Đề tài tham dự cuộc thi
Sinh viên nghiên cứu khoa học năm 2019
Hoạt động quan hệ công chúng – PR (Public relation)
của ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt
Nam (Viettinbank) – Thực trạng và giải pháp 1
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 4
CHƢƠNG 1: 4
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUAN HỆ CÔNG CHÚNG 4
(PUBLIC RELATION - PR) TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG 4
1.1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về PR 4
1.1.1. Khái niệm 4
1.1.1.1. Các định nghĩa về PR 4
1.1.1.2 Đối tượng PR 7
1.1.1.3 Mục tiêu của PR 7
2
2.1.3. Định hướng chiến lược phát triển chủ yếu của VIETINBANK 30
2.2. Thực trạng hoạt động PR của Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt
Nam 30
2.1.1. PR bên trong ngân hàng 31
2.2.1.1. Hoạt động truyền thống, lịch sử của ngân hàng 31
2.2.1.2 Xây dựng mối quan hệ nội bộ 33
2.2.1.3. Thực hiện chính sách xã hội trong nội bộ 40
2.2.1.4. Chính sách đãi ngộ đối với nhân viên 40
2.2.2. PR bên ngoài ngân hàng 43
2.2.2.1. Các hoạt động tài trợ nổi bật 43
2.2.2.2 Quan hệ với giới truyền thông 48
2.2.2.3. Quản trị rủi ro 50
2.2.2.4. Quan hệ tốt với chính phủ 51
2.2.2.5. Quan hệ với nhà đầu tư 53
2.3. Đánh giá chung 54
2.3.1. Những thành tựu đã đạt được 54
2.3.2. Những bất cập còn tồn tại 56
CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG QUAN HỆ CÔNG
CHÚNG CỦA NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƢƠNG VIỆT NAM 58
3.1. Kinh nghiệm hoạt động PR của một số ngân hàng điển hình và bài học
rút ra cho NHTMCP Công Thƣơng Việt Nam 58
3.1.1. Kinh nghiệm: 58
3.1.1.1. Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín (Sacombank).
58
3.1.1.2. Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt nam
(Techcombank) 59
3.1.1.3 Ngân hàng Hồng Kông và Thượng Hải (HSBC) 59
3.1.2. Bài học cho Vietinbank 60
WTO : World Trade Organization
TMCP : Thương mại cổ phần
Vietinbank : Ngân hàng TMCP công thương Việt Nam
CNH : Công nghiệp hoá
HĐH : Hiện đại hoá
CEO : Chief Exclusive Officer
CBNV : Cán bộ nhân viên
ATM : Automatic Teller Machine
BTTEVN : Bảo trợ trẻ em Việt Nam
Sacombank : Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín
Techcombank : Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam
Agribank : Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
HSBC : Ngân hàng Hồng Kông Thượng Hải
CĐCS : Công đoàn cơ sở
CN : Chi nhánh
NH : Ngân hàng
NHTMCP CT : Ngân hàng thương mại cổ phần công thương
SMEs : Các doanh nghiệp vừa và nhỏ
HTXVN : Hợp tác xã Việt Nam
DNVVNVN : Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam
VNAH : Việt Nam anh hùng
VĐV : Vận động viên
BCH : Ban chấp hành 5 DANH MỤC BẢNG, HÌNH MINH HỌA
Để phát triển thương hiệu, tạo lập một vị trí ổn định trên thị trường quốc tế,
một công cụ hữu hiệu mà một số ngân hàng thương mại đã và đang sử dụng đó là
quan hệ công chúng (PR). Trên thực tế, nghề quan hệ công chúng đã du nhập vào
Việt Nam từ những năm 90 của thế kỉ XX, và hiện nay được xem là một trong
những nghề “thời thượng” được ưa chuộng nhất bởi sự mới mẻ, năng động và thu
nhập cao. Tuy nhiên, cho đến nay, hoạt động quan hệ công chúng ở Việt Nam vẫn
trong giai đoạn hình thành, phát triển, mới chỉ tập trung ở một số mảng riêng lẻ như
tổ chức sự kiện, quan hệ báo chí. Đặc biệt, lĩnh vực ngân hàng – một thị trường vốn
thực sự rất cần hoạt động quan hệ công chúng nhưng nó vẫn chưa được khai thác
một cách triệt để. Do đó, nhóm tác giả đã chọn đề tài “Hoạt động quan hệ công
chúng- PR (Public relation) của ngân hàng thương mại cổ phần Công thương
Việt Nam (Vietinbank) - Thực trạng và giải pháp” làm đề tài nghiên cứu với mục
đích đề xuất ra một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động PR cho Ngân hàng
TMCP Công thương Việt Nam.
2 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu:
Nghiên cứu về tình hình hoạt động quan hệ công chúng (PR) là một vấn đề
mới mẻ tại Việt Nam. Trên thực tế, đã có nhiều đề tài, luận văn nghiên cứu về vấn
đề này, đặc biệt PR cho các doanh nghiệp Việt Nam. Có thể nêu lên một số luận
văn, công trình nghiên cứu như:
Quan hệ Công chúng với việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Nguyễn Đỗ Quyên, Công
trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ, 2006.
Đẩy mạnh hoạt động quan hệ công chúng bên ngoài tại các doanh nghiệp
Việt Nam, Lê Văn Cường, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Ngoại Thương, 2007.
Ngoài lời mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục bảng
biểu, và phụ lục, đề tài nghiên cứu bao gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về quan hệ công chúng (PR) trong lĩnh vực
ngân hàng
Chương 2: Thực trạng hoạt động PR của ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp đẩy mạnh hoạt động PR của ngân hàng TMCP Công thương
Việt Nam.
4
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUAN HỆ CÔNG CHÚNG
(PUBLIC RELATION - PR) TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG
1.1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về PR
1.1.1. Khái niệm
1.1.1.1. Các định nghĩa về PR
PR là viết tắt của từ Public Relations, dịch sang tiếng Việt là quan hệ công
chúng, quan hệ công cộng, quan hệ ngoại giao hay giao tế nhân sự. Tuy nhiên cách
gọi được nhiều người thừa nhận nhất là quan hệ công chúng.
Hiện tại PR đang trở thành một trong những vấn đề được quan tâm nhất
trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập và phát triển toàn cầu vì vậy cụm từ “Quan hệ
khẳng định mục đích của PR không chỉ là tạo sự hiểu biết lẫn nhau một cách chung
chung mà còn nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể, như giải quyết các vấn đề
truyền thông, cung cấp kiến thức cho công chúng, nhằm mục đích thay đổi nhận
thức của họ, làm thay đổi thái độ từ tiêu cực sang tích cực. Khi đề cập đến khía cạnh
mục tiêu, Frank Jefkins nhấn mạnh khả năng có thể áp dụng việc quản lý trong hoạt
động PR. Khi một tổ chức đã đặt ra những mục tiêu cụ thể thì có thể quan sát và
đánh giá được mức độ thành công hay thất bại của một chiến dịch PR của họ.
Một định nghĩa khác về PR do Viện Quan hệ công chúng Anh (IPR) đưa ra
cũng bao hàm những yếu tố cơ bản nhất của hoạt động PR: “PR là những nỗ lực
một cách có kế hoạch, có tổ chức của một cá nhân hoặc tập thể nhằm thiết lập và
duy trì mối quan hệ cùng có lợi với đông đảo công chúng của nó”.
2
Định nghĩa này
nhấn mạnh hoạt động PR được tổ chức thành một chiến dịch hay chương trình và là
một hoạt động liên tục nên không thể không lên trước kế hoạch.
Trong một buổi họp giữa các viện thông tấn PR đến từ nhiều nước World
Assembly ó Public Relations Associates diễn ra tại Mexico tháng 8 năm 1978, các đại biểu
đã tán thành định nghĩa sau: “PR là một ngành khoa học xã hội nhân văn, phân tích những
xu hướng, dự đoán những kết quả, tư vấn cho các nhà lãnh đạo của tổ chức và công
chúng”. Định nghĩa này đã đề cập đến khía cạnh khoa học xã hội và công tác xã hội của
một tổ chức một cách đầy đủ nhất. Đó là trách nhiệm của tổ chức đối với quyền lợi của
công chúng. Một tổ chức sẽ được đánh giá qua sự quan tâm và trách nhiệm của nó đối với
quyền lợi của công chúng. PR liên quan đến sự tín nhiệm và danh tiếng của tổ chức. 2
Jefkin F., Phá vỡ bí ẩn PR. 6
3
Vi.wikipedia.org 7
PR là những hoạt động giao tiếp hai chiều: trong công tác PR, nếu chỉ truyền
thông điệp đến cho khách hàng thôi thì chưa đủ mà còn phải lắng nghe
những phản hồi từ khách hàng.
PR là những hành động cụ thể thực tế: PR có hiệu quả hay không phụ thuộc
vào những hoạt động thực tế của tổ chức và phản ánh mức độ hiệu quả của
hoạt động thông qua phản hồi từ phía công chúng.
PR thường có chi phí thấp hơn so với quảng cáo trên các phương tiện truyền
thông, trong khi hiệu quả thông tin lại không thấp hơn do tính chất tập trung
của đối tượng và nhờ tác dụng rộng rãi của truyền miệng.
1.1.1.2 Đối tượng PR
Mỗi hoạt động PR thành công cần lập ra một kế hoạch PR chiến lược thông
qua mô hình phân tích, thiết lập mục tiêu, chiến lược và đánh giá kết quả. Đối tượng
của hoạt động PR là các nhóm người, kể cả nội bộ và bên ngoài mà tổ chức có liên
hệ. Để một kế hoạch PR có hiệu quả, trước hết doanh nghiệp cần xác định được
mục tiêu và đối tượng tiếp nhận thông tin của mình một cách rõ ràng. PR hướng đến
các nhóm người được xác định rõ ràng, là những bộ phận trong công chúng nói
chung. PR có sự “sàng lọc” nhiều hơn và điều đó cũng có nghĩa là bớt hoang phí
tiền bạc, tăng khả năng thành công trong việc truyền tải một thông điệp nào đó.
Quan hệ nội bộ của doanh nghiệp gồm có các quan hệ chính thức như: quan
hệ giữa Ban lãnh đạo với các ban chuyên môn, quan hệ giữa các ban chuyên môn
với nhau, quan hệ giữa các thành viên với nhau…
Bên cạnh các đối tượng bên trong doanh nghiệp, đối tượng bên ngoài của PR
thành công cho tổ chức, doanh nghiệp mình không chỉ có lợi nhuận mà còn là uy tín
lâu dài. Về cơ bản, hoạt động PR vẫn thường được nhìn nhận như một phần trong
Marketing – mix, quyết định tính thành bại của một chiến dịch marketing, bao gồm:
Sản phẩm (products), Địa điểm (places), Giá cả (price), và Xúc tiến thương mại
(promotion). Trong đó, cụ thể PR nằm trong “P” thứ tư, tức là Promotion cùng với
các yếu tố khác như Quảng cáo (advertisement), Triển lãm (exhibition), Bán hàng
cá nhân( sales promotion) và Bán hàng trực tiếp (direct selling). 9 Hình 1.1. Mối quan hệ tương tác giữa PR và Marketing
(Nguồn: Anne Gregory, Planning and managing public relations campaigns)
Marketing cơ bản hoạt động với chức năng thông qua các hoạt động làm thỏa
mãn nhu cầu của khách hàng và giúp tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Trong khi
đó, quan hệ công chúng hoạt động như chức năng quản lý nhân viên, tư vấn và làm
các dịch vụ khác hỗ trợ cho chức năng chuyên môn. Marketing chú trọng và việc
trao đổi các quan hệ với khách hàng, đem lại kết quả là các giao dịch thỏa mãn nhu
cầu của khách hàng và đạt được mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp, còn công việc
của quan hệ công chúng bao gồm hàng loạt các quan hệ và mục đích với rất nhiều
đối tượng công chúng như nhân viên, các nhà đầu tư, chính phủ… Kết quả của hoạt
động marketing là rất rõ ràng, vì nó được thể hiện thông qua những con số đạt được
từ sự trao đổi tiền – hàng. Ngược với chiến dịch marketing, kết quả của một chiến
dịch PR rất khó định lượng. Nếu như marketing được doanh nghiệp quan tâm đến
như công cụ để trao đổi với khách hàng thì PR lại được dùng để doanh nghiệp trao
đổi với tất cả đối tượng mà doanh nghiệp hay tổ chức có quan hệ, kể cả nội bộ
doanh nghiệp. Chính vì thế vai trò của PR vẫn đang ngày càng được tồn tại một
cách độc lập và hiệu quả so với marketing.
1.1.2.2 PR với quảng cáo
quảng cáo xuất hiện trên phương tiện nào. Trong khi ấy, người làm PR không trực
tiếp chi trả cho báo chí về những bài viết nói đến tổ chức hoặc công ty của họ.
Vì vậy họ sẽ không thể chi phối nội dung hình thức thể hiện cũng như khả năng 4
TS. Đặng Thị Thúy Hằng, PR lý luận và ứng dụng, 11
xuất hiện thông điệp. Nhưng khi thông điệp xuất hiện thì chúng có được sự khách
quan và đáng tin cậy của giới báo chí. Đó là chưa kể đến PR có thể gây ra những
tác động mạnh mẽ và lâu dài hơn quảng cáo.PR tạo được uy tín và sức thu hút
mạnh mẽ đáng tin cậy.
Giống nhau
Khác nhau
Quảng cáo
PR
Đều là quá
trình thông
tin, đưa thông
tin đến đối
tượng
Thông tin một chiều: thông báo
thương mại, được chuyển
từ người bán hang đến khách
hàng tiềm năng, chủ yếu hướng
đến đối tượng mua hàng.
Là tiếng nói trực tiếp của chính
1.1.3.1. Phân tích
Đây là bước đầu tiên trong quá trình hoạch định. Để thực hiện công việc
phân tích, chúng ta cần phải nghiên cứu chặt chẽ nhằm nhận diện những vấn đề sẽ
làm nền cho chương trình PR của mình. Để có được một chương trình PR hiệu quả
và đáng tin cậy, đáp ứng được mục tiêu đề ra của doanh nghiệp, bộ phận PR luôn
phải tìm hiểu, nghiên cứu bản chất những vấn đề cốt lõi. Ví dụ như khi một sản
phẩm của một doanh nghiệp bị xem là lỗi thời, dẫn đến tình trạng doanh nghiệp đó
đánh mất uy tín và thị phần trên thương trường, thì chương trình PR của doanh
nghiệp đó phải tập trung thể hiện được tính tiên phong của doanh nghiệp cũng như
các tiện ích hiện đại sản phẩm, chứ lúc này không phải là quảng bá cho công chúng
rằng sản phẩm của doanh nghiệp mình rẻ hơn sản phẩm của đối thủ cạnh tranh. Có
một số cách nghiên cứu tiêu biểu khác nhau thông qua các kỹ thuật như thực hiện
Bảng câu hỏi khảo sát, phỏng vấn từng người qua điện thoại hoặc trực tiếp…trong
đó chủ yếu chia các cách đó thành 2 nhóm: thứ nhất, nghiên cứu định lượng, nghĩa
là thu thập dữ liệu sau đó phân tích kết quả thống kê thành các số liệu mong muốn,
thứ hai, nghiên cứu định tính, nghĩa là nghiên cứu những biến số không thể định
lượng được như ý kiến, phản ứng, thái độ…
1.1.3.2. Thiết lập mục tiêu
Thiết lập mục tiêu mang tính thực tế là vô cùng quan trọng nếu doanh nghiệp
muốn chương trình đang hoạch định có phương hướng rõ ràng và có khả năng đạt
được một kết quả nhất định. Do mục tiêu của PR là tác động đến thái độ và hành vi
công chúng, nên cần lập một hành trình gồm nhiều bước tỉ mỉ để tác động đến công
chúng. Thông thường có ba cấp độ để thiết lập mục tiêu như sau:
Nhận thức: hướng suy nghĩ của công chúng đến một điều cụ thể và cố gắng
thúc đẩy mức độ hiểu biết cao hơn ở họ.
Thái độ và ý kiến: kích thích công chúng hình thành một tư tưởng hay thái
độ nào đó về một chủ đề nhất định.
Hành vi: làm cho công chúng hành động theo hướng mong muốn. 14
Hầu hết các chương trình thành công đều khởi đầu từ điểm xuất phát là công
chúng, và nỗ lực để hình thành từng bước một, bởi rất hiếm trường hợp có ai từ chỗ
kiên quyết chống đối một điều gì đó hoặc không có ý kiến gì cả lại bất ngờ trở
thành một người ủng hộ hết mình cho điều đó. Do đó, các chiến dịch cùng với chiến
thuật được hoạch định nhằm hướng tới việc tạo ra một sự chuyển biến từng bước
một cách sâu sắc về thái độ và hành vi của công chúng.
1.1.3.5. Lập khung thời gian và nâng cao chất lượng nguồn lực
Có hai yếu tố quan trọng liên kết chặt chẽ với nhau mà doanh nghiệp cần
tuân thủ: thứ nhất, phải xác định được hạn chót của công việc gắn liền với dự án để
hoàn thành đúng hạn; thứ hai, nguồn lực phù hợp cần được phân bổ để hoàn thành
công việc trước mắt.
Khung thời gian hợp lý là rất cần thiết cho một chiến dịch PR. Ở đây, “khung
thời gian” có thể hiểu theo hai cách. Thứ nhất, thời gian chuẩn bị cho một chương
trình PR cần tính hợp lý sao cho phù hợp với thời điểm mà bộ phận PR đã phân tích
và đặt mục tiêu. Thứ hai, thời gian của một chương trình PR cần rất hợp lý, bởi nếu
chương trình được diễn ra quá ngắn, công chúng chưa thể nắm bắt hết được ý định
của tổ chức; ngược lại một chương trình quá dài sẽ gây nhàm chán.
Nguồn lực thường được chia thành ba phần:
Nguồn nhân lực: Mức độ phân bổ nguồn nhân lực phụ thuộc vào quy mô và
bản chất của chương trình được triển khai. Do đó, dễ hiểu khi thực hiện một
chương trình có tính chuyên sâu, có nhiều lớp đề tài thì mức độ kỹ năng và
kinh nghiệm càng được nâng cao thì càng cần thiết. Và đặc biệt bởi PR là
một hoạt động thiên về các mối quan hệ, cá các mối quan hệ được tạo bởi
con người, nên nếu buộc phải cắt giảm nguồn lực thì tổ chức nên nghĩ đến
việc cắt giảm các khoản khác trước khi nghĩ đến cắt giảm nguồn nhân lực.
Chi phí hoạt động: Khi nhắc đến chi phí hoạt động, cần phải nhớ điều then
PR nội bộ được hiểu một cách đơn giản như sau: Một tổ chức, công ty chuẩn
bị một chương trình quảng cáo cho công ty, viết bản báo cáo tổng kết năm hoặc tổ
chức các buổi họp thường niên, tổ chức các hoạt động thi đua trong chính công
ty…Nói gắn gọn, PR nội bộ là chức năng quản lý nhằm tạo ra và gây dựng mối
quan hệ có lợi và tốt đẹp giữa lãnh đạo của tổ chức, cơ quan với công chúng nội bộ
ở đây là tập thể cán bộ, nhân viên của tổ chức, công ty của họ được liên kết với 16
nhau bằng các quan hệ chuyên môn và công việc. Nhiệm vụ của quan hệ công
chúng nội bộ là kiểm soát cộng đồng bên trong nhằm tạo ra sự quản lý hiệu quả
nhất. Hiệu quả của một tổ chức hay công ty - đó là sự tập hợp, sự tin tưởng, trách
nhiệm giữa lãnh đạo và nhân viên và thái độ của nhân viên với lãnh đạo. Một công
ty, tổ chức phải làm sao để mỗi nhân viên của mình đều phải quan tâm tới thành tựu
của tổ chức, công ty mình.
1.1.4.2. PR bên ngoài
“Bên ngoài” ở đây có thể hiểu là những khách hàng, nhóm công chúng mục
tiêu đối thủ, nhân viên công ty khác, các thủ lĩnh uy tín của dư luận xã hội, cổ đông, đại
biểu của quốc hội, nhà báo địa phương, đại diện của các trung tâm báo chí Với một
kế hoạch chiến lược PR, các chuyên gia đã vạch ra kế hoạch đề giải quyết các nhiệm
vụ cụ thể cho các mối quan hệ khác nhau được hình thành bởi các nhóm đối tượng
khác nhau, trong đó chủ yếu các đối tượng được chia thành các nhóm sau đây:
Truyền thông
Đây là một công việc quan trọng của một chương trình PR. Hình ảnh của một
tổ chức, doanh nghiệp sẽ được phản ánh qua các phương tiện truyền thông như báo chí,
truyền hình…Do đó, tổ chức cần phải giữ mối quan hệ với giới truyền thông. Nhất là
với báo chí, các tổ chức, doanh nghiệp cần xây dựng quan hệ trong thời gian dài, chứ
không phải chỉ khi có dịp quan trọng mới tiếp cận báo chí. Quan hệ báo chí, bao gồm:
tồ chức họp báo, soạn thảo thông cáo báo chí, tổ chức các buổi phỏng vấn, các phóng
Để dễ hình dung, ta có thể hiểu tổ chức sự kiện là bề nổi, còn PR là phần chìm.
Công việc tổ chức sự kiện như một bức tranh của trò chơi ghép hình và
người chơi chỉ thành công khi ghép hoàn chỉnh bức tranh đó bằng hàng trăm, hàng
ngàn mẩu nhỏ chi tiết. Đẳng cấp của mỗi công ty thể hiện ở chính sự hoàn hảo trong
từng tiểu tiết ở mỗi sự kiện họ tổ chức.
Nghề tổ chức sự kiện là nghề đòi hỏi người thực hiện cực kỳ bền sức và chịu
được áp lực cao. Chưa kể là sự cạnh tranh ý tưởng giữa các sự kiện. Song tổ chức
sự kiện đang là nghề thời thượng, thu hút khá nhiều sự quan tâm của giới trẻ. Dù áp
lực công việc có cao đến mấy nhưng lại đang là nghề được giới trẻ "săn đón" bởi 18
nghề có nhiều niềm vui, nhất là khi chương trình mình thiết kế nhận được sự hưởng
ứng của nhiều người.
Quản trị khủng hoảng
Đối phó với các rủi ro còn có thể hiểu là “quản lý uy tín” – tức là xếp đặt một
quá trình có mục đích để bảo vệ thị trường và thị phần, giảm các rủi ro có thể xảy ra
đến mức tối thiểu, tạo cơ hội và quản lý hình ảnh với tư cách là một tài sản của tổ
chức – tất cả nhằm phục vụ lợi ích của cả tổ chức và các nhóm công chúng chính
của tổ chức.
Cách thức xử lý của một tổ chức khi gặp rủi ro có thể ảnh hưởng đến nhận
thức hay quan niệm của công chúng về tổ chức đó trong nhiều năm. Nếu tổ chức xử
lý kém hoặc không thỏa đáng thì có thể làm mất uy tín và gây thiệt hại lớn về tiền
bạc. Đôi khi, việc đó có thể khiến cho doanh nghiệp phá sản hay tổ chức, cơ quan
phải đóng cửa.
Do đó, khi đối phó với những rủi ro đặc biệt là những trường hợp khẩn cấp,
doanh nghiệp, tổ chức… phải có cách quản lý thông minh, thẳng thắn, quả quyết
với báo chí, nhân viên của tổ chức và công chúng bên ngoài. Tuy nhiên, cần lưu ý
khi đối mặt với những rủi ro lớn như khủng hoảng cần phải chú ý đến các nguyên