Một số giải pháp phát triển chuỗi hệ thống bán lẻ của Tổng công ty Thương mại Hà nội - Hapro mart - Pdf 11

Đề án Kinh tế Thương mại
MỤC LỤC
Nguyễn Đức Linh - Thương mại 48B - ĐH KTQD
GVHD: PGS.TS.Phan Tố Uyên

Đề án Kinh tế Thương mại
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thế kỷ XX, Thế giới chứng kiến sự xuất hiện của loại hình kinh doanh Siêu thị
- một hình thức phân phối bản lẻ văn minh, hiện đại. Cùng với quá trình Công nghiệp
hóa – Hiện đại hóa đất nước, kinh doanh Siêu thị cũng đã xuất hiện ở Việt nam từ
mười năm nay và hiện nay đang phát triển rất nhanh, đặc biệt là ở các khu vực thành
thị như Hà nội, TP Hồ Chí Minh,... Kinh doanh Siêu thị đã dần làm thay đổ bộ mặt
của thị trường bán lẻ Việt nam. Kinh doanh Siêu thị mang tới cho khách hàng những
sản phẩm có chất lượng cao, kiểu dáng phong phú, đa dạng, giá cả cạnh tranh,... so
với các kiểu kinh doanh bán lẻ cũ, truyền thống.
Từ ngày 11/1/2007, Việt nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ
chức Thương mại Thế giới WTO, đưa nền Thương mại Việt nam vào thị trường
chung của Thương mại Thế giới, sẽ có rất nhiều Doanh nghiệp nước ngoài vào Việt
nam kinh doanh. Đứng trước điều đó, với nhiệm vụ là nòng cốt tạo diện mạo mới
cho Thương mại Thủ đô, chuỗi Siêu thị Hapro mart của Tổng công ty Thương mại
Hà nội đang từng bước khẳng định trên thị trường và hiện nay đã trở thành một trong
những nhà phân phối bán lẻ hàng đầu Việt nam. Thị trường bán lẻ Việt nam được các
nhà đầu tư nước ngoài đánh giá là một thị trường tiềm năng, đầy hứa hẹn. Hơn nữa,
kể từ ngày 1/1/2009, Việt nam chính thức mở cửa thị trường bán lẻ trong nước theo
cam kết lộ trình WTO. Điều này là một thách thức to lớn, khi mà hệ thống bán lẻ của
các Doanh nghiệp Việt nam hiện nay đang được đánh giá là nhỏ lẻ và manh mún,
còn các đối thủ là những công ty Quốc tế với ưu thế về tiềm lực, vốn, và có kinh
nghiệm quản lý hiện đại. Do đó, cạnh tranh trong lĩnh vực phân phối bán lẻ ở Việt
nam sẽ rất khốc liệt đối với các Doanh nghiệp bán lẻ trong nước.
Khi gia nhập vào WTO, một sân chơi lớn với sức ép cạnh tranh cao, một hệ

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, kết cấu đề án gồm
3 chương chính như sau:
Chương I: Tổng quan về hệ thống phân phối bán lẻ Việt nam
Chương II: Thực trạng hoạt động kinh doanh phân phối bán lẻ của
chuỗi Siêu thị Hapro mart
Chương III: Một số giải pháp nâng cao năng lực hoạt động của chuỗi
Siêu thị Hapro mart
CHƯƠNG I
Nguyễn Đức Linh - Thương mại 48B - ĐH KTQD
GVHD: PGS.TS.Phan Tố Uyên
2
Đề án Kinh tế Thương mại
TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG PHÂN PHỐI BÁN LẺ VIỆT NAM
1.1.KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI CÁC HÌNH THỨC BÁN LẺ
Theo Philip koller, bán lẻ là tất cả những hoạt động có liên quan đến việc bán
hàng hoá hay dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng để họ sử dụng cho bản thân chứ
không phải để kinh doanh. Có nhiều tổ chức nhà sản xuất, nhà ban buôn, nhà bán lẻ
thực hiện các chức năng bán lẻ, nhưng phần lớn công việc bán lẻ là do những nhà bán
lẻ chuyên nghiệp thực hiện. Việc bán lẻ có thể thực hiện qua nhân viên bán trực tiếp,
bưu điện, điện thoại hay các máy bán lẻ tự động.
Các nhà bán lẻ thuộc đủ loại quy mô và hình thức, và luôn xuất hiện thêm
những hình thức bán lẻ mới. Các chức năng phân phối do các nhà bán lẻ thực hiện có
thể phối hợp theo nhiều cách khác nhau để tạo ra các dạng mới của định chế bán lẻ.
Có thể phân loại bán lẻ qua các tiêu thức sau:
- Theo mức độ phục vụ, gồm có: Bán lẻ tự phục vụ; Bán lẻ phục vụ có giới hạn;
Bán lẻ phục vụ toàn phần.
- Theo mặt hàng kinh doanh, gồm có: Cửa hàng chuyên doanh (Chuyên kinh
doanh một hoặc một nhóm mặt hàng); Cửa hàng bách hoá (Kinh doanh nhiều mặt
hàng, chủng loại mặt hàng); Siêu thị là những trung tâm bán lẻ lớn, chi phí thấp, tự
phục vụ giá thấp, doanh số bán cao; Cửa hàng tiện ích là những cửa hàng bán lẻ nhỏ,

bán cận ven.
1.2.TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG PHÂN PHỐI BẢN LẺ Ở VIỆT NAM
Hệ thống phân phối bán lẻ của Việt Nam hiện nay có khoảng 200 siêu thị, 30
trung tâm thương mại, hơn 600 cửa hàng tự chọn và 1000 cửa hàng tiện ích hoạt
động trên 30 Tỉnh, Thành phố. Với số lượng như vậy, hệ thống phân phối bán lẻ của
Việt Nam được xem là nhỏ bé, manh mún so với một thị trường bán lẻ hấp dẫn mang
lại doanh số trung bình hơn 20 tỷ USD/năm. Thị trường bán lẻ Việt Nam được xem
là hấp dẫn không chỉ vì nó có thể mang lại doanh số trung bình hơn 20 tỷ USD/năm
mà nó còn hấp dẫn bởi số lượng dân số lớn (84 triệu người) theo dự đoán có thể đạt
tới con số 100 triệu người năm 2020, tỷ lệ dân số trẻ dưới 30 tuổi cao (chiếm 50%
dân số). Bên cạnh đó, thu nhập cá nhân ngày càng được cải thiện một cách đáng kể,
tăng khả năng tiêu dùng hàng hoá của người dân.
Bảng 1.1: Thu nhập bình quân đầu người trên cả nước
Đơn vị: USD
Năm 1996 1999 2002 2004 2006 2007 2008
Cả nước
226,7 295,0 356,8 484,4 636,0 835,6 1.024,0
Thành thị
509,4 832,5 626,0 794,8 1.508,0 2.095,3 2.943,4
Nông thôn
187,9 225,0 276,0 376,5 506,0 650,0 735,8
(Nguồn: Kết quả điều tra mức sống của Tổng cục thống kê)
Thu nhập bình quân đầu người nước ta tăng rõ rệt kể cả thành thị và nông thôn.
Nguyễn Đức Linh - Thương mại 48B - ĐH KTQD
GVHD: PGS.TS.Phan Tố Uyên
4
Đề án Kinh tế Thương mại
Giai đoạn 2004-2006, thu nhập bình quân đầu người cả nước tăng 31,3%. GDP bình
quân đầu người hiện nay của Việt nam đã vượt qua mức 1000USD/người/năm và
đang tăng trưởng nhanh, trong đó GDP đầu người của tầng lớp trung lưu tăng khá

5
Đề án Kinh tế Thương mại
Năm
2004 2005 2006 2007 2008
Tuyệt
đối
Tỷ
trọng
(%)
Tuyệt
đối
Tỷ
trọng
(%)
Tuyệt
đối
Tỷ
trọng
(%)
Tuyệt
đối
Tỷ
trọng
(%)
Tuyệt
đối
Tỷ
trọng
(%)
Tổng

(Nguồn: Tổng cục thống kê)
Hiện nay tỷ trọng thương mại hiện đại ở các nước trên thế giới ngày càng cao,
tại Mỹ là 90%, Trung Quốc là 56%, còn Việt Nam con số này rất nhỏ, chỉ chiếm
15%, còn lại 85% cho một thị trường 84 triệu dân chủ yếu tiêu dùng thông qua bán lẻ
Nguyễn Đức Linh - Thương mại 48B - ĐH KTQD
GVHD: PGS.TS.Phan Tố Uyên
6
Đề án Kinh tế Thương mại
thì quả là có sức hút rất lớn đối với các nhà đầu tư trong lĩnh vực bán hàng hiện đại.
Ở Việt nam hiện nay, có đến tận 40% lượng hàng hoá đến với người tiêu dùng thông
qua hệ thống chợ, 44% hàng hoá qua hệ thống các cửa hàng bán lẻ truyền thống, còn
hàng hoá thông qua hệ thống phân phối hiện đại chỉ đạt 10%, 6% còn lại là do nhà
sản xuất trực tiếp bán thẳng. Mô hình siêu thị tại Việt nam hiện nay chỉ mới ở dạng
sơ khai, nghĩa là mới chỉ có các siêu thị hoặc chuỗi siêu thị, cửa hàng tiện ích mà
chưa có đại siêu thị, tổng kho phân phối. Mô hình bán lẻ thì được thực hiện theo quy
trình từ nhà sản xuất – nhà phân phối, hàng hoá sẽ được đưa tới các siêu thị, cửa hàng
bán lẻ hoặc trung tâm bán buôn để đến với người tiêu dùng. Mô hình này được đánh
giá là còn quá nhiều cấp trung gian trong cùng một khâu (bán buôn, bán lẻ), quá
nhiều đầu mối trên cùng một khu vực.
Hoạt động của hệ thống phân phối bán lẻ hàng hóa ở Việt nam, đặc biệt là tại
các thành phố lớn đang tạo sức hút đặc biệt đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Tuy
nhiên, điều đó đã đặt ra những thách thức không nhỏ đối với hệ thống phân phối bán
lẻ hàng hóa trong nước. Và việc phát triển hệ thống phân phối bán lẻ của các doanh
nghiệp Việt Nam trong nước đã và đang gặp phải những khó khăn như:
- Việc xây dựng, quy hoạch mạng lưới hiện đại gặp khó khăn về vốn, đất đai và
công nghệ quản lý. Thủ tục đất đai, thủ tục đầu tư còn nhiều bất cập; cơ chế chính
sách thu hút đầu tư của các thành phần kinh tế ở nước ta còn thiếu và chưa đồng bộ
làm cản trở việc đầu tư của các doanh nghiệp.
- Khả năng cạnh tranh của hàng hóa còn thấp. Nhiều mặt hàng còn đơn điệu,
mẫu mã và quy cách chậm đổi mới , chất lượng thấp và giá thành cao, do đó nói

trong nước, tuân thủ những quy định khắt khe và cao hơn so với trước đây. Cơ hội và
thách thức không tĩnh tại và bất biến, không đồng đều cho mọi ngành, mọi địa
phương mà là tương quan động, cơ hội và thách thức có thể chuyển hóa cho nhau.
Càng năng động, chủ động, quyết tâm học hỏi, cải cách, phát huy lợi thế thì cơ hội
càng lớn và thách thức càng giảm đi, ngược lại, thụ động, không chịu đổi mới tư duy,
không biết người, biết mình, thì cơ hội hiển nhiên cũng không nắm bắt được mà
thách thức sẽ ngày càng lớn và dồn dập hơn.
Hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam đang gấp rút triển khai những kế hoạch
chiến lược riêng để chống lại sự lấn át của các nhà phân phối nước ngoài. Đã có
nhiều thương hiệu được biết đến trên thị trưồng bán lẻ như Hapro Mart, SaiGon Co-
op Mart, Fivimart, Day & Night, G7Mart, Small Mart 24h/7, Shop & Go, Intimex,
Best & Buy…Đã hình thành nhiều mô hình phân phối được áp dụng. Một trong
những mô hình được kỳ vọng sẽ tạo ra vị thế mới cho doanh nghiệp Việt Nam trong
điều kiện hội nhập, góp phần xây dưng nền thương mại trong nước vững mạnh để
chuẩn bị đón đầu cho việc mở cửa hoàn toàn lĩnh vực dịch vụ từ ngày 1/1/2009, đó là
mô hình liên kết giữa các doanh nghiệp, các nhà phân phối nhằm phát huy được
Nguyễn Đức Linh - Thương mại 48B - ĐH KTQD
GVHD: PGS.TS.Phan Tố Uyên
8
Đề án Kinh tế Thương mại
những thế mạnh của các thành viên. Điển hình cho mô hình liên kết này là sự ra đời
của Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển hệ thống phân phối Việt Nam (VDA) trong
tháng 5/2007 của 4 doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực phân phối tại Việt Nam là:
Tổng công ty thương mại Sài Gòn (Satra), Tổng công ty thương mại Hà Nội (Hapro),
SaiGon Co-op và Phú Thái group.
Mặc dù vậy, theo không ít các chuyên gia , những chuyển biến trong ngành
thương mại nước ta chủ yếu mang tính tự phát. Do vậy, nếu ngành phân phối bán lẻ
nứơc ta không kịp thời xây dựng tổ chức lại hệ thống phân phối hiện đại, với một
chiến lược đúng đắn sẽ khó cạnh tranh khi các tập đoàn lớn, các nhà đầu tư nước
ngoài đặt chân vào thị trường nước ta.

- Dân số: số người hiện hữu trên thị trường. Đây là tiêu thức ảnh hưởng đến quy
mô của nhu cầu và tính đa dạng của nhu cầu.
- Xu hướng vận động của dân số: tỷ lệ sinh tử, độ tuổi trung bình, tỷ lệ nam nữ,
tháp tuổi,… Tiêu thức này cho biết dạng của nhu cầu và sản phẩm đáp ứng.
- Hộ gia đình và xu hướng vận động: chất lượng và quy cách sản phẩm khi thoả
mãn nhu cầu của cả gia đình.
- Sự dịch chuyển dân cư và xu hướng vận động
- Thu nhập và phân bố thu nhập của người tiêu dùng: yêu cầu về sự thoả mãn
nhu cầu theo khả năng tài chính.
- Nghề nghiệp và tầng lớp xã hội: yêu cầu về sự thoả mãn nhu cầu theo địa vị xã
hội.
- Dân tộc, chủng tộc, sắc tộc, tôn giáo, nền văn hoá, nói lên sự đa dạng của nhu
cầu và cách thức thoả mãn.
1.3.3. Môi trường Chính trị - Pháp luật
Môi trường chính trị - pháp luật chi phối mạnh mẽ đến sự hình thành cơ hội
thương mại và khả năng thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp. Môi trường chính trị -
pháp luật ổn định là điều kiện tiền đề cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Hiện nay, Việt Nam mới chỉ có một văn bản quy pham pháp luật ở cấp Bộ quy
định về tiêu chuẩn, hàng hoá, dịch vụ và trách nhiệm quản lý hoạt động của loại hình
siêu thị, trung tâm thương mại. Các quy định về phân phối bán lẻ còn thiếu sót, thiếu
đồng bộ.
Trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp phải luôn quan tâm tới các thành
phần của môi trường chính trị - pháp luật như sau:
- Quan điểm, mục tiêu định hướng phát triển xã hội và nền kinh tế của Đảng
cầm quyền.
- Chương trình, kế hoạch triển khai thực hiện các quyết định, mục tiêu của
Chính phủ và khả năng điều hành của Chính phủ.
- Mức độ ổn định chính trị - xã hội
Nguyễn Đức Linh - Thương mại 48B - ĐH KTQD
GVHD: PGS.TS.Phan Tố Uyên

mô hình Công ty mẹ - Công ty con.
Tổng công ty thương mại Hà Nội bao gồm công ty mẹ - Tổng công ty thương
mại Hà Nội và 23 công ty con là các công ty TNHH một thành viên, các công ty cổ
phần và các công ty liên doanh liên kết.
Tổng công ty thương mại Hà Nội thực hiện vai trò của công ty mẹ đối với các
công ty thành viên – Công ty con thông qua khả năng tài chính, thương hiệu và uy tín
trên thị trường.
Tổng công ty thương mại Hà Nội có nhiệm vụ sản xuất kinh doanh chủ yếu:
Xuất nhập khẩu nông sản, thực phẩm, đồ uống, thủ công mỹ nghệ, may mặc, hàng
tiêu dùng, máy móc thiết bị và nguyên vật liệu; Trung tâm thương mại, siêu thị, hệ
thống cửa hàng; Bán buôn bán lẻ hàng tiêu dùng, vật tư, vật liệu phục vụ sản xuất và
đời sống; Sản xuất chế biến nông sản, thực phẩm, nước giải khát, kem bánh các loại,
hàng tiêu dùng, gốm sứ mỹ nghệ… Dịch vụ du lịch, nhà hàng, khách sạn, ăn uống
giải khát; Kinh doanh bất động sản, dịch vụ văn phòng, đại diện thương mại…
Tổng công ty thương mại Hà Nội thực hiện sản xuất và kinh doanh theo chính
sách chất lượng được đề ra, đó là: đảm bảo cung cấp các sản phẩm và dịch vụ đáp
ứng mọi yêu cầu đã cam kết với khách hàng; liên tục cải tiến, nâng cao chất lượng
sản phẩm và dịch vụ, thoả mãn yêu cầu ngày càng cao của khách hàng và là người
bạn đáng tin cậy , người đồng hành thuỷ chung của khách hàng.
Giới thiệu chung về Tổng công ty thương mại Hà Nội:
Tên giao dịch Tiếng Việt: Tổng công ty thương mại Hà Nội
Tên Giao dịch quốc tế: Ha Noi Trade Corporation
Thương hiệu: Hapro
Websites: www.haprogroup.vn
Văn phòng Hà Nội:
Nguyễn Đức Linh - Thương mại 48B - ĐH KTQD
GVHD: PGS.TS.Phan Tố Uyên
12
Đề án Kinh tế Thương mại
Địa chỉ: 38-40 Lê Thái Tổ, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

thủ công nghiệp Hà Nội ra quyết định số 27/QĐ – TC quyết định thành lập chi nhánh
Nguyễn Đức Linh - Thương mại 48B - ĐH KTQD
GVHD: PGS.TS.Phan Tố Uyên
13
Đề án Kinh tế Thương mại
phía Nam, lấy tên giao dịch là Haprosimex Saigon. Cùng năm, Giám đốc liên hiệp
sản xuất - dịch vụ và xuất nhập khẩu tiểu thủ công nghiệp Hà Nội ra quyết định số
67/QĐ – TC ngày 20/10/1993 thành lập chi nhánh “Haprosimex Saigon”. Trên cơ sở
sáp nhập xí nghiệp phụ tùng xe đạp, xe máy Hà Nội, tháng 1/1999, UBND TP HN đã
quyết định chuyển Chi nhánh thành công ty và đổi tên thành Công ty sản xuất – dịch
vụ XNK Nam Hà Nội, đặt trụ sở tại 28B Lê Ngọc Hân – Quận Hoàn Kiếm – Hà Nội.
Một năm sau, theo quyết định số 6908/QĐ – UB ngày 12/2/2000 công ty sáp nhập
công ty ăn uống dịch vụ bốn mùa và biến đổi thành công ty sản xuất - dịch vụ và xuất
nhập khẩu Nam Hà Nội, đồng thời chuyển về sở Thương Mại quản lý về mặt nhà
nước.Tiếp đó, ngày 20/3/2002, Công ty lại có quyết định sáp nhập với Xí nghiệp
giống cây trồng Toàn Thắng nhằm góp phần thực hiện dự án xây dựng cụm công
nghiệp thực phẩm Hà Nội.
Trong 5 năm (từ 1999 đến 2003), công ty đã 3 lần giao quản lý vốn nhà nước ở
các công ty cổ phần: Simex (10/2/2002), Sứ Bát Tràng (22/07/03), Vang Thăng Long
(23/10/2003).
Ngày 11/8/2004, Tổng công ty thương mại Hà Nội được thành lập theo Quyết
định số 129/2004/QĐ-TTg ngày 14 tháng 07 năm 2004 của Thủ Tướng Chính phủ và
Quyết định số 125/2004/QĐ – UB ngày 11 tháng 08 năm 2004 của UBND thành phố
Hà Nội về việc thành lập Tổng công ty thương mại Hà Nội thí điểm hoạt động theo
mô hình Công ty mẹ - Công ty con.
Hiện nay, Tổng công ty thương mại Hà Nội có 23 đơn vị thành viên và là chủ
đầu tư quản lý khu công nghiệp thực phẩm Hapro tại xã Lệ Chi – Kim Sơn – Gia
Lâm – Hà Nội.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Tổng công ty Thương mại Hà nội
Nguyễn Đức Linh - Thương mại 48B - ĐH KTQD

Nhà máy Mỳ Hapro
Chi nhánh TCT tại TP.HCM
Cty siêu thị Hà Nội
Công ty bách hóa Hà Nội
T.T Thương mại dịch vụ Bốn Mùa
XN Gốm Chu Đậu
XN Dịch vụ kho hàng
Trung tâm dầu tư và phát triển hạ
tầng thương mại
15
Đề án Kinh tế Thương mại
2.2. KHÁI QUÁT VỀ CHUỖI SIÊU THỊ HAPRO MART
2.2.1. Mục tiêu của chuỗi Siêu thị Hapro Mart
Công ty Siêu thị Hà nội là một trong những công ty con của Tổng công ty
thương mại Hà nội. Và hàng loạt các Siêu thị, cửa hàng tiện ích với màu xanh đặc
trưng của thương hiệu Hapro Mart của Công ty Siêu thị Hà Nội đã được khai trương
để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của nhân dân Thủ đô và khách du lịch nước ngoài.
Cùng với Slogan: “Tiện ích cho mọi nhà”, thương hiệu Hapro Mart đã thể hiện được
hết những tiêu chí mong muốn phục vụ của mình tới khách hàng đó là: chất lượng
đảm bảo, giá cả hợp lý, phục vụ tận tình, tiện ích tối đa. Và Công ty Siêu thị Hà Nội
đang phấn đấu để có thể thực hiện đúng như những gì mà Công ty đã cam kết với
người tiêu dùng. Đó là:
- Trở thành nhà phân phối – bán lẻ hàng đầu của Việt Nam trong lĩnh vực
phân phối hàng hóa qua kênh phân phối hiện đại
- Chiếm 20% thị phần Miền bắc của thị trường bán lẻ qua kênh tiêu dùng hiện
đại vào năm 2010
- Đưa thương hiệu Hapro trở thành thương hiệu uy tín, được nhiều người tiêu
dùng biết đến
- Trở thành nhà phân phối - bán lẻ chiến lược cho các nhà sản xuất trong nước
và nước ngoài

1 Siêu thị Hapro Mart 5 Lê Duẩn, quận Ba Đình, Hà Nội
2 Siêu thị Hapro Mart C12 Thanh Xuân Bắc, quận Thanh Xuân, Hà Nội
3 Siêu thị Hapro Mart D2 Giảng Võ, quận Ba Đình, Hà Nội
4 Siêu thị Hapro Mart Tầng 3 chợ Bưởi, quận Tây Hồ, Hà Nội
5 Siêu thị Hapro Mart 284 Minh Khai, Hai Bà Trưng, Hà Nội
6 Siêu thị Hapro Mart 51 Lê Đại Hành, Hai Bà Trưng, Hà Nội
7 Siêu thị Hapro Mart 9B Lê Quý Đôn, Hai Bà Trưng, Hà Nội
8 Siêu thị Hapro Mart 349 Ngọc Lâm, Long Biên, Hà Nội
9 Siêu thị Hapro Mart G3 Vĩnh Phúc 1, Cầu Giấy, Hà Nội
10 Siêu thị Hapro Mart 35 Hàng Bông, Hoàn Kiếm, Hà Nội
11 Siêu thị Hapro Mart 102 Hàng Buồm, Hoàn Kiếm, Hà Nội
12 Siêu thị Hapro Mart 323 Nguyễn Văn Cừ, Long Biên, Hà Nội
13 Siêu thị Hapro Mart 176 Hà Huy Tập, Gia Lâm, Hà Nội
14 Siêu thị Hapro Mart B3A Nam Trung Yên, Cầu Giấy, Hà Nội
15 Siêu thị Hapro Mart 111 Lê Duẫn, Hoàn Kiếm, Hà Nội
16 Siêu thị Hapro Mart 45 Hàng Bồ, Hoàn Kiếm, Hà Nội
17 Siêu thị Hapro Mart 2 Ngô Xuân Quảng, Gia Lâm, Hà Nội
18 Siêu thị Hapro Mart Km 3 + 500 đường Hùng Vương, Thái Bình
19 Siêu thị Hapro Mart 1 Lương Văn Thắng, P. Đông Thành, Thái Bình
20 Siêu thị Hapro Mart 25 Đinh Điền, P. Lam Sơn, Thanh Hóa
21 Siêu thị Hapro Mart 25 Đại lộ Lê Lợi, P. Lam Sơn, Thanh Hóa
22 Siêu thị Hapro Mart Tổ 75 Trần Phú Thượng, Cẩm Tây, Tx. Cẩm Phả,
Quảng Ninh
Nguyễn Đức Linh - Thương mại 48B - ĐH KTQD
GVHD: PGS.TS.Phan Tố Uyên
17
Đề án Kinh tế Thương mại
23 Siêu thị Hapro Mart Thị trấn Nông Trường Mộc Châu, Sơn La
24 Siêu thị Hapro Mart Thị trấn Văn Điển, Thanh Trì, Hà Nội
25 Siêu thị Hapro Mart 66 Hoàng Văn Thụ, TP. Thái Nguyên, Thái Nguyên

4. Siêu thị Hoàng Hoa Thám 15.450 8.310 53,8%
Doanh thu đầu kệ 189
Doanh thu hoa hồng 434
Doanh thu bán lẻ 7.687
5. Cửa hàng Nam Trung Yên 1.870 1.150 61,5%
Doanh thu bán lẻ 1.150
6. Cửa hàng Vĩnh Phúc 3.500 3.314 94,7%
Doanh thu bán lẻ 3.314
Tổng số 112.820 94.500 83,8%
(Nguồn: Phòng Kế hoạch phát triển)
Nhận xét:
Qua bảng tổng kết doanh thu năm 2008 của các siêu thị, cửa hàng tiện ích nhận
Nguyễn Đức Linh - Thương mại 48B - ĐH KTQD
GVHD: PGS.TS.Phan Tố Uyên
18
Đề án Kinh tế Thương mại
thấy một điều là hầu như các đơn vị đều không hoàn thành kế hoạch được giao duy
chỉ có Siêu thị 5 Nam Bộ là hoàn thành và vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra là 104,2%.
Đây là một sự nỗ lực đáng khen thưởng của tập thể cán bộ, nhân viên Siêu thị 5 Nam
Bộ. Với tiền thân là Cửa hàng Bách hoá số 5 Nam Bộ cũ và trong khu vực không có
một siêu thị của các đối thủ cạnh tranh nên Siêu thị luôn có một lượng khách hàng
trung thành khá lớn. Hơn nữa Siêu thị lại được đặt ngay tại văn phòng của Công ty
nên khi có những khó khăn Giám đốc Siêu thị có thể xin ý kiến chỉ đạo trực tiếp của
Ban Giám đốc Công ty, đây là một ưu thế của Siêu thị so với các siêu thị khác. Các
đơn vị còn lại đều không hoàn thành kế hoạch trong đó Siêu thị Hoàng Hoa Thám là
đơn vị hoạt động kém hiệu quả nhất so với các đơn vị khác. Thực hiện so với kế
hoạch chỉ đạt có 53,8%, nguyên nhân có thể là do người dân tại khu vực này chưa
quen với việc mua sắm tại Siêu thị do Siêu thị được đặt tại Tầng 3 Chợ Bưởi. Và với
thói quen của người Việt Nam nếu chợ và siêu thị đặt liền kề nhau như vậy thì chợ sẽ
là sự lựa chọn ưa tiên hơn đối với họ, đây quả thực là một bất lợi lớn cho hoạt động

5. CHTI. Nam Trung Yên 479,48 77,69 687,66 876,03 93,1 18,9
6. CHTI. Vĩnh Phúc 586,02 141,19 722,16 365,58 86,1 32,52
Tổng cộng 23.468,94 7.822,98 24.338,16 11.299,86 13.907,52 6.084,54
Chiếm tỷ trọng 27% 9% 28% 13% 16% 7%
(Nguồn: Phòng Kế hoạch phát triển)
Chú thích: - ST: Siêu thị
- CHTI: Cửa hàng tiện ích
Nguyễn Đức Linh - Thương mại 48B - ĐH KTQD
GVHD: PGS.TS.Phan Tố Uyên
20

Đề án Kinh tế Thương mại
Nhận xét:
Qua bảng tổng kết doanh số theo nhóm hàng của các đơn vị trong năm 2008,
nhận thấy nhóm hàng Tạp phẩm, gia dụng chiếm tỷ trọng tiêu thụ lớn nhất là 28%,
tiếp đến là nhóm hàng Thực phẩm khô (27%), nhóm hàng May mặc (16%), nhóm
hàng Hoá mỹ phẩm, tẩy rửa (13%), nhóm hàng Thực phẩm tươi (9%), cuối cùng là
nhóm Hàng hoá khác (7%). Nguyên nhân là do thói quen của người Việt Nam. Khác
với các nước Châu Âu hay các nước Châu Á phát triển, người Việt Nam không có
thói quen đi siêu thị mua thực phẩm dự trữ trong một tuần hay trong một thời gian
ngắn như các nước phương Tây hay một số nước Châu Á khác mà đối với họ đi siêu
thị chỉ để mua những hàng tạp phẩm, hàng gia dụng và tần suất đi của họ cũng ít hơn.
Và chợ vẫn là sự lựa chọn số một, người Việt Nam thường có thói quen đi chợ mua
thực phẩm hàng ngày để đảm bảo sự tươi ngon. Nhưng trong cuộc sống hiện đại ngày
nay thói quen đó đã có chút thay đổi, do cuộc sống công việc hối hả bận rộn đã làm
cho thói quen của người tiêu dùng trẻ có nhiều thay đổi. Họ đi siêu thị nhiều hơn, và
đối với nhiều người đây được coi là sự lựa chọn ưu tiên hơn chợ do sự văn minh,
hiện đại trong mua sắm và mua hàng hóa nhất là thực phẩm ở đây họ có cảm giác yên
tâm hơn đặc biệt là sau 2 đại dịch cúm gia cầm và dịch tả thì vấn đề xuất xứ hàng
hoá, vệ sinh an toàn được người tiêu dùng hết sức chú ý.

Khó khăn:
Trong thời gian nửa đầu năm 2008, lạm phát tăng một cách “chóng mặt”, chỉ số
giá tiêu dùng leo thang, có lúc lên đến 22 – 24%; từ quý 4 năm 2008 cho đến tận bây
giờ, kinh tế Việt nam lại phải đối phó với suy giảm kinh tế, giảm phát. Chính phủ đã
giải quyết được tình trạng lạm phát năm 2008 và hiện nay đang phải tìm cách vực
dậy nền kinh tế, trong đó có thị trường bán lẻ. Hiện nay, Chính phủ đã đưa ra các gói
kích thích kinh tế, kích thích tiêu dùng, và mới đây nhất là chính sách hỗ trợ tiêu
dùng cho những người có thu nhâp thấp. Cùng với Thế giới, sự suy giảm kinh tế của
Việt nam đã, đang và sẽ gây ra nhiều khó khăn cho hoạt động của các Doanh nghiệp
Thương mại hoạt động trong lĩnh vực phân phối bán lẻ.
Các lộ trình gia nhập WTO đang dần được thực hiện như cam kết, Việt nam
cũng đã mở cửa thị trường bán lẻ vào ngày 1/1/2009, hiện nay vì lý do suy giảm kinh
tế của thế giới nên nhiều Doanh nghiệp bán lẻ của thế giới đã hoãn việc xâm nhâp thị
trường bán lẻ Việt nam nhưng một khi nền kinh tế thế giới được phục hồi thì sẽ có
một lọat các công ty lớn, danh tiếng hoạt động trong lĩnh vực bán lẻ của thế giới sẽ
tràn vào Việt nam, đó sẽ những thách thức không nhỏ cho các Doanh nghiệp Việt
nam.
Buôn lậu, đặc biệt từ Trung Quốc vào Việt Nam vẫn cứ gia tăng mặc dù các cơ
quan chức năng đã có nhiều biện pháp mạnh, làm cho các doanh nghiệp nhập hàng từ
nguồn chính thống phải cạnh tranh về giá cả về những loại hàng hoá này.
Nguyễn Đức Linh - Thương mại 48B - ĐH KTQD
GVHD: PGS.TS.Phan Tố Uyên
23

Trích đoạn Điểm yếu của chuỗi Siêu thị Hapro mart Những kết quả đạt được Những hạn chế và nguyên nhân Định hướng phát triển Xây dựng các chính sách mặt hàng, nguồn hàng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status