc phục được tình trạng
sản xuất nhỏ phân tán cũng như đấu tranh chống được tính tự phát tiểu tư sản. Nếu sử dụng
tốt chủ nghĩa tư bản nhà nước thì “ tất cả các con át chủ bài đều nằm trong tay giai cấp công
nhân và sẽ đảm bảo chủ nghĩa xã hội được củng cố ”. Và chủ nghĩa tư bản nhà nước sẽ đưa
nước Nga đến chủ nghĩa xãhội bằng con đường chắc chắn nhất.
Thứ ba, chủ nghĩa tư bản nhà nước còn được xem là công cụ đấu tranh chống chủ nghĩa
quan liêu và những lệch lạc quan liêu chủ nghĩa. Lê nin đã phân tích rõ nguồn gốc kinh tế của
chủ nghĩa quan liêu ở nước Nga: ấy là tình trạng riêng rẽ, tình trạng phân tán của những
người sản xuất nhỏ, cảnh khốn cùng của họ, tình trạng không có đường sá, nạn mù chữ, tình
trạng không có sự trao đổi giữa công nghiệp và nông nghiệp, tình trạng thiếu sự liên hệ và tác động qua lại giữa công nghiệp và nông nghiệp. Bằng việc sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước,
nước Nga sẽ khắc phục được các tình trạng trên, nhờ đó mà có thể đấu tranh chống lại chủ
nghĩa quan liêu.
Thứ tư, thông qua chủ nghĩa tư bản nhà nước mà giai cấp công nhân có thể học tập được
cách quản lý một nền sản xuất lớn, tổ chức một nền sản xuất lớn. Đồng thời, thông qua các
hình thức của chủ nghĩa tư bản nhà nước mà các kỹ thuật công nghệ tiên tiến của các nước
phát triển cũng được “ du nhập ” vào nước Nga. Nhờ đó, nước Nga có thể xây dựng tốt một
cơ sở cho nền đại sản xuất của chính quyền Xô Viết.
Thứ năm, chủ nghĩa tư bản nhà nước còn góp phần phát triển giai cấp công nhân. Nếu
Thứ nhất, để thực hành chủ nghĩa tư bản nhà nước dưới hình thức tô nhượng, cần phải
từ bỏ chủ nghĩa ái quốc địa phương của một số người cho rằng, tự mình có thể làm lấy, không
chấp nhận trở lại ách nô dịch của tư bản.
Thứ hai, người nhận tô nhượng có trách nhiệm cải thiện đời sống công nhân trong xí
nghiệp tô nhượng sao cho đạt tới mức sống trung bình của người nước ngoài. Cải thiện đời
sống của công nhân trong các xí nghiệp tô nhượng và ngoài tô nhượng được xem là “ cơ sở
của chính sách tô nhượng ”.
Thứ ba, điều kiện về thuê mướn, về sinh hoạt vật chất, về trả lương cho các công nhân
lành nghề và nhân viên người nước ngoài được quy định theo sự thoả thuận tự do giữa người
nhận tô nhượng với những loại công nhân nói trên. Công đoàn không có quyền đòi áp dụng
các mức lương của Nga, cũng như các luật lệ của Nga về thuê mướn nhân công đối với những
công nhân đó.
Thứ tư, phải tôn trọng luật pháp và nghiêm chỉnh tuân theo những quy tắc khoa học và
kỹ thuật phù hợp với pháp luật của nước Nga và của nước ngoài.
Chuyển từ chế độ tô nhượng lên chủ nghĩa xã hội là chuyển từ một hình thức đại sản
xuất này sang một hình thức đại sản xuất khác. Một khi thắng lợi với hình thức tô nhượng
nước Nga sẽ có ngay một số “ xí nghiệp lớn kiểu mẫu ” ngang hàng với các công ty lớn ở
những nước tư bản chủ nghĩa hiện đại. Do vậy, ở Nga giai đoạn này tô nhượng chiếm ưu thế
hơn so với các hình thức kinh tế tư bản nhà nước khác. 3.2. Hợp tác xã.
Từ thực tiễn của nước Nga, Lê nin phân biệt hợp tác xã trong những chế độ khác nhau.
Theo Lê nin trong thực tế tồn tại hai chế độ hợp tác xã: tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa.
Chế độ hợp tác xã tư bản chủ nghĩa trong lòng chế độ Xô Viết được coi là một hình thức của
chủ nghĩa tư bản nhà nước.
Trong một nước tư bản chủ nghĩa, hợp tác xã là những tổ chức tư bản tập thể. Còn trong
điều kiện kinh tế mới - tức chính quyền Xô Viết, đã hình thành một loại xí nghiệp thứ ba, tức
là xí nghiệp hợp tác xã. Những xí nghiệp hợp tác xã này được coi là một hình thức của chủ
nghĩa tư bản nhà nước. Đặc trưng của xí nghiệp này là sự kết hợp những xí nghiệp tư bản tư
Hình thức này giống hình thức tô nhượng, nhưng đối tượng tô nhượng không phải là tư
bản nước ngoài mà là tư bản trong nước. Hình thức này được coi là hình thức riêng biệt để
phân biệt nó với hình thức tương tự nhưng đối tượng thuê là tư bản trong nước.
3.5. Cho nông dân thuê những hầm mỏ nhỏ.
Qua thực tiễn vùng mỏ Đôn bat, Lê nin rút ra một hình thức nữa của chủ nghĩa tư bản
nhà nước: cho nông dân thuê những hầm mỏ nhỏ. Đây cũng là kiểu cho thuê nhưng đối tượng
thuê - theo cách nói của Lê nin - là những tiểu tư bản. Qua việc làm này, Lê nin rút ra hai kết
luận - một hiện tượng ngược đời: chính ở những hầm mỏ nhỏ cho nông dân thuê, sản xuất lại
đặc biệt phát triển hơn là những xí nghiệp lớn nhất trước kia là của tư bản, ngang hàng với
những xí nghiệp tư bản ở Tây Âu. Những quan hệ của chủ nghĩa tư bản nhà nước được phát
triển. Những nông dân này hoạt động theo kiểu nộp tô cho nhà nước (gần 30% số than khai
thác được) . Có thể nói hình thức này của chủ nghĩa tư bản nhà nước cũng có những vai trò
nhất định, đóng góp đáng kể cho công cuộc khôi phục kinh tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
nước Nga thời bấy giờ.
3.6. Công ty hợp doanh.
Hình thức này được đề cập trong báo cáo tại Đại hội IV Quốc tế vô sản, Lê nin đã nói
về những thành tựu đạt được do sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước. Khi nói về lĩnh vực
thương nghiệp, chính quyền Xô Viết đang cố gắng lập ra những công ty hợp doanh và đã
thành lập được theo thể thức tiền vốn một phần là của tư bản tư nhân, ngoài ra của tư bản
nước ngoài và một phần là của chính quyền Xô Viết. 4. Những điều kiện để sử dụng có hiệu quả chủ nghĩa tư bản nhà nước.
Qua các phần nghiên cứu trên, chúng ta đã thấy được tính tất yếu phải sử dụng chủ
nghĩa tư bản nhà nước, vai trò của chủ nghĩa tư bản nhà nước cũng như những hình thức cụ
thể để áp dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước. Nhưng, để sử dụng có hiệu quả chủ nghĩa tư bản
nhà nước, cần phải làm như thế nào, cần có những điều kiện gì ?. Trong hệ thống chính sách
“ Kinh tế mới ” Lê nin đã nêu rõ những điều kiện cần thiết để sử dụng có hiệu quả chủ nghĩa
tư bản nhà nước.
Trước hết, việc áp dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước đòi hỏi phải có sự kiểm kê, kiểm
nông dân chẳng những đã có đủ lương thực mà còn nộp thuế cho nhà nước hàng trăm triệu
put. Nông dân đã hài lòng với tình hình của họ. Công nghiệp cũng đang trên đà phát triển, đời
sống của công nhân đã được cải thiện, tình trạng bất mãn của công nhân không còn.
Công nghiệp nặng tuy vẫn còn nhiều khó khăn song cũng đã có những bước phát triển
nhất định. Tuy nhiên chính sách tô nhượng cho đến lúc ấy (1922) vẫn chưa có một tô nhượng
sinh lợi nào trong công nghiệp nặng. Nhưng thông qua chính sách “ Kinh tế mới “ mà đã thu
hút được một số vốn lớn hơn 20 triệu rúp vàng.
Riêng về chủ nghĩa tư bản nhà nước, nhìn chung đã mang lại cho nước Nga những tác
dụng tích cực. Nhờ tô nhượng với nước ngoài, nhiều ngành công nghiệp quan trọng (đặc biệt
khai thác dầu) đã phát triển, nhiều kinh nghiệm tiên tiến, với kỹ thuật, thiết bị hiện đại của
nền sản xuất lớn tư bản chủ nghĩa đã được đưa vào quá trình sản xuất, mang lại hiệu quả cao.
Tô nhượng cùng các công ty hợp doanh đã góp phần phát triển sản xuất hàng hoá, tăng thêm
dự trữ ngoại tệ cho đất nước, mở rộng các quan hệ liên doanh, liên kết kinh tế trong các lĩnh
vực đầu tư sản xuất, chuyển giao công nghệ tiên tiến và phát triển ngoại thương với các nước
tư bản phương Tây. Thông qua các hoạt động của các công ty hợp doanh, những người cộng
sản Nga còn có thể thực sự học cách buôn bán, điều mà bấy giờ Lê nin thường nói là rất quan
trọng. Hoạt động của các xí nghiệp cho thuê, các xí nghiệp hỗn hợp đã góp phần giúp nhà
nước Xô Viết duy trì sự hoạt động sản xuất bình thường ở các cơ sở kinh tế, tăng thêm sản
phẩm cho xã hội, việc làm cho người lao động. Hình thức đại lý thương nghiệp và các hợp tác
xã tư bản chủ nghĩa trong các lĩnh vực sản xuất, tín dụng và tiêu thụ đã góp phần quan trọng
trong việc hỗ trợ thương nghiệp xã hội chủ nghĩa, đẩy nhanh quá trình trao đổi và lưu thông
hàng hoá tiền tệ, làm sống động nền sản xuất hàng hoá nhỏ, qua đó cải biến những người tiểu
nông, nối liền quan hệ trao đổi công - nông nghiệp, thành thị - nông thôn. Chính bởi vậy, có thể nói chủ nghĩa tư bản nhà nước đã góp phần không nhỏ vào việc khôi phục và phát triển
kinh tế nước Nga sau chiến tranh.
Tuy nhiên, so với những mong muốn và mục tiêu mà Lê nin đặt ra thì những thành tựu
của chủ nghĩa tư bản nhà nước đã đạt được ở Nga vẫn còn rất thấp. Điều đó do nhiều nguyên
nhân gây nên trong đó có phần bởi chủ nghĩa tư bản đế quốc vẫn tìm mọi cách bóp chết chính
chủ trương đúng đắn, tất yếu của Đảng và nhà nước ta vì những nguyên nhân sau đây:
Thứ nhất, như trên đã nói, nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nền
kinh tế nước ta là nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó tất yếu tồn tại thành phần kinh tế tư
bản tư nhân. Mặt khác, với chính sách khuyến khích tự do trao đổi hàng hoá, khuyến khích
làm giàu chính đáng, tất yếu sẽ nảy sinh một tầng lớp tư sản mới. Không thể dùng sắc lệnh để
loại bỏ được thành phần kinh tế này, cách tốt nhất là hướng nó vào con đường chủ nghĩa tư
bản nhà nước. Như vậy, sự tồn tại của kinh tế tư bản nhà nước vừa mang tính tất yếu khách
quan vừa như là một sách lược kinh tế của nhà nước ta để định hướng cho các thành phần
kinh tế khác (tiêu biểu là thành phần kinh tế tư bản tư nhân) đi lên chủ nghĩa xã hội.
Thứ hai,ở một nước mà nền tiểu sản xuất chiếm ưu thế như nước ta thì không thể trực
tiếp xây dựng chủ nghĩa xã hội được. Do đó chúng ta phải sử dụng kinh tế tư bản nhà nước
như một sách lược kinh tế. Hay nói cách khác chủ nghĩa tư bản nhà nước sẽ là mắt xích trung
gian giữa nền tiểu sản xuất va chủ nghĩa xã hội, làm phương tiện, con đường, phương pháp
phương thức để tăng lực lượng sản xuất. Lê nin đã từng nói: “ trong một nước tiểu nông trước
hết các đồng chí phải bắc những chiếc cầu nhỏ vững chắc, đi xuyên qua chủ nghĩa tư bản nhà
nước tiến lên chủ nghĩa xã hội ”. Sử dụng hình thức kinh tế tư bản nhà nước sẽ giúp chúng ta
phát triển lực lượng sản xuất vì kinh tế tư bản nhà nước có ưu thế về vốn, kỹ thuật và công
nghệ cũng như những kinh nghiệm và biện pháp quản lý kinh tế tiên tiến. Thông qua hình
thức hơp tác, đầu tư với tư bản trong và ngoài nước, chúng ta sẽ thu hút được vốn, kỹ thuật
công nghệ hiện đại Đặc biệt trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang diễn
ra như vũ bão thì hình thức kinh tế tư bản nhà nước sẽ giúp chúng ta tránh khỏi nguy cơ bị tụt
hậu. Bên cạnh đó, chúng ta còn học tập thêm được những phương pháp cũng như những kinh
nghiệm quý báu của các nhà tư bản nước ngoài trong quản lý kinh tế. Đó là những tiền đề hết
sức cần thiết để nước ta tiến hành thành công công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước. Như vậy, sử dụng kinh tế tư bản nhà nước không những là một tất yếu khách quan trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội mà còn là một biện pháp để chúng ta tăng cường
phát triền lực lượng sản xuất, trên cơ sở đó phát triển nhanh nền kinh tế để đi lên chủ nghĩa
xã hội.
điều kiện và khả năng để sử dụng hình thức kinh tế tư bản nhà nước hay không?
Lý luận của Lê nin đã chỉ rõ, để sử dụng có hiệu quả chủ nghĩa tư bản nhà nước thì
trước hết, chính quyền nhà nước phải nằm trong tay giai cấp công nhân. ở nước ta hiện nay,
Đảng Cộng sản - Đảng tiên phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động đang giữ vai
trò lãnh đạo. Toàn thể nhân dân ta đều tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và đang nỗ lực
phấn đấu để đưa đất nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội. Có thể nói, đây là điều kiện đầu tiên
quan trọng nhất để sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước.
Thứ hai, về mặt kinh tế, nước ta đã chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá quan liêu bao
cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự điều
tiết của nhà nước. Đây là một điều kiện rất quan trọng để phát triển kinh tế tư nhân trong
nước cũng như nước ngoài trên cơ sở đó vận dụng các hình thức kinh tế tư bản nhà nước như:
liên doanh, liên kết giữa nhà nước và tư bản tư nhân trong nước và liên doanh, liên kết giứa
nhà nước và tư bản tư nhân nước ngoài
Thứ ba, về mặt luật pháp, chúng ta đã ban hành và đang tiếp tục hoàn thiện hành lang
pháp lý về thành phần kinh tế tư nhân trong nước, liên doanh giữa nhà nước và kinh tế tư bản
tư nhân trong nước, về đầu tư nước ngoài cũng như liên doanh giữa nhà nước và nước
ngoài
Không những thế, những xu thế quốc tế hiện nay cũng tạo cho nước ta những thuận lợi
nhất định. Trước hết, đó là xu thế hoà bình, hợp tác quốc tế trên cơ sở hai bên cùng có lợi.
Khác với thời kỳ chiến tranh lạnh trước kia, ngày nay, Việt Nam mong muốn làm bạn với tất
cả các nước, cùng hợp tác trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là kinh tế. Đây không chỉ là mong
muốn của nước ta mà đã là sách lược của tất cả các nước trong khu vực và hầu hết các nước
trên thế giới. Xu thế này tạo điều kiện rất thuận lợi để chúng ta kêu gọi, thu hút các nguồn
vốn đầu tư nước ngoài.
Cùng với xu thế hợp tác là xu thế quốc tế hoá. Quá trình quốc tế hoá đang diễn ra hết
sức mạnh mẽ trong khu vực cũng như toàn thế giới tác động rất mạnh mẽ đến nền kinh tế nước ta. Trong thời đại ngày nay, không một quốc gia nào có thể tồn tại độc lập, riêng rẽ mà
phải nằm trong mối quan hệ với các quốc gia khác, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế. Có thể
kinh tế tư bản tư nhân. Nay, trên cơ sở quan điểm thừa nhận các thành phần kinh tế còn tồn
tại và phát triển lâu dài trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, hình thức này cần được sử
dụng và phát triển phong phú và đa dạng hơn.
Tính đến nay, nước ta đã có khá nhiều doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân.
Quy mô của đa số những doanh nghiệp này còn rất nhỏ bé, lại dàn trải ở các ngành kinh tế
dịch vụ, nông lâm -ngư- nghiệp xây dựng và chỉ chiếm trên 9% GDP của cả nước. Để phát
huy thế mạnh của thành phần kinh tế này, bên cạnh việc tạo điều kiện cho thành phần kinh tế
tư bản tư nhân phát triển, cần khuyến khích nó liên doanh, liên kết với kinh tế nhà nước, qua
đó mà tăng vốn, đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất, tăng sức cạnh tranh và tăng
khả năng hợp tác với nước ngoài. Đây là một đòi hỏi bức xúc của công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước.
Trong thời gian qua, nước ta đã áp dụng các phương thức góp vốn liên doanh giữa nhà
nước với các nhà tư bản để hình thành các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn
nhưng trong tổ chức vẫn còn những trở ngại. Để mở rộng hình thức này, một mặt cần tiếp tục
hoàn thiện cơ sở pháp lý, mặt khác, đẩy mạnh hơn nữa cổ phần hoá một bộ phận các doanh
nghiệp nhà nước, phát triển các loại hình các công ty cổ phần, có quy chế tạo khả năng lưu
hành rộng rãi cổ phiếu, phát triển thị trường chứng khoán, hoàn thiện các yếu tố của nền kinh
tế thị trường.
2.2. Hợp tác liên doanh giữa kinh tế nhà nước và tư bản tư nhân nước ngoài.
Trong lý luận của mình về chủ nghĩa tư bản nhà nước, Lê nin đã chỉ rõ việc sử dụng
vốn, các chuyên gia tư sản nước ngoài vào phát triển kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội là hết sức quan trọng. Hiện nay, trong bối cảnh quốc tế mới, các nước đang và
mới phát triển có cơ hội sớm đi tới một nền kinh tế hiện đại thông qua nhiều con đường như
học hỏi, tiếp nhận chuyển giao công nghệ của các nước phát triển. Chính vì vậy, đối với
nước ta hình thức liên doanh giữa kinh tế nhà nước với tư bản tư nhân nước ngoài sẽ giúp
chúng ta phát triển sản xuất trong nước, rút ngắn khoảng cách lạc hậu giữa nước ta với các
nước trong khu vực.