LUẬN VĂN:
Cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa A. Phần mở đầu
Việc nghiên cứu lý thuyết của chủ nghĩa Mác-Lênin về nền kinh tế thị trường là cần
thiết không chỉ đối với những người nghiên cứu khoa học kinh tế, đối với cán bộ quản lý
kinh doanh, với những người có nhiệm vụ hoạch định đường lối phát triển kinh tế của đất
nước, mà nó rất cần thiết đối với mỗi sinh viên, mỗi con người mỗi gia đình trong xã hội.
Lý thuyết về nền kinh tế thị trường của chủ nghĩa Mác Lênin là một nội dung hết sức
to lớn và rất quan trọng trong học thuyết của chủ nghĩa Mác Lênin. Cùng với lý luận về giá
trị thặng dư, học thuyết hình thái kinh tế xã hội, thì lý thuyết về nền kinh tế thị trường là
một phát kiến vĩ đại của Mác mà sau này đã được Lênin phát triển và hoàn thiện, nó là hòn
đá tảng của chủ nghĩa Mác Lênin, cho đến cả ngày hôm nay và mai sau.
Trong bối cảnh đầy biến động của thị trường thế giới nói chung cũng như thị trường
dựa trên cơ sở giá trị thị trường. Ngoài giá trị thị trường, sự hình thành giá cả thị trường
còn phải chịu tác động của quan hệ cung cầu hàng hoá. Tính quy luật của quan hệ giữa giá
cả thị trường với giá trị trong tác động của quan hệ cung cầu được biểu hiện.
Cung cầu trong cơ chế thị trường :
Nếu cung lớn hơn cầu thì giá cả thị trường sẽ nhỏ hơn giá trị thị trường còn nếu cung
nhỏ hơn cầu thì giá cả thị trường sẽ lớn hơn giá trị thị trường. Sự vận động của giá cả thị
trường cũng có tác động tới quan hệ cung cầu hàng hoá. Nếu giá cả của một loại hàng hoá
nào đó giảm xuống, nó sẽ kích thích mức cầu, làm cho mức cầu thị trường của loại hàng hoá này tăng lên. Đồng thời giá cả giảm xuống. Ngược lại, nếu giá cả của một loại hàng
hoá nào đó tăng lên, nó sẽ kích thích mức cung làm cho mức cung giảm xuống. Ngược lại
nếu giá cả của một loại hàng hoá nào đó tăng lên, đồng thời hạn chế mức cầu làm cho mức
cầu giảm xuống. Như vậy có thể nhận biết được quan hệ cung cầu qua giá cả thị trường.
Quan hệ cung cầu hàng hoá trên thị trường là những biểu hiện của những người bán và
những người mua cũng như quan hệ giưã những người sản xuất và những người tiêu dùng.
Trên thị trường người bán luôn bán hàng hoá của mình với giá cao, còn người mua thì lại
luôn luôn muốn mua hàng hoá với giá thấp. Trên cơ sở giá trị thị trường, giá cả thị trường
là kết quả của sự thoả thuận giữa người mua với người bán.
Cũng thông qua sự biến động của giá cả thị trường, quy luật giá trị có tác dụng điều
tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá. Điều tiết sản xuất hàng hoá được hiểu theo nghĩa là
điều tiết tư liệu sản xuất và sức lao động vào từng ngành kinh tế. Nếu giá cả của hàng hoá
trong một ngành kinh tế nào đó tăng lên thì ngành đó sẽ thu hút lao động xã hội, làm cho
quy mô sản xuất của ngành này tăng lên. Ngược lại, nếu giá cả của hàng hoá có xu hướng
tăng lên sẽ làm cho những người sản xuất hàng hoá thu được nhiều lợi nhuận hơn. Điều
này tạo ra động lực thúc đẩy những người sản xuất hàng hoá khai thác những khả năng
tiềm tàng, tranh thủ giá cả cao, mở rộng quy mô sản xuất có xu hướng ngược lại, nghĩa là
giá cả giảm xuống sẽ làm cho quy mô sản xuất thu hẹp lại. Như vậy, lợi nhuận là động lực
thúc đẩy hoạt động của cơ chế thị trường.
Giá cả trong cơ chế thị trường
luật nội tại của nó: quy luật nội tại, quy luật cung cầu, quy luật lưu thông tiền tệ. Quy luật
lưu thông tiền tệ xác định khối lượng tiền tệ trong lưu thông nhằm đảm bảo sự hoạt động
nhịp nhàng của cơ chế thị trường. Việc thừa hoặc thiếu đều dẫn tới tác động tiêu cực. Nếu
thiếu tiền, hàng hoá không lưu thông được. Nếu thừa tiền sẽ gây nên tình trạng lạm phát,
giá cả hàng hoá tăng vọt, thị trường bất ổn định.
Vậy chúng ta có thể nói sự tồn tại và phát triển của cơ chế thị trường là yêu cầu
khách quan đối với những xã hội còn tồn tại nền kinh tế hàng hoá. Coi nhẹ hay bỏ qua vai
trò của kinh tế thị trường là một trong những nguyên nhân sâu xa thất bại trên lĩnh vực
kinh tế. Chính vì vậy mà cơ chế thị trường được phát hiện khá sớm. Cơ chế thị trường
được coi là “ bàn tay vô hình” điều tiết sự vận động của nền kinh tế hàng hoá. 2. Những ưu điểm và khuyết điểm của cơ chế thị trường
Ưu điểm:
- Khi cơ chế thị trường phát triển thì kích thích mạnh việc áp dụng tiến bộ khoa học
kỹ thuật, tăng năng suất lao động, nâng cao trình độ xã hội hoá sản xuất.
Kinh tế thị trường lấy lợi nhuận siêu ngạch làm động lực hoạt động. Động lực này
đòi hỏi các doanh nghiệp thường xuyên hạ thấp chi phí lao động cá biệt xuống thấp hơn
chi phí lao động xã hội cần thiết. Điều này đòi hỏi phải nâng cao năng suất lao động trên
cơ sở áp dụng những thành tựu mới của khoa học kỹ thuật công nghệ.
Cơ chế thị trường có tính năng động và khả năng thích nghi nhanh chóng. Sở dĩ như
vậy là vì: trong kinh tế thị trường tồn tại một nguyên tắc ai đưa ra thị trường một loại hàng
hoá mới và đưa ta sớm nhất sẽ thu được lợi nhuận nhiều nhất. Điều đó tất yếu đòi hoải
phải năng động thường xuyên.
Trong nền kinh tế thị trường hàng hoá rất phong phú đa dạng. Do vậy, nó tạo điều
kiện thuận lợi cho việc thoả mãn ngày càng tốt hơn những nhu cầu vật chất, văn hoá và sự
phát triển toàn diện của mọi thành viên xã hội.
Những nhược điểm của cơ chế thị trường.
thiết lập vai trò quản lý của Nhà nước ở tất cả các nước có nền kinh tế thị trường, ở nước ta
sự quản lý của Nhà nước nhằm hướng tới sự ổn định về kinh tế xã hội, sự công bằng và
hiệu quả cũng như làm cho nền kinh tế ngày càng tăng trưởng và phát triển với tốc độ cao.
II. các lý thuyết về cơ chế thị trường và sự quản lý của nhà nước:
1. Cơ chế thị trường trong nền KTTT cạnh tranh tự do (Học thuyết của A.Smith
& D.Ricardo)
Nghiên cứu cơ chế thị trường tự do cạnh tranh có hai nhà kinh tế học nổi tiếng: A.
Smith và D. Ricardo. Học thuyết của hai ông đã đưa KTCT tư sản cổ điển phát triển đến
đỉnh cao nhất ở Anh.
a. A Smith (1723-1790) xuất thân trong một gia đình viên chức thuế quan, là giảng
viên một số trường Đại học ở Anh, từng dạy nhiều khoa như: thần học, lý luận học, luật
học trước khi nghiên cứu chính trị học. Với thuyết “bàn tay vô hình”, cho rằng luôn có sự điều hoà tự nhiên giữa lợi ích
chung của mỗi cá nhân với lợi ích chung của xã hội. Trong toàn bộ nền kinh tế, “bàn tayvô
hình” cũng điều tiết các hoạt động làm cho nền kinh tế có khả năng điều chỉnh, tạo ra sự
cân bằng. A. Smith cho rằng chính quyền cần có chính sách hoàn toàn tự do. Về sáng kiến
cá nhân, tự nó có khả năng để thực hiện một trật tự tối ưu: khi một nhà sản xuất cố gắng
làm cho sản phẩm của mình tốt lên thì họ chỉ nghĩ tới lợi ích của mình thôi nhưng chính
việc đó lại có lợi ích cho xã hội.
Mặc dù coi trọng “bàn tay vô hình” song A. Smith cũng nhận thấy đôi khi nhà nước
cũng có những nhiệm vụ kinh tế nhất định, đó là các trường hợp các nhiệm vụ kinh tế vượt
quá khả năng của các doanh nghiệp như làm đường, xây dựng
b. D .Ricardo (1772-1823) hoạt động trong lĩnh vưc giao dịch chứng khoán, ông
nghiên cứu nhiều khoa kọc (toán, vật lý, địa chất học ) nghiên cứu kinh tế chính trị học từ
1807. Tư tưởng kinh tế Ricardo bbiỉu hiện ở luận điểm chủ yếu như lý luận về chính trị, lý
luận về tiền lương, về lợi nhuận, về địa tô và đặc biệt là lý luận về mậu dịch quốc tế: cần
huỷ bỏ mọi hàng rào htuế quan và thực hiện chính sách tự do mậu dịch có lợi cho mọi
quốc gia. Vậy Ricardo cho rằng: Nhà nước cần có sự tự do nhất định, những mặt thoáng
nước rất đa dạng.
Vai trò nhà nước tạo ra môi trường cạnh tranh tự do, cạnh tranh xây dựng các đạo
luật chống độc quyền, kiểm soát các hoạt đọng kinh tế bằnh các công cụ tài chính, tiền tệ,
tổ chức ngân hàng, thương mại, trong đó ngân hàng trung ương cần cố gắng dự trữ, vừa
làm chức năng điều khiển kiểm soát chi tiêu tự động cung ứng thông qua ngân hàng
thương mại, xây dựng kết cấu hạ tầng của nền kinh tế.
III. Sự quản lý của nhà nước trong nền KTTT, định hướng Xhcn ở Việt nam :
1. Sự cần thiết khách quan:
Trong báo cáo chính trị của BCHTW khoá VIII trình Đại hội IX của Đảng ta đề cập:
Nhà nước ta “quản lý kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách,
sử dụng cơ chế thị trường, áp dụng các hình thức kinh tế và phương pháp quản lý của kinh
tế thị trường để kích thích sản xuất, phát huy mặt tích cực, hạn chế và khắc phục mặt tiêu
cực của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động, của toàn thể nhân dân”. Cơ chế thị trường chịu sự chi phối của “bàn tay vô hình” hay chịu sự chi phối của các
quy luật kinh tế của thị trường. Cơ chế quản lý của nhà nước gắn với “bàn tay hữu hình”.
Rõ ràng không thể điều tiết sự vận động của nền kinh tế hàng hoá hay nền kinh tế thị
trường hiện nay, khi chỉ có cơ chế thị trường hoặc chỉ có nhà nước. Trong trường hợp này
cũng giống như người ta định “vỗ tay bằng một bàn tay”.
Đối với nước ta, giải quyết mối quan hệ giữa thị trường và Nhà nước trong điều tiết,
quản lý nền kinh tế cũng còn nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn phải nghiên cứu như:
Thứ nhất, sử dụng cơ chế thị trường (CTTT) đến đâu và như thế nào để phát huy
được mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của nó.
Thứ hai, với chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước thì kế hoạch hoá được sử dụng
như một trong những công cụ quản lý kinh tế vĩ mô như thế nào để đạt được tăng trưởng
lâu bền và đảm bảo định hướng Xã hội chủ nghĩa. Kế hoạch hoá trong nền Kinh tế thị
trường định hướng Xã hội chủ nghĩa phải bao hàm tổng thể nền kinh tế quốc dân với nhiều
thành phần kinh tế và nhấn mạnh đến vấn đề quy hoạch, chiến lược phát triển kinh tế-xã
hội v.v.
Nội dung của kế hoạch không được phép chỉ giới hạn trong phạm vi khu vực kinh tế
nhà nước mà phải mang tính tổng thể toàn nền kinh tế. Những công cụ thường được áp
dụng trong nền kinh tế kế hoạch hoá trước kia phải được thay thế bằng công cụ, chính
sách phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa.
Nhà nước sử dụng nhóm yếu tố gắn với “bàn tay hữu hình” thể hiện qua các công cụ
sau:
Pháp luật, nhất là luật kinh tế với tính đồng bộ và hiệu lực để thực hiện nó. Thông
qua công cụ này Nhà nước tạo hành lang đủ để lập và duy trì kỷ cương trật tự hướng dẫn
các hoạt động của các doanh nghiệp hoạt động theo pháp luật.
Kế hoạch, công cụ giúp Nhà nước hoạch định các chương trình định hướng mục
tiêu từng thời kỳ.
Chính sách kinh tế-xã hội, công cụ góp phần tạo ra môi trường kinh tế-xã hội ổn
định có lợi cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế-xã hội. Trong các chính sách đó quan trọng nhất là chính sách tài chính, tiền tệ Trong thời gian tới, chính sách tài chính phải
nhằm mục tiêu thúc đẩy sản xuất phát triển, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn
lực, tăng tích luỹ vốn để tạo vốn cho đầu tư phát triển, đáp ứng những nhu cầu chi thật sự
cấp bách, cần thiết đảm bảo quản lý thống nhất nền tài chính quốc gia, góp phần khống chế
lạm phát, xử lý đúng đắn mối quan hệ tích luỹ và tiêu dùng; tài chính nhà nước, tài chính
doanh nghiệp và tài chính dân cư; ngân sách trung ương và ngân sách địa phương.
Trong bài có sử dụng một số tài liệu tham khảo:
1. Sách Giáo khoa Kinh tế chính trị Mac–Lê Nin.
2. Bài giảng Kinh tế chính trị Mac–Lê Nin lớp K46XD2.
3. Bàn thêm về KTTT theo định hướng XHCN
(Nghiên cứu kinh tế Tháng 4/1999).