z
LUẬN VĂN:
Nghiên cứu máy móc và lao động trong
quá trình sản xuất giá trị thặng dư
I. Máy móc và lao động
1) Máy móc đối với nền sản xuất tư bản chủ nghĩa:
Trên cơ sở kỹ thuật thủ công, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa không thể được
xác lập một cách hoàn chỉnh và phát triển vững chắc. Do đó trong quá trình phát triển chủ
nghĩa tư bản đã tạo cho nó một cơ sở kỹ thuật tương ứng là máy móc, đưa chủ nghĩa tư
bản từ giai đoạn công trường thủ công lên giai đoạn công nghiệp cơ khí. Máy móc xuất
hiện vào thế kỷ 17 và ngày càng được hoàn thiện. ở thời kỳ cách mạng công nghiệp,
thông thường các máy móc đều gồm ba bộ phận cơ bản. Máy móc không ngừng được cải
tiến, phát triển, hình thức hoàn thiện nhất của nó hiện nay là máy tự động người máy.
Trong lịch sử phát triển của chủ nghĩa tư bản lúc đầu máy móc được sử dụng từng chiếc
trong từng xí nghiệp. Về sau nhờ chế tạo ra máy phát lực mạnh nên chỉ một máy động lực
cũng có thể làm cho nhiều máy công tác hoạt động.
Nhiều máy công tác hoạt động do máy lực trung tâm thông qua một hệ thống chuyển
lực thống nhất, gọi là hệ thống máy móc. Hệ thống máy móc có thể là sự hiệp tức giản
đơn của nhiều máy công tác cùng loại hoặc là sự hiệp tác của nhiều máy công tác khác
nhau nhưng liên kết với nhau.
Sự phát triển của máy móc thành hệ thống máy móc đề ra công xưởng. Công xưởng là
xí nghiệp đại công nghiệp sử dụng cả một hệ thống máy móc để sản xuất . Máy móc
được sử dụng phổ biến trong xã hội thông qua cuộc cách mạng công nghiệp. Về thực
chất, đó là cuộc cách mạng kỹ thuật thay thế lao động thủ công bằng lao động sử dụng
máy móc, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật. Kỹ thuật cho phương thức sản xuất tư bản
chủ nghĩa, bảo đảm sự toàn thắng của chủ nghĩa tư bản với chế độ phong kiến, xác lập sự
thống trị tuyệt đối của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trên toàn xã hội.
Phải chăng máy móc tạo ra giá trị thặng dư?. C.Mác đã chỉ ra rằng. giá trị của hàng hoá
trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa bao gồm giá trị của những tư liệu sản xuất đã được
tiêu dùng chuyển sang sản phẩm mới c và lượng giá trị mới do lao động sống thêm vào
Lượng giá trị của hàng hoá được xác định như thế nào? Nếu giá trị hàng hoá là lao
động xã hội kết tinh trong hàng hoá thì lượng giá trị của hàng hoá là số lượng lao động xã hội hao phí để sản xuất hàng hoá (gồm lao động sống và lao động vật hoá thể hiện ở tư
liệu sản xuất)
Vì lao động sản xuất hàng hoá có tính hai mặt : lao động cụ thể là lao động có ích dưới
một hình thức cụ thể của những nghề nghiệp chuyên môn nhất định. Mỗi lao động cụ thể
có một mục đích riêng, phương pháp hoạt động riêng, công cụ lao động riêng, đối tượng
lao động và kết quả lao động riêng. Thí dụ: lao động của người thợ xây, thợ mộc, thợ
may là những lao động cụ thể. Kết quả của lao động cụ thể là tạo ra một công dụng nhất
định, tức là tạo ra giá trị sử dụng của hàng hoá.
Lao động trừu tượng: là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá không kể đến hình
thức cụ thể của nó. Các loại lao động cụ thể có điểm chung giống nhau là sự tiêu hao cơ
bắp, thần kinh sau một quá trình lao động. Đó chính là lao động trừu tượng, nó tạo ra giá
trị của hàng hoá.
Tất nhiên, không phải có hai thứ lao động kết tinh trong hàng hoá mà chỉ là lao động
của người sản xuất hàng hoá có tính chất hai mặt mà thôi.
Trong nền sản xuất hàng hoá giản đơn, tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng
hoá là sự biểu hiện của mâu thuẫn giữa lao động tư nhân và lao động xã hội của những
người sản xuất hàng hoá. Đó chính là mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hoá giản đơn.
Mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hoá giản đơn còn biểu hiện ở lao động cụ thể với lao
động trừu tượng, ở giá trị sử dụng với giá trị hàng hoá.
Bất cứ quá trình lao động nào cũng là sự kết hợp ba nhân tố chủ yếu: lao động có mục
đích của con người, đối tượng lao động, tư liệu lao động (quan trọng hơn cả là công cụ
lao động, nhất là công cụ cơ khí hay máy móc). Sử dụng máy móc càng hiện đại thì sức
sản xuất của lao động càng cao, càng làm ra nhiều giá trị sử dụng (nhiều của cải) trong
một đơn vị thời gian.
Nhưng khi xét quá trình tạo ra và làm tăng giá trị thì những hàng hoá tham gia vào đây
không còn được xét với tư cách là những nhân tố vật thế nữa, mà chỉ được coi là những
bản chất của hiện tượng thì dễ lẫn lộn việc phân phối giá trị thặng dư với việc sản xuất ra
giá trị thặng dư. Từ đó tất yếu sẽ hiểu lầm rằng, máy móc là nguồn gốc sinh ra giá trị siêu
ngạch, mà không thấy rằng máy móc chỉ là đIều kiện để thu được lợi nhuận siêu ngạch
thông qua cạnh tranh. Thực chất vấn đề sẽ sáng tỏ hơn khi chỉ những xí nghiệp đi trước trong việc ứng dụng
công nghệ tiên tiến mới thu được lợi nhuận siêu ngạch. Khi công nghệ đó trở thành phổ
biến, các đối thủ cạnh tranh đã đuổi kịp trình độ tiên tiến thì giá trị thị trường sẽ hạ
xuống, hàng hoá rẻ đi, những người tiêu dùng được hưởng lợi và không có người sản
xuất nào thu được lợi nhuận siêu ngạch nữa.
Nhưng động cơ kiếm lợi nhuận siêu ngạch lại kích thích việc ứng dụng công nghệ mới
và một hiệp mới của cuộc cạnh tranh lại tiếp diễn. Nhờ đó, kỹ thuật tiến bộ không ngừng.
Mặt khác, cạnh tranh dưới tác động của tiến bộ kỹ thuật tất yếu dẫn đén phân hoá giàu
nghèo. Muốn thu hẹp khoảng cách giàu nghèo nhà nước phải thực hiện chính sách xoá
đói giảm nghèo, điều tiết thu nhập của dân cư và hỗ trợ những người nghèo.
Cũng cần lưu ý rằng máy móc là phương tiện giảm nhẹ nỗi cực nhọc của người lao
động, tiết kiệm lao động sống nhưng không phải bao giờ máy móc cũng là đIều kiện để
thu được nhiều lợi nhuận hơn là sử dụng lao động thủ công. Khi nói về giới hạn sử dụng
máy móc trong chủ nghĩa tư bản, C.Mác đã chỉ ra rằng nhà tư bản “không trả cho lao
động đã sử dụng, mà chỉ trả cho giá trị sức lao động đã sử dụng. Cho nên, việc sử dụng
máy móc bị giới hạn bởi số chênh lệch giữa giá trị của chiếc mày và giá trị của sức lao
động bị máy đó thay thế. Do đó, tiền công thấp sẽ ngăn cản việc sử dụng máy móc, bởi vì
lợi nhuận bắt nguồn không phải từ việc giảm bớt lao động được trả công. C.Mác đã dẫn
ra sự kiện người Mỹ chế tạo ra máy đập đá, nhưng người Anh không sử dụng máy móc
đó vì sử dụng “kẻ khốn khó” làm công việc ấy sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn.
Việc nhận thức máy móc chỉ chuyển giá trị sang sản phẩm mới theo mức độ khấu hao
chứ không làm tăng giá trị, không những giúp hiểu đúng nguồn gốc của giá trị thặng dư
mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc quản lý kinh tế.
Trong tầm vĩ mô phải tìm mọi cách khấu hao máy móc càng nhanh càng tốt, nhằm
người mua. Nhưng khác với hàng hoá thông thường khác, hàng hoá sức lao động có một
giá trị sử dụng đặc biệt là khi đem tiêu dùng thì nó tạo ra một giá trị lớn hơn giá trị bản
thân nó. Phần giá trị lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư mà nhà tư bản chiếm đoạt. Quá trình tiêu dùng sức lao động là quá trình lao động diễn ra trong lĩnh vực sản xuất.
Chính trong lĩnh vực này, đồng thời với việc tạo ra những giá trị sử dụng thì giá trị và giá
trị thặng dư cũng được tạo ra.
3) Phải chăng C.Mác quy công trực tiếp tạo ra giá trị cho lao động thể lực.
Có người cho rằng “C.Mác và các nhà khoa học tiền bối và cùng thời với C.Mác trong
thời đại máy hơi nước, máy dệt. . . đều quan niệm của cải được lao động sáng tạo ra là
của cải dạng vật thế. Từ đó quy công trực tiếp tạo ra gía trị cho lao động thực thể” và
chính C.Mác đã nhấn mạnh của cải vật thể và lao động thực thể đồng thời đã có nêu luận
điểm về của cải tinh thần và lao động khoa học. Sự kế tục, sáng tạo phải nối tiếp những
gợi ý.
Luận điểm trên hoàn toàn sai lầm, do không nắm được phương pháp trình bày của
C.Mác. Khi nói giá trị hàng hoá được đo bắng thời gian lao động trung bình cần thiết hay
thời gian lao động xã hội cần thiết. Tức là thời gian đòi hỏi để sản xuất ra một giá trị sử
dụng nào đó trong những đIều kiện sản xuất bình thường của xã hội với một trình độ
thành thạo trung bình và một cường độ lao động trung bình trong xã hội đó. C.Mác đồng
thời cũng đề cập đến lao động phức tạp coi lao động phức tạp là bội số của lao động giản
đơn. Nói đúng hơn là lao động giản đơn nhân bội lên , thành thử một lao động phức tạp
nhỏ hơn thì tương đương với một lượng lao động giản đơn lớn hơn.
Nhưng do áp dụng phương pháp trừu tượng hoá khoa học, C.Mác đã giả định “từ nay
về sau, để cho sự trình bày được đơn giản, chúng tôi sẽ trực tiếp coi mọi loại sức lao
động như là một sức lao động giản đơn. Điều đó, sẽ tránh cho chúng ta khỏi phải quy lao
động phức tạp ra lao động giản đơn trong từng trường hợp một”. Những ai vô tình hay
hứu ý mà quên mất giả định trên sẽ cho rằng C.Mác chỉ quy công tạo ra giá trị cho lao
động đơn giản cho lao động thể lực
một trường hợp thì dưới hình thái lao động đã vật hoá, trong trường hợp khác thì dưới
hình thái lao động đang vận động.
Bây giờ nếu chúng ta so sánh quá trình tạo ra giá trị với quá trình làm tăng giá trị thì
chúng ta sẽ thấy rằng quá trình làm tăng giá trị chẳng qua cũng chỉ là quá trình tạo ra giá
trị được keó dài quá một điểm nào đó. Nếu quá trình tạo ra giá trị chỉ kéo dài đến cái đIểm mà ở đó giá trị sức lao động do tư bản trả được hoàn lại bằng một vật ngang giá
mới thì đó là quá trình giản đơn tạo ra giá trị mà thôi. Còn nếu như quá trình tạo ra giá trị
vân được tiếp diễn quá điểm đó thì nó trở thành một quá trình làm tăng giá trị.
Với tư cách là sự thống nhất giữa quá trình lao động và quá trình tạo ra giá trị thì quá
trình sản xuất là một quá trình sản xuất hàng hoá. Với tư cách là sự thống nhất giữa quá
trình lao động và quá trình làm tăng giá trị thì quá trình sản xuất là một quá trình sản xuất
tư bản chủ nghĩa, là hình thái tư bản chủ nghĩa của nền sản xuất hàng hoá.
II. Quá trình sản xuất giá trị thặng dư:
có rất nhiều biện pháp và hình thức để sản xuất giá trị thặng dư. C.Mác khái quát thành
hai phương pháp chủ yếu là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và phương
pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối.
1) Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối: là cái giá trị thặng dư do chỉ đơn
thuần kéo dài ngày lao động ra mà có được. Kéo dài ngày lao động ra quá thời gian tất
yếu mà người công nhân dùng để cung cấp một vật ngang giá cần cho người đó sống và
đem lao động thặng dư đó cho tư bản, như thế là sản xuất ra giá trị thặng dư tuyệt đối. Sự
sản xuất đó là cơ sở chung cho chế độ tư bản chủ nghĩa và là điểm xuất phát để sản xuất
ra giá trị thặng dư tương đối.
Trong việc sản xuất ra giá trị thặng dư tương đối đó, ngày lao động chia thành hai phần:
lao động tất yếu và lao động thặng dư. Để kéo dài lao động thặng dư ra, lao động tất yếu
tất sẽ bị rút ngắn lại bằng những phương pháp khiến người ta sản xuất một vật ngang giá
với tiền công mà lại mất ít thời gian hơn. Việc sản xuất ra giá trị thặng dư tuyệt đối chỉ
ảnh hưởng đến thời gian lao động mà thôi, còn việc sản xuất ra giá trị thặng dư tương đối
tất yếu và lao động thặng dư sẽ thay đổi.
Sự tăng lên của sức sản xuất hay năng suất của lao động chúng ta hiểu nói chung là sự
thay đổi trong cách thức lao động. Một sự thay đối làm rút ngắn thời gian lao động xã hội
cần thiết để sản xuất ra một hàng hoá sao cho một số lượng lao động ít hơn mà lại còn
được một sức sản xuất ra nhiều giá trị sử dụng hơn. Khi chúng ta nghiên cứu giá trị
a
c b
a c
b b' thặng dư do kéo dài lao động ra mà có, thì chúng ta giả định là đã biết phương thức sản
xuất rồi.
Nhưng nếu muốn kiếm giá trị thặng dư bằng cách biến lao động tất yếu thành lao động
thặng dư mà tư bản vẫn cứ giữ y nguyên những cách thức lao động cổ truyền và chỉ biết
có đơn thuần kéo dài thời gian lao động ra thôi thì không đủ nữa. Muốn thế thì trái lại tư
bản phải cải biến những điều kiện kỹ thuật và điều kiện xã hội, nghĩa là phải cải biến
phương thức sản xuất. Chỉ có thế thì tư bản mới tăng năng suất lao động lên được, do đó
mà hạ giá thấp giá trị của sức lao động xuống và cũng do đó mà rút ngắn thời gian cần
thiết để tái sản xuất ra giá trị sức lao động đó.
Muốn cho việc nâng cao năng suất lên làm cho giá trị sức lao động hạ thấp xuống, thì
việc đó phải được thực hiện trong những ngành công nghiệp sản xuất ra những sản phẩm
quyết định giá trị của sức lao động đó. Nghĩa là, những ngành công nghiệp cung cấp
hoặc những hàng hoá cần thiết cho đời sống của công nhân, hoặc những tư liệu để sản
xuất ra hàng hoá đó.
Việc tăng năng suất lao động, trong khi làm cho giá cả những hàng hoá đó hạ xuống,
thì đồng thời cũng làm cho giá trị của sức lao động hạ xuống. Ngược lại, trong những
ngành công nghiệp không cung cấp những tư liệu sinh hoạt, cũng không cung cấp những
yếu tố vật chất của những tư liệu sinh hoạt đó, thì năng suất tăng lên cũng không làm ảnh
của xã hội gọi là giá trị thặng dư siêu ngạch.
III. Quy luật giá trị thặng dư
Sản xuất giá trị thặng dư là quy luật biểu hiện bản chất của phương thức sản xuất, phản
ánh mục đích và phương hướng của nền sản xuất. Giá trị thặng dư xét về mặt bản chất
chứ không xét về mặt lượng sản phẩm thặng dư là một phạm trù riêng của chủ nghĩa tư
bản. Trong mọi xã hội những sản phẩm thặng dư bán trên thị trường đều có giá trị, nhưng
ở chủ nghĩa tư bản thì giá trị của sản phẩm thặng dư mới là giá trị thặng dư. Do đó, sản
xuất giá trị thặng dư là quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản.
Nội dung của quy luật là tạo ra ngày càng nhiều giá trị thặng dư cho nhà tư bản bằng
cách tăng cường các phương tiện kỹ thuật và quản lý để bóc lột ngày càng nhiều lao động
làm thuê. Là nhà tư bản , hắn ta chỉ là tư bản đã được nhân cáh hoá, linh hồn hắn ta và
linh hồn của tư bản chỉ là một. Mà tư bản thì chỉ có một xu hướng tự nhiên, một động cơ duy nhất, nó cố tăng lên, cố tạo ra giá trị thặng dư, cố dùng phần bất biến của nó tức là
những tư liệu sản xuất để thu hút cho được một khối lượng lao động thặng dư nhiều nhất.
Khi xã hội ở vào hình thái mà về mặt kinh tế không phải giá trị trao đổi mà là giá trị sử
dụng chiếm ưu thế, thì lao động thặng dư ít nhiều bị hạn chế bởi phạm vi những nhu cầu
nhất định. Nhưng tính cách của chính ngay nền sản xuất thì không gây nên một sự thèm
khát cao độ về lao động thặng dư. Nhưng vấn đề là phải thu được giá trị trao đổi dưới
hình tháI riêng biệt của nó bằng cách sản xuất ra vàng và bạc.