ĐỀ TÀI:GIẢI PHÁP THỰC HIỆN HỢP NHẤT VÀ THÂU TÓM CHO NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2010-2015 - Pdf 11

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG

o0o

Công trình tham dự Cuộc thi

Sinh viên nghiên cứu khoa học trường Đại học Ngoại thương năm 2010

Tên công trình:GIẢI PHÁP THỰC HIỆN HỢP NHẤT VÀ THÂU TÓM CHO NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI
THƢƠNG VIỆT NAM



MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT I DANH MỤC CÁC
BẢNG II LỜI NÓI
ĐẦU 1
CHƢƠNG I

TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG HỢP NHẤT VÀ THÂU TÓM 3

1. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG HỢP NHẤT VÀ THÂU TÓM 3

1.1 Khái niệm 3

1.2 Phân loại hoạt động M&A 5

1.3 Mục đích của M&A 6

1.4 Các vấn đề quan trọng khi tiến hành M&A 9


3.2. Mục tiêu Vietcombank cần đạt được khi tiến hành M&A 29

3.3. Đánh giá tiềm năng và thực trạng tiến hành M&A tại Vietcombank 31

3.4. Nguyên nhân khiến hoạt động M&A tại Vietcombank chưa thành công 34

CHƢƠNG III GIẢI PHÁP
THỰC HIỆN HOẠT ĐỘNG M&A CHO VIETCOMBANK TRONG GIAI ĐOẠN 2010-2015
37
1. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN HOẠT ĐỘNG M&A CHO VIETCOMBANK

TRONG GIAI ĐOẠN 2010-2015 37

1.1 Lựa chọn nhà đầu tư chiến lược 37

1.2 Định giá doanh nghiệp 38

1.3. Tiến hành định giá Vietcombank 41

1.4. Kết luận 51

2. MỘT SÔ KIẾN NGHỊ NHẰM THỰC HIỆN THÀNH CÔNG HOẠT

đầu tại Việt Nam - cũng không nằm ngoài làn sóng M&A sôi động đó. Nhận thức được tầm quan trọng của
việc thực hiện M&A là mở rộng quy mô, đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ, tạo đà phát triển không chỉ trong
thị trường ngân hàng nội địa mà trên cả trường quốc tế, VCB đã tiến hành IPO vào cuối năm 2007. Tuy
nhiên, dù đạt được kỳ vọng cao của các nhà đầu tư, lần IPO này của VCB lại không thành công.
Xuất phát từ những lý do trên, nhóm chúng tôi đã quyết định thực hiện
nghiên cứu đề tài:

“GIẢI PHÁP THỰC HIỆN HỢP NHẤT VÀ THÂU TÓM CHO NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ
PHẦN NGOẠI THƢƠNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2010-2015”
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm đưa ra một số giải pháp để tiến hành hoạt động M&A tại
Vietcombank trong giai đoạn 2010-2015 trên cơ sở nghiên cứu các nhân tố quan trọng cấu thành một vụ
M&A trong lĩnh vực ngân hàng thành công và đánh giá thực trạng M&A tại Vietcombank, xác định nguyên
nhân khiến hoạt động M&A tại Vietcombank đến nay chưa thành công.

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu hoạt động M&A Vietcombank với số liệu các năm 2004-2009.

4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài đã sử dụng các phương pháp duy vật biện chứng kết hợp với phương pháp tổng hợp, phân tích,
so sánh, và phương pháp mô hình hóa.

5. Kết cấu của đề tài
Ngoài lời mở đầu và kết luận, đề tài được kết cấu gồm 3 chương:

Chƣơng 1: Tổng quan về hoạt động hợp nhất và thâu tóm

Theo sách The art of M&A (của các tác giả Stanley Foster Reed,
Alexandria Lajoux, H. Peter Nesvold, nhà xuất bản Mc Grow Hill, tái bản lần thứ 4):
- Acquisition: là một khái niệm chung chỉ việc chuyển nhượng
quyền sở hữu doanh nghiệp thông qua việc mua bán tài sản hoặc chứng khoán của một doanh nghiệp
khác.
- Merger: là một thuật ngữ mang tính pháp lí, với nghĩa hẹp
hơn acquisition, chỉ việc một doanh nghiệp kết hợp với một doanh nghiệp khác và chấm dứt sự tồn tại của
mình. Tất cả các thương vụ merger là mang tính bắt buộc pháp lí và thường có sự can thiệp của nhà nước
hoặc pháp luật.
- Consolidation: là một hình thức pháp lí đặc biệt của merger,theo đó hai doanh
nghiệp sẽ kết hợp lại thành một doanh nghiệp mới và chấm dứt sự tồn tại của hai doanh nghiệp cũ.
Nói chung, thâu tóm hay sáp nhập là khái niệm được sử dụng để chỉ
một công ty tìm cách nắm giữ quyền kiểm soát đối với một công ty khác thông qua thâu tóm toàn bộ
hoặc một tỷ lệ số lượng cổ phần hoặc tài sản của công ty mục tiêu đủ để có thể khống chế toàn bộ các
quyết định của công ty đó. Tỷ lệ này có thể khác nhau theo quy định cụ thể trong luật của từng nước. Ví
dụ ở Việt Nam tỷ lệ này là 75%, trong trường hợp Điều lệ công ty mục tiêu quy định mức thấp hơn (tối
thiểu là 65%) thì áp dụng mức đó.
Như vậy, thuật ngữ “sáp nhập và mua lại” được hiểu phổ biến ở Việt Nam hiện nay là không chính
xác. Sáp nhập để chỉ sự thâu tóm toàn phần, và công ty mục tiêu chấm dứt sự tồn tại (như khái niệm
được quy định trong Luật Doanh nghiệp 2005); trong khi „thâu tóm‟ còn được sử dụng để chỉ việc tìm
cách nắm giữ một số lượng cổ phần dưới 100%
nhưng đủ để chi phối công ty mục tiêu. Hơn nữa, thuật ngữ “sáp nhập và mua lại” cũng không tính đến
hình thức “hợp nhất”, tuy không phổ biến nhưng không thể coi là một trường hợp cá biệt của sáp nhập (trong Luật Doanh nghiệp cũng tách biệt hai khái niệm này). Do đó, thuật ngữ “thâu tóm và hợp nhất” và
cụm từ viết tắt M&A sẽ được trình bày trong bài nghiên cứu này để bao quát tất cả các hình thức của M&A
từ khía cạnh quản trị công ty.


M&A tổ hợp là việc hai doanh nghiệp thực hiện mua bán sáp nhập lẫn nhau khi cả hai ngành nghề
của hai doanh nghiệp hoàn toàn không giống nhau.
M&A tổ hợp được phân thành 3 nhóm: (1)M&A tổ hợp thuần túy, hai bên không hề có mối quan
hệ nào với nhau, như một công ty thiết bị y tế mua công ty thời trang; (2)M&A bành trướng về địa lý, hai
công ty sản xuất cùng một loại sản phẩm nhưng tiêu thụ trên hai thị trường hoàn toàn cách biệt về địa lý,
chẳng hạn một tiệm ăn ở Hà Nội mua một tiệm ăn ở Singapore; (3)M&A đa dạng hóa sản phẩm, hai công
ty sản xuất hai loại sản phẩm khác nhau nhưng cùng ứng dụng một công nghệ sản xuất hoặc tiếp thị gần
giống nhau, ví dụ một công ty sản xuất bột giặt mua một công ty sản xuất thuốc tẩy vệ sinh. M&A tổ hợp
không phổ biến bằng hai loại hình trước.

1.3 Mục đích của M&A
Động cơ nào thúc đẩy các công ty tham gia M&A? Lợi ích các công ty thu được rất phong phú. Các
nhóm lợi ích phổ biến bao gồm: (i) Hợp lực thay cạnh tranh: Do nhu cầu huy động vốn và mở
rộng quy mô, cổ đông bên ngoài ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với các công ty. Mỗi nhà đầu tư có
danh mục đầu tư riêng và có thể trở thành chủ sở hữu chiến lược của một hay nhiều công ty. Do đó, về
bản chất các công ty đều có chung các chủ sở hữu. Họ đã tạo nên một mạng lưới trong đó không có sự
cạnh tranh nào đối lập hẳn với nhau, mà chỉ cùng chung một mục tiêu là tạo lợi nhuận tối đa cho các chủ
sở hữu.
(ii) Nâng cao hiệu quả kinh doanh: Thông qua M&A các công ty có thể tăng cường hiệu quả
kinh tế nhờ quy mô khi mở rộng thị phần, giảm chi phí cố định (trụ sở, nhà xưởng), chi phí nhân công, hậu
cần và phân phối. Các công ty còn có thể bổ sung cho nhau về nguồn lực (đầu vào) và các thế mạnh khác
của nhau như thương hiệu, thông tin, bí quyết, dây chuyền công nghệ, cơ sở khách hàng, hay tận dụng
những tài sản mà mỗi công ty chưa sử dụng hết giá trị (chẳng hạn một công ty chứng khoán sáp nhập với
một ngân hàng, công ty điện thoại và công ty cung cấp Internet ). Ngoài ra, còn có trường hợp công ty

cản về thủ tục để đăng ký thành lập (vốn pháp định, giấy phép), bên mua lại còn giảm được cho mình chi
phí và rủi ro trong quá trình xây dựng cơ sở vật chất và cơ sở khách hàng ban đầu. Nếu sáp nhập một
công ty đang ở thế yếu trên thị trường, những lợi ích này còn lớn hơn giá trị vụ chuyển nhượng và chứng
minh quyết định gia nhập thị trường theo cách này của người “đến sau” là một quyết định đúng đắn. (v) Thực hiện chiến lược đa dạng hóa và dịch chuyển trong chuỗi
giá trị: Nhiều công ty chủ động thực hiện M&A để hiện thực hóa chiến lược đa dạng hóa sản phẩm hoặc
mở rộng thị trường của mình. Khi thực hiện chiến lược này, công ty sẽ xây dựng được cho mình một danh
mục đầu tư cân bằng hơn nhằm tránh rủi ro phi hệ thống. Ngoài ra, một số công ty còn thực hiện chiến
lược tiến hay lùi trong chuỗi giá trị (forward/backward integration) thông qua M&A. Lợi ích từ những vụ
sáp nhập này đã được nêu ở phần trên, trong hai loại hình sáp nhập dọc và sáp nhập tổ hợp.

1.4 Các vấn đề quan trọng khi tiến hành M&A

1.4.1 Vấn đề định giá doanh nghiệp khi tiến hành M&A

Định giá doanh nghiệp được hiểu và thừa nhận một cách rộng rãi là việc điều tra chi tiết và đánh
giá các hoạt động của công ty nhằm xác định giá trị hiện hữu và tiềm năng của một doanh nghiệp.
Các nhà đầu tư của một công ty khi muốn một công ty khác luôn đặt câu hỏi mua với mức giá bao
nhiêu thì có lợi nhất? Do vậy việc định giá một công ty để quyết định mua là một khâu quan trọng trong
quá trình mua bán sáp nhập doanh nghiệp. Thông thường, cả hai bên trong thương vụ mua bán hay sáp
nhập đều có cách đánh giá khác nhau về giá trị công ty bị mua: bên bán có khuynh hướng định giá công
ty của mình ở mức cao nhất có thể trong khi bên mua sẽ cố gắng trả giá thấp nhất trong khả năng. Để
đưa ra một mức giá công bằng và được chấp nhận bởi cả hai bên, người ta đã đưa ra nhiều phương pháp
phù hợp để định giá các công ty.


tiềm năng hoạt động của doanh nghiệp mục tiêu.
Ptrước M&A= [FCF1/(1+k1)1+FCF2/(1+k2)2+…+FCFn/(1+kn)n] / số cổ
phiếu đang lưu hành trước M&A Giả thiết: dòng tiền tăng trưởng với tốc độ dự báo khác nhau trong
niên kim 5 năm và sau đó là viễn kim tăng trưởng đều.
FCFn: giá trị kỳ vọng của dòng tiền tại thời điểm cuối năm tài chính
ki: WACC của doanh nghiệp mục tiêu kỳ vọng các năm không

M&A
Hai là, định giá doanh nghiệp mục tiêu tại thời điểm sau M&A để xác định giá trị tăng thêm khi
tiến hành M&A.
Psau M&A=[FCF1/(1+k1)1+FCF2/(1+k2)2+…+FCFn/(1+kn)n] / số cổ
phiếu kỳ vọng sau M&A
Giả thiết: dòng tiền tăng trưởng với tốc độ dự báo khác nhau trong niên kim 5 năm và sau đó là
viễn kim tăng trưởng đều.
FCFn: giá trị kỳ vọng của dòng tiền tại thời điểm cuối năm tài chính
ki: WACC của doanh nghiệp mục tiêu kỳ vọng các năm sau M&A
Tương tự phương pháp P/E, nếu Psau M&A nằm trong khoảng đáp ứng được kỳ vọng của nhà đầu
tư thì họ nên thực hiện đầu tư vào doanh nghiệp này.

1.4.1.3 Phương pháp chiết khấu luồng cổ tức(DDM)

Phương pháp này tương tự như phương pháp chiết khấu dòng tiền, chỉ khác đối tượng chiết
khấu về hiện tại là lượng cổ tức trả cho cổ đông qua các năm với chi phí (ki) là chi phí vốn chủ sở hữu.


của doanh nghiệp vì chỉ đánh giá dựa trên
giá trị tài sản thuần. DFCF khắc phục được nhược điểm này do các con số
dự báo đều dựa trên mức tăng trưởng kì vọng.
Vì vậy nhóm nghiên cứu lựa chọn phương pháp chiết khấu dòng tiền tự do để tiến hành định giá
doanh nghiệp trong thương vụ M&A. 1.4.2 Vấn đề quản trị doanh nghiệp sau M&A

Trong thực tế các vụ mua bán sáp nhập thực sự thành công khi những vướng mắc trong thời kỳ
hậu M&A được giải quyết thành công. Yếu tố chính quyết định thành bại của M&A là kế hoạch giải quyết
tốt các vấn đề sau:
- Sáp nhập dịch vụ bị trùng lặp nhân sự, tài chính, chính sách, luật lệ.
- Tổng kết kế hoạch trả lương, quy định cũ của công ty và quy định mới của công ty sau
M&A.
- Quyết định ai sẽ lãnh đạo cho bộ máy mới, ai sẽ có quyền quyết
định trong công ty sau M&A.
- Quan trọng nhất là chiến lược phát triển cho công ty sau M&A để
phát huy sự cộng hưởng do M&A mang lại.
Để giải quyết được các vấn đề trên, doanh nghiệp cần thực hiện một số hoạt động cho giai đoạn
chuyển tiếp, cụ thể là:
- Xác định mục tiêu cần thực hiện
Xác định mục tiêu rất quan trọng. Ngay từ khi doanh nghiệp có ý định mua doanh nghiệp, họ phải đặt ra
mục tiêu cho mình và việc cần phải làm gì khi tiếp quản doanh nghiệp cũng như mục tiêu nhắm đến trong
vòng 3 đến 5 năm tới.
- Kế hoạch nhân sự sau M&A
Doanh nghiệp cần lập kế hoạch cho việc hòa nhập con người sau khi kết thúc thương vụ, đặc biệt là

2. TỔNG QUAN VỀ M&A TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG
M&A ngân hàng là việc các ngân hàng tự nguyện hoặc bắt buộc phải tham gia các nghiệp vụ hợp
nhất hoặc thâu tóm để tạo ra những ngân hàng lớn hơn với mục tiêu tăng vốn, mở rộng thị trường, tăng
năng lực cạnh tranh, giảm thiểu chi phí và tối đa hóa lợi nhuận.
Có thể thấy, M&A ngân hàng là một sản phẩm phát triển của nền kinh tế thị trường, là công cụ
để thị trường tài chính tự điều chỉnh thay cho việc can thiệp trực tiếp bằng mệnh lệnh hành chính của
chính phủ nhằm
cải thiện năng lực cạnh tranh trong hệ thống tài chính ngân hàng.

2.1 Hoạt động M&A trong lĩnh vực ngân hàng ở các quốc gia phát triển
Các ngân hàng ở những quốc gia này đã phát triển đến mức bão hòa
với qui luật lợi nhuận giảm dần, do đó họ đã hợp nhất và thâu tóm lẫn nhau nhằm cắt giảm chi phí, mở
rộng mạng lưới hoạt động, bổ sung, đa dạng hoá sản phẩm, tăng cường qui mô kinh doanh cũng như lợi
thế cạnh tranh phù hợp với xu thế khu vực hoá và quốc tế hoá của nền kinh tế.
- Đối với các ngân hàng lớn
Lý do quan trọng nhất là cắt giảm chi phí hoạt động và gia tăng qui mô kinh doanh nhờ việc sáp
nhập, hợp nhất sẽ tăng vốn huy động, tăng vốn điều lệ và giới hạn cho vay từng khách hàng đơn lẻ.
Ngoài ra cũng có thể để đa dạng hoá sản phẩm và dịch vụ kinh doanh, tăng uy tín của ngân hàng hoặc
tiết kiệm chi phí thành lập chi nhánh.
- Đối với các ngân hàng nhỏ
Các ngân hàng nhỏ sáp nhập, hợp nhất hoặc bán lại cho những ngân hàng lớn vì thiếu vốn điều lệ
theo luật hoặc tránh phá sản hoặc để tối đa

giữa các cơ quan trong mạng an toàn tài chính quốc gia (Financial Safety
Net) trong hoạt động mua bán sáp nhập ngân hàng.
Hàn Quốc: là đại diện cho thị trường M&A ngân hàng đang hoàn thiện và sôi động nhất trên thế
giới hiện nay. Kinh nghiệm nổi bật và hết sức quý báu của Hàn Quốc là chủ động tiến hành M&A để tái cấu
trúc hệ thống ngân hàng, tạo cơ sở vững chắc về mặt tài chính cho phát triển kinh tế bền vững chứ không
thụ động ngồi chờ các ngân hàng đổ vỡ để xử lý hậu quả. Từ 33 ngân hàng năm 1997, với việc chấp nhận
chú trọng vào chất lượng, đến ngày 19/5/2009 Hàn Quốc chỉ còn 19 ngân hàng lớn mạnh để tạo ra một
hệ thống mới lành mạnh, đủ sức cạnh tranh quốc tế.
Trung Quốc: là đại diện cho thị trường M&A ngân hàng mới nổi trên thế giới. Tại trung Quốc, các
ngân hàng đang thoát khỏi sự kiểm soát của Nhà nước bằng cách bán cổ phần cho người nước ngoài và
các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán, đây cũng là một hình thức phổ biến của M&A tại các nước
đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
Như vậy, có thể thấy một số yếu tố quan trọng mang tính quyết định đối với sự thành công của
M&A trong lĩnh vực ngân hàng là phải xây dựng được hệ thống pháp lý chặt chẽ, toàn diện; chú trọng vào
chất lượng hoạt động và tồn tại của ngân hàng; và nâng cao tầm quan trọng của việc thu hút cố đông bên
ngoài, đặc biệt là các nhà đầu tư chiến lược. Đây cũng là những bài học kinh nghiệm quý báu đối với thị
trường M&A trong ngành ngân hàng còn non trẻ và nhiều khuyết điểm ở Việt Nam hiện nay. CHƢƠNG II
THỰC TRẠNG TIẾN HÀNH HOẠT ĐỘNG M&A TẠI VIETCOMBANK
1. THỰC TRẠNG M&A TẠI VIỆT NAM


trường do M&A tạo nên là chưa rõ ràng, dẫn đến nhiều kết luận khác nhau khi cho phép hoặc không cho
phép doanh nghiệp thực hiện M&A. Về khía cạnh này, Luật cạnh tranh 2004 được xem là đã có những
hướng dẫn cụ thể hơn cả, tuy nhiên vẫn chưa giải quyết triệt để các vấn đề về công thức tính thị phần,
cách xác định doanh thu của doanh nghiệp sau M&A khi xác định thị phần.
Thứ tư, việc cổ phần hoá hoặc M&A các doanh nghiệp nhà nước không có qui định cụ thể cho
khâu định giá, thiếu các tổ chức định giá
chuyên nghiệp, tính công khai minh bạch của các phương án định giá còn
thấp. Trong khi đó thủ tục cấp giấy phép và sửa giấy phép khi tiến hành M&A lại bị phức tạp hoá và rất
rườm rà. Điều này dẫn đến nhiều doanh nghiệp nhà nước đã bị định giá quá thấp khi cổ phần hoá, gây
mất mát tài sản nhà nước.
Vì những lí do trên mà việc tiến hành M&A trong điều kiện môi trường pháp lí còn yếu như ở Việt
Nam ngày càng trở nên khó khăn, mặc dầu M&A được dự báo sẽ trở nên vô cùng sôi động trong giai đoạn
hiện nay. Việc thiếu đi một khung pháp lí rõ ràng sẽ gây nên tâm lí bất an cho
nhà đầu tư, cũng như lợi ích mà doanh nghiệp trong nước đáng lẽ phải có được sau M&A có thể sẽ bị lợi
dụng chính bởi những kẽ hở trong luật

pháp nêu trên.

1.2 Hoạt động M&A tại Việt Nam
Ngày nay các hoạt động M&A trên thế giới hơn lúc nào hết đã trở thành những sự kiện bùng nổ.
So với thế giới, hoạt động M&A ở Việt Nam chỉ đang trong giai đoạn bắt đầu. Số liệu tổng hợp được qua
những năm gần đây như sau:

Bảng 1: Hoạt động M&A tại Việt Nam giai đoạn 2003 - 2009

triệu cổ phần của Vinaconex; sáp nhập Công ty Cổ phần Xi măng Hà Tiên 1 và Công ty Cổ phần Xi măng
Hà Tiên 2 trở thành doanh nghiệp xi măng Hà Tiên lớn nhất Việt Nam; Công ty International
Consumer Products (ICP) đã chính thức trở thành chủ sở hữu chính của Công ty Cổ phần Thực phẩm
Thuận Phát sau khi chiếm giữ 51% cổ phần của công ty này.1
Tiếp nối xu thế của năm 2009, năm tháng đầu năm 2010 cũng đã chứng kiến những vụ M&A lớn
như Masan mua lại mỏ Núi Pháo chuyên khai thác volfram; Vinamilk mua toàn bộ công ty cổ phần sữa
Lam Sơn; công ty cổ phần thuỷ sản Hùng Vương chào mua công khai 3.75 triệu cổ phiếu của công ty cổ
phần xuất nhập khẩu An Giang; tập đoàn công nghệ CMC trở thành cổ đông chiến lược với gần 44% cổ
phần của công ty

NetNam.
Những con số trên chứng minh cho sự bùng nổ hoạt động M&A trong giai đoạn hiện nay cũng
như sự đa dạng hoá của M&A mà các doanh nghiệp có thể tận dụng để mở rộng và nâng cao hiệu quả
hoạt động của minh. Các thương vụ M&A diễn ra theo nhiều hình thức khác nhau, các doanh nghiệp trong
nước có thể đóng vai trò của công ty mục tiêu trong thương vụ này, đồng thời lại kiếm tìm một công ty
mục tiêu tại quốc gia khác trong một thương vụ M&A khác.
Theo thống kê năm 2009, số lượng các giao dịch doanh nghiệp Việt
Nam mua lại doanh nghiệp Việt Nam là 40% tổng số giao dịch toàn thị trường. Giao dịch doanh nghiệp
Việt mua lại doanh nghiệp nước ngoài hoặc mua lại một bộ phận doanh nghiệp nước ngoài chiếm 4.62%
tổng số giao dịch. Như vậy có thể thấy các thương vụ M&A giữa các doanh
1

Thứ tư, hoạt động này là vấn đề mới mẻ ở Việt Nam và tiềm ẩn
những nguy cơ về việc thâu tóm thị trường và cạnh tranh không lành mạnh, đặc biệt là khi hiểu biết của các doanh nghiệp Việt Nam về M&A
còn tương đối hạn chế. Điều đó cũng do những khiếm khuyết nhiều mặt nêu trên, từ quản lý vĩ mô đến
điều hành vi mô.
Thứ năm, nguồn nhân lực của Việt Nam vẫn còn chưa đáp ứng
được đầy đủ nhu cầu của thị trường về hoạt động M&A, việc thiếu các quản trị viên cấp cao để có thể làm
giám đốc những cơ sở mới cũng là một nguyên nhân dẫn tới tình trạng các doanh nghiệp vẫn còn dè
chừng trong ra quyết định M&A.

2. M&A TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG TẠI VIỆT

NAM
hàng
2.1 Cơ sở pháp lí cho hoạt động M&A trong lĩnh vực ngân Cơ sở pháp lí cho hoạt động M&A ngân hàng được điều chỉnh trong


- Điều kiện để ngân hàng Việt Nam bán cổ phần cho các nhà
đầu tư nước ngoài:
+ Vốn điều lệ tối thiểu đạt 1.000 tỷ đồng;
+ Có tình hình tài chính lành mạnh, đáp ứng các điều kiện liên quan của Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam;
+ Có bộ máy quản trị, điều hành, hệ thống kiểm tra, kiểm soát, kiểm
toán nội bộ hoạt động có hiệu quả;
+ Không bị cơ quan có thẩm quyền xử phạt do vi phạm các quy định về an toàn trong hoạt động
ngân hàng trong thời gian 24 tháng đến thời điểm Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xem xét. - Điều kiện của Tổ chức tín dụng nước ngoài mua cổ phần của
ngân hàng Việt Nam:
+ Có tổng Tài sản Có tối thiểu tương đương 20 tỷ đô la Mỹ vào năm trước năm đăng ký mua cổ
phần.
+ Có kinh nghiệm hoạt động quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng.
+ Được các tổ chức xếp loại tín nhiệm quốc tế xếp hạng ở mức có khả năng thực hiện các cam kết
tài chính và hoạt động bình thường ngay cả khi tình hình, điều kiện kinh tế biến đổi theo chiều hướng
không thuận
lợi.

- Điều kiện của nhà đầu tư nước ngoài khi mua cổ phần của các
ngân hàng Việt Nam trên thị trường chứng khoán:
Khi ngân hàng Việt Nam niêm yết chứng khoán, nhà đầu tư nước ngoài được mua cổ phần của
ngân hàng Việt Nam theo các quy định của
pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán và phải tuân thủ tỷ lệ
sở hữu cổ phần quy định như trên.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status