Đề tài tham dự cuộc thi
Sinh viên nghiên cứu khoa học năm 2008
Kỹ năng giao tiếp tiếng Anh của sinh viên
với người nước ngoài – đề xuất giải pháp
tham gia tổ chức phi chính phủ 0
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: CÁC KHÁI NIỆM VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 5
1.1. Kĩ năng giao tiếp 5
1.2. Giao tiếp (bằng) tiếng Anh 6
1.3. Sơ lƣợc về việc học tiếng Anh của sinh viên đại học hiện nay 6
1.4. Tổ chức phi chính phủ (NGO) 7
1.4.1. Giới thiệu NGOs 7
3.2.2.1. Liên kết với các tổ chức giáo dục nước ngoài 34
3.2.2.2. Liên kết các câu lạc bộ trong trường với các tổ chức phi chính
phủ và các doanh nghiệp 35
3.2. Giải pháp đề xuất: tham gia vào các hoạt động của NGOs 36
3.2.1. Tính vượt trội của tham gia NGOs so với các biện pháp học tiếng
Anh khác 36
3.2.2. Những lợi ích khi tham gia NGOs 39
3.2.3. Những khó khăn khi tham gia NGOs và cách khắc phục 43
3.2.3.1. Khó khăn thường gặp phải khi tham gia NGOs 43
3.2.3.2. Đề xuất một số cách khắc phục khó khăn 45
3.2.4. Cách thức tham gia NGO hiệu quả 46
3.2.4.1. Tìm kiếm thông tin về NGOs 47
3.2.4.2. Lựa chọn công việc phù hợp 48
3.2.4.3. Làm việc hiệu quả ở NGOs 51
KẾT LUẬN 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
PHỤ LỤC 1 i
PHỤ LỤC 2 ii
PHỤ LỤC 4 xiii
1
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
AIESEC
Tổ chức thanh niên quốc tế phi lợi nhuận
AmCham
Phòng Thương Mại Mỹ tại Việt Nam
PanNature
Trung Tâm Con Người và Thiên Nhiên
PR
Quan hệ công chúng
SJ
Solidariés Jeunesses
SNV
Chương trình phát triển của Hà Lan
UNAIDS
Chương Trình Phối Hợp Của Liên Hiệp Quốc về
HIV/AIDS
UNICEF
Quỹ Nhi Đồng Liên Hiệp Quốc
UNV
Chương Trình Tình Nguyện Liên Hiệp Quốc
VNAH
Hội Trợ giúp Người Tàn tật Việt Nam 2
VPV
Tổ chức tình nguyện vì hòa bình Việt Nam VSO
Tổ chức Phục vụ tình nguyện Hải ngoại
VCCI
Phòng Công Nghiệp và Thương Mại Việt Nam
VFCD
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, đất nước ta đang trong giai đoạn mở cửa nền kinh tế, mở rộng
quan hệ hợp tác với các nước khác trong khu vực và trên thế giới, có rất nhiều
nhà đầu tư nước ngoài cũng như du khách quốc tế đang và sẽ lựa chọn Việt Nam
là điểm đến của họ. Trong khi đó, đã có nhiều bài nghiên cứu và bài báo từ năm
năm trở lại đây cho thấy có một thực tế đáng buồn là giới trẻ Việt Nam mặc dù
được học tiếng Anh như một môn học chính thức ở nhà trường nhưng hầu như
vẫn tỏ ra rất thiếu tự tin khi giao tiếp với người nước ngoài. Nhiều sinh viên tốt
nghiệp phổ thông trung học mà khi gặp người nước ngoài vẫn không thể nói gì
hơn những câu đơn giản như chào hỏi, giới thiệu bản thân. Điều này khiến
chúng ta đặt ra một dấu hỏi về chất lượng đào tạo ngoại ngữ của hệ thống giáo
dục Việt Nam. Việc giao tiếp ngoại ngữ kém, đặc biệt là giao tiếp tiếng Anh -
ngôn ngữ chính thức được sử dụng trong các giao dịch thương mại và các văn
bản mang tính quốc tế, có ảnh hưởng không nhỏ đến sự thành công và kĩ năng
cạnh tranh của các bạn khi làm việc trong môi trường hội nhập, chuyên nghiệp
và đa văn hóa sau này. Tuy nhiên cũng không thể phủ định rằng có những
trường phổ thông và đại học ở Việt nam có chất lượng đào tạo Anh ngữ tốt hơn
nhiều so với mặt bằng chung vì các trường đại học do có đội ngũ giáo viên khá
hơn, sinh viên đầu vào cao hơn và có cơ sở vật chất khá hoàn thiện. Như vậy
liệu ta có thể trông đợi vào một đội ngũ những sinh viên tốt nghiệp các trường
đại học như vậy sẽ là những người có kĩ năng giao tiếp tiếng Anh tốt, đủ tự tin
và năng lực để trở thành những người dẫn dắt vận mệnh của cả đất nước sau này?
Chính vì thế, nhóm nghiên cứu đã chọn “Kĩ năng giao tiếp tiếng Anh với
ngƣời nƣớc ngoài của sinh viên tiếng Anh- Đề xuất giải pháp tham gia tổ
chức phi chính phủ” làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình.
thương, từ năm thứ ba trở lên.
4. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được tiến hành trên phạm vi địa bàn thành phố Hà Nội. 1
Xem thêm phụ lục, phần chú thích thuật ngữ số 1 – Sinh viên tiếng Anh 3
Để thực hiện bài nghiên cứu, chúng tôi chọn ra sinh viên chuyên ngành
tiếng Anh ở bốn trường đại học tiêu biểu ở Hà Nội: Đại học Ngoại Ngữ - Đại
học Quốc Gia Hà Nội, Đại học Hà Nội, Đại học Ngoại Thương Hà Nội và Đại
học Bách Khoa Hà Nội.
Người nước ngoài được nhắc tới trong bài nghiên cứu
1
là những người có
trình độ và kĩ năng giao tiếp tiếng Anh tốt, hầu hết là những người đến từ châu
Âu, châu Úc và Bắc Mỹ sử dụng thành thạo tiếng Anh như ngôn ngữ mẹ đẻ của
mình
Các tổ chức phi chính phủ trong phạm vi nghiên cứu
2
của chúng tôi là
những tổ chức sử dụng tiếng Anh trong hoạt động giao tiếp và quản lý.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt kết quả cao nhất, chúng tôi đã tận dụng hai nguồn thông tin: thông tin
thứ cấp- chúng tôi thu thập từ các bài báo và thông tin sơ cấp- chúng tôi thu thập từ
các các phương pháp điều tra, phỏng vấn và quan sát. Trên cơ sở hai nguồn thông
tin này, chúng tôi đã tiến hành phân tích, đánh giá để đưa ra những nhận định về
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao kĩ năng giao tiếp tiếng Anh với
người nước ngoài của sinh viên - Đề xuất giải pháp tham gia NGOs.
5
CHƢƠNG 1: CÁC KHÁI NIỆM VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
Trong chương này, chúng tôi xin đưa ra các khái niệm có liên quan tới đề
tài được nghiên cứu, gồm có “kĩ năng giao tiếp”, “giao tiếp tiếng Anh”, “sinh
viên”, “người nước ngoài” và “tổ chức phi chính phủ- NGO”. Các khái niệm đó
đều được giới hạn về nội dung trong phạm vi nghiên cứu. Ngoài ra chúng tôi xin
được cung cấp thêm một số khái niệm và thông tin cơ bản có liên quan tới các tổ
chức phi chính phủ ở Việt Nam với hy vọng độc giả sẽ có cái nhìn toàn diện hơn
về đề tài này.
1.1. Kĩ năng giao tiếp
kĩ
1
“kĩ khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong
một lĩnh vực nào đó vào thực tế. Ví dụ: “Anh A có kĩ năng chơi bóng bàn điêu
luyện”.
2
trao đổi, phạm vi
bằng ngôn ngữ nói và cử chỉ
kĩ trong bối cảnh
nghiên cứu này n khả năng vận dụng những kinh nghiệm
của bản thân và của người khác sao cho người khác
khi tốt nghiệp đại học không thể nói nhiều hơn những câu chào hỏi căn bản khi
tiếp xúc với người nước ngoài. Thực trạng này có thể được giải thích bởi chất 1
Xem bài báo của Đặng Ngọc Trâm đăng trên tờ Bản tin ĐHQG Hà Nội - số 172, tháng
6/2005; bài tham luận của Lê Thái Hưng với đề tài “Một số suy nghĩ về việc giảng dạy tiếng
Anh chuyên ngành hiện nay”, Hội thảo Anh văn chuyên ngành, An Giang 18/01/2008 7
lượng giáo dục chưa đồng bộ từ các cấp dưới đại học về bộ môn tiếng Anh,
khiến cho nhiều sinh viên khi vào đại học, đặc biệt là các trường đại học khối kỹ
thuật, có nền tảng ngoại ngữ còn yếu và bị hổng kiến thức ngoại ngữ từ trước đó.
Vì thế khi họ tiếp tục được giảng dạy tiếng Anh ở đại học, phần lớn trong số họ
không thể theo kịp tốc độ và vì thế mà hiệu quả tiếp thu giờ học trên lớp rất thấp,
dẫn tới kiến thức ngày càng hổng nặng hơn. Hơn nữa, do thời lượng giảng dạy
môn tiếng Anh ở Đại học là có hạn, ví dụ một số trường đại học chỉ đưa môn
tiếng Anh vào chương trình giảng dạy trong 1 – 2 năm đầu tiên. Và đặc biệt đối
với các trường đại học ở xa trung tâm thành phố hay ở các khu vực kinh tế kém
phát triển, chất lượng giảng dạy và trang thiết bị phục vụ cho môn học này còn
kém hoặc chưa được coi trọng đúng mức. Vì vậy mà không tạo ra được sức bật
hoặc gây hứng thú đối với môn học cho sinh viên nên sinh viên càng ít quan tâm
tới bộ môn này.
Trên đây là thực trạng về kĩ năng giao tiếp tiếng Anh của sinh viên các
ngành đại học nói chung. Tuy nhiên đối với các trường đại học chuyên về ngoại
ngữ, hoặc một số trường đại học ở Hà Nội như trường Đại học Ngoại thương,
trường Đại học Ngoại ngữ, trường Đại học Hà Nội, trường Đại học Bách Khoa
(khoa tiếng Anh chuyên ngành kĩ thuật) … vốn là các trường coi bộ môn tiếng
NGOs đó có thể bao gồm các tổ chức có thành viên do chính phủ cử ra, với điều
kiện thành viên đó không được can thiệp vào quyền tự do bày tỏ ý kiến của tổ
chức đó”
2
Nhìn chung, các khái niệm trên đều cho thấy NGOs là những tổ chức
được thành lập một cách hợp pháp và tự nguyện. Các tổ chức này không thuộc
bộ máy hành chính nhà nước và hoạt động không nhằm mục đích lợi nhuận
thương mại.
1.4.2. NGOs hiện nay
Tiếng nói của NGOs đối với các vấn đề thuộc mối quan tâm chung của
cộng đồng quốc tế ngày càng được các nước và các tổ chức quốc tế lớn như Liên
Hợp Quốc (LHQ), Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) và đặc
biệt các tổ chức ngân hàng, tài chính thế giới như World Bank (WB) và Quỹ tiền 1
Nguồn: website chính thức của Bộ ngoại giao Việt Nam:
/>8/view
2
Website chính thức của Bộ ngoại giao Việt Nam:
/>8/view 9
tệ Quốc tế (IMF) quan tâm. Tính đến năm 2006 đã có gần 2,870 tổ chức NGO
có quy chế tham khảo ý kiến với Hội đồng Kinh tế-Xã hội-ECOSOC của
LHQ (năm 1946 chỉ có 41 tổ chức được Hội đồng cho hưởng qui chế; năm
1993 có 978; năm 1997 có 1,356). Theo quy định, số NGOs này được phát biểu,
động thường xuyên, có dự án và đối tác Việt Nam. Giá trị viện trợ năm 1993 là
40 triệu đô la Mỹ, đến năm 2002 là 85 triệu đô la Mỹ, năm 2004 là 140 triệu
USD, năm 2005 là 175 triệu USD, năm 2006 là 217 triệu USD. Tính đến tháng
12/2006, ta đã cấp 53 Giấy phép lập Văn phòng Đại diện, 101 Giấy phép lập
Văn phòng Dự án và 402 Giấy phép hoạt động tại Việt Nam. Chương trình viện
trợ của các NGOs được triển khai ở 61 tỉnh thành trong cả nước, đặc biệt tập
trung vào những vùng còn nghèo, vùng sâu, vùng xa và ngày càng tập trung hơn
vào các lĩnh vực phù hợp với các ưu tiên và định hướng phát triển kinh tế-xã hội
của đất nước ta, đặc biệt là xoá đói giảm nghèo và phát triển bền vững. Sự trợ
giúp của NGOs nước ngoài không chỉ là viện trợ vật chất mà bao gồm cả chuyển
giao kinh nghiệm, công nghệ, nâng cao dân trí, chăm sóc y tế, phổ cập giáo
dục , và thông qua viện trợ, quan hệ của nước ta đối với các NGOs nước ngoài
làm cho nhân dân thế giới hiểu biết hơn về Việt Nam, góp phần tăng cường tình
hữu nghị hợp tác giữa nhân dân ta và nhân dân các nước trên thế giới.
Để tiếp tục chủ động tranh thủ, quản lý tốt hoạt động và nâng cao hiệu quả
sử dụng viện trợ phi chính phủ, Chính phủ ta đã tổ chức hai Hội nghị quốc tế lớn tại
Hà Nội, đó là Hội nghị Tổng kết 10 năm (1991-2001) công tác phi chính phủ nước
ngoài (tháng 2/2002) và Hội nghị quốc tế về Sự hợp tác giữa Việt Nam và các tổ
chức phi chính phủ nước ngoài (tháng 11/2003). Kết quả của hai hội nghị trên đã và
đang đóng góp vào những nỗ lực của Nhà nước ta nhằm tạo môi trường ngày càng
thuận lợi hơn về cơ chế và pháp lý cho các hoạt động của các tổ chức phi chính phủ
nước ngoài tại Việt Nam hiện tại và trong tương lai.
Để tranh thủ nguồn viện trợ của NGOs phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế-
xã hội trong điều kiện đất nước còn khó khăn, Chính phủ ta đang tiếp tục xây
dựng và hoàn thiện các văn bản pháp qui để tạo môi truờng pháp lý thuận lợi
cho hoạt động của các NGOs nước ngoài tại Việt Nam và với những tổ chức
NGOs nước ngoài hay cá nhân có đóng góp tích cực và hiệu quả cho các chương 11
1
được chúng tôi tiến hành
với các mục đích như sau:
- Tìm ra thực trạng về kĩ năng giao tiếp của sinh viên đối với người
nước ngoài (đối tượng điều tra là sinh viên thuộc đối tượng nghiên cứu) bằng
các câu hỏi về cơ hội được giao tiếp với người nước ngoài của họ, những khó
khăn họ thường gặp phải khi giao tiếp bằng ngoại ngữ, việc học tiếng Anh ở trên
trường và ở giao tiếp thực tế khác nhau như thế nào… Từ đó chúng tôi làm tiền 1
Xem nội dung chi tiết tại phụ lục, phần “Câu hỏi điều tra” 13
đề để đề xuất một số phương pháp học tiếng Anh khắc phục được mặt hạn chế,
phát huy mặt tích cực, sẽ được đề cập tới ở chương 3 của bài nghiên cứu.
- Tìm ra sự thay đổi trong kỹ năng giao tiếp tiếng Anh khi sinh viên
tham gia NGOs (đối tượng điều tra là sinh viên thuộc đối tượng nghiên cứu và là
những sinh viên đã từng hoặc hiện tại đang tham gia NGOs trong ít nhất hai tuần)
bằng các câu hỏi liên quan tới cơ hội giao tiếp với người nước ngoài ở NGOs,
phương thức giao tiếp của sinh viên đối với người nước ngoài ở NGOs, đánh giá
của bản thân sinh viên về hiệu quả của việc tham gia NGOs trong nâng cao kỹ
năng giao tiếp với người nước ngoài… Kết quả tìm được sẽ trả lời cho câu hỏi:
Liệu tham gia NGOs có giúp sinh viên nâng cao kĩ năng giao tiếp tiếng Anh với
người nước ngoài hay không?
- Tìm ra lợi ích có được và khó khăn phải đối mặt khi sinh viên tham
gia NGOs (đối tượng điều tra là sinh viên thuộc đối tượng nghiên cứu và là
những sinh viên đã từng hoặc hiện tại đang tham gia NGOs trong ít nhất hai tuần)
nghĩa là tỷ lệ phản hồi đạt 55,33%. Riêng các câu hỏi thuộc phần dành cho sinh
viên đã hoặc đang tham gia NGOs, chúng tôi nhận được trung bình 37 phản hồi
cho mỗi câu hỏi, chiếm 44,58% số lượng người tham gia trả lời và 24,67% số
người được gửi bảng câu hỏi. Phần trả lời câu hỏi điều tra của các bạn là số liệu
thống kê quan trọng được dùng để phân tích thực trạng của bài nghiên cứu này.
2.1.2. Phỏng vấn
* Mục đích:
Phương pháp điều tra bằng phiếu câu hỏi giúp chúng tôi có một cái nhìn
khái quát về thực trạng nghiên cứu. Tuy nhiên, phương pháp này đòi hỏi sự
kiểm soát chặt chẽ về đối tượng trả lời phiếu điều tra và phụ thuộc nhiều vào
thái độ của người trả lời phiếu có nghiêm túc và có hợp tác hay không, mà
những điều đó phiếu điều tra điện tử không thể đáp ứng được. Hơn nữa, đối
tượng được điều tra ở phương pháp phiếu điều tra chỉ có sinh viên, tức là ý kiến
đưa ra có thể bị thiên lệch và mang tính chủ quan một phía. Bởi vậy, chúng tôi
tiến hành phương pháp phỏng vấn đối với nhiều đối tượng khác nhau để kiểm
chứng độ chính xác và đảm bảo độ khách quan cho kết quả thu được từ phương
pháp phiếu điều tra, đồng thời để có cái nhìn cụ thể và chuyên sâu hơn về thực
trạng cần nghiên cứu.
* Phương pháp tiến hành:
Chúng tôi tiến hành phỏng vấn 02 giáo viên Đại học có kinh nghiệm trong
việc giảng dạy tiếng Anh cho sinh viên; 02 sinh viên đã có kinh nghiệm tham
gia hoạt động tại NGOs, 02 chuyên gia làm việc tại NGOs và 02 người nước
ngoài đã có một thời gian sinh sống tại Việt Nam. Các câu hỏi trong bài phỏng 15
vấn
1
của chúng tôi đều tập trung vào nhận xét, đánh giá của họ về kĩ năng giao
Nga
Giáo viên
tiếng Anh
Đại học Ngoại thương
Email
3
Nguyễn Lê
Tường Vân
Biên dịch viên,
phiên dịch viên,
tình nguyện viên
8 NGOs khác nhau
Trực tiếp
4
Đỗ Minh Huệ
Tình nguyện viên
VPV (Volunteers for Peace –
Vietnam)
Trực tiếp
5
Đào Lan Hương
Điều phối viên
SJ (Solidariés Jeunesses)
Trực tiếp
6
Đỗ Tư Duy
Điều phối viên
VPV (Volunteers for Peace –
Vietnam)
Trực tiếp
có độ chính xác và trung thực rất cao. Đây sẽ là dẫn chứng tốt phục vụ cho bài
nghiên cứu của chúng tôi.
* Phương pháp tiến hành:
Chúng tôi tạo tình huống cho sinh viên bất ngờ tiếp xúc với người nước
ngoài và quan sát phản ứng của họ.
. Họ sẽ
-
một
Anh),
- tin, hỏi thăm một người
bạn
2.2. Kết quả nghiên cứu
Sự kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu đã giúp chúng tôi tổng hợp
được những số liệu cần thiết và phong phú. Mặc dù sử dụng ba phương pháp
khác nhau nhưng kết quả chúng tôi thu được rất ít mâu thuẫn, không những thế,
chúng còn bổ trợ, giải thích cho nhau. Có thể tóm tắt các kết quả đó thành hai
phần chính như sau: một là, kết quả về thực trạng kĩ năng giao tiếp tiếng Anh 17
của sinh viên với người nước ngoài; hai là, kết quả nghiên cứu về thực trạng kĩ
năng giao tiếp tiếng Anh của sinh viên khi tham gia NGOs.
2.2.1. Kết quả nghiên cứu về thực trạng kĩ năng giao tiếp tiếng Anh của sinh
viên với người nước ngoài
Biểu đồ 1: Khó khăn sinh viên gặp phải khi giao tiếp với người nước ngoài.
Đơn vị: %