Biện pháp rèn luyện kỹ năng giao tiếp Tiếng Anh cho sinh viên khoa Quản lý – Học viện Quản lý Giáo dục - Pdf 29

MỤC LỤC
1
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Biểu đồ 1: Thái độ của sinh viên đối với việc học tập môn tiếng Anh
Biểu đồ 2: Mức độ quan trọng của tiếng Anh với sinh viên khoa Quản lý
Biểu đồ 3: Mức độ sinh viên giao tiếp bằng tiếng Anh ở bên ngoài
Biểu đồ 4: Mức độ sinh viên giao tiếp bằng tiếng Anh với giảng viên và bạn bè
Biểu đồ 5: Mức độ khó khăn của sinh viên trong quá trình rèn luyện các kỹ năng
giao tiếp tiếng Anh
Biểu đồ 6: Phương pháp rèn luyện kỹ năng giao tiếp tiếng Anh
Bảng 3.1: Mức độ thực hiện các kỹ năng giao tiếp tiếng Anh
2
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CBQL: Cán bộ quản lý
CLB: Câu lạc bộ
CNH- HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
GD&ĐT: Giáo dục và Đào tạo
HVQLGD: Học viện Quản lý Giáo dục
KHKT: Khoa học kỹ thuật
QL: Quản lý
QLGD: Quản lý giáo dục
SV: Sinh viên
THCS: Trung học cơ sở
THPT: Trung học phổ thông
3
HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1. Thông tin chung:
- Tên đề tài: Biện pháp rèn luyện kỹ năng giao tiếp Tiếng Anh cho sinh
viên khoa Quản lý – Học viện Quản lý Giáo dục
- Sinh viên thực hiện:

Sinh viên chịu trách nhiệm chính
thực hiện đề tài
( Ký, họ và tên)
Nhận xét của người hướng dẫn về những đóng góp khoa học của sinh viên thực
hiện đề tài (phần này do người hướng dẫn ghi):
Ngày tháng năm
Xác nhận của học viện Người hướng dẫn
(ký tên và đóng dấu) (ký, họ và tên)
Th.S. Lê Vũ Hà
5
HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC
THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN
CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
I. SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN
Họ và tên: Nguyễn Thị Luận
Sinh ngày: 19 tháng 05 năm 1990
Nơi sinh: Diễn Tân – Diễn Châu – Nghệ An
Lớp: QLGDK3G Khóa: 3
Khoa: Quản lý
Địa chỉ liên hệ:
Điện thoại: 01649733972 Email: [email protected]
II. QUÁ TRÌNH HỌC TẬP (kê khai thành tích của sinh viên từ năm thứ nhất
đến năm đang học)
• Năm thứ 1:
Ngành học: Quản lý giáo dục Khoa: Quản lý
Kết quả xếp loại học tập: Trung bình khá
Sơ lược thành tích:
• Năm thứ 2:
Ngành học: Quản lý giáo dục Khoa: Quản lý
Kết quả xếp loại học tập: Khá

On the basic of project objectives, the research team has focused on
following contents:
2.1. Researching the theory of English communication skills and training
English communication skills for students.
2.2. Learning and studying the level of training English communication
skills for students of the Management Department of National Institute
of education Management in reality.
2.3. Making sound proposal for………
3. Major results obtained
This project approaching theory of competence promotion to determine
measure to train English communication skills for students of the Management
Department of National Institute of Education Management. According to both
theoretical methods and practical case studies, the team has gained the following
results:
3.1. Overview of research on communication, skills, communication skills
and English………
8
3.2. Discovering, analyzing real situation of perception about the level of
necessary and realize of English communication skills activities. And
real situation of English……. Training.
3.3. Making sound proposal for English…….training.
9
MỞ ĐẦU
1. Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài
Hiện nay ở trong nước và thế giới có rất nhiều tác giả nghiên cứu các vấn đề về
rèn luyện kỹ năng giao tiếp tiếng Anh cho sinh viên. Cụ thể:
1.1.Trên thế giới:
Đề cập đến dạy kỹ năng nói cho sinh viên, tác giả ying ying chang đánh
giá nói là một trong 4 kỹ năng quan trọng khi học tiếng Anh. Đồng thời ông chỉ
ra rằng con đường thực hành nói tốt nhất là con đường thực hành giao tiếp nó sẽ

này đều hướng đến việc đưa ra những cơ sở lý luận và khoa học cần thiết để đi
sâu phân tích những thực trạng giảng dạy, học tập và sử dụng tiếng Anh đang
diễn ra tại một cơ sở giáo dục, một đơn vị tổ chức cụ thể, từ đó các công trình
này hướng đến việc xây dựng các biện pháp nhằm mục đích nâng cao hiệu quả,
chất lượng của việc giảng dạy, học tập cũng như sử dụng tiếng Anh.
2. Lý do chọn đề tài
11
Đất nước ta đang trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, việc nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực được Đảng và Nhà nước rất quan tâm, chú trọng.
Song để làm được điều đó cần cải thiện trình độ ngoại ngữ cho nguồn nhân lực
giúp họ tiếp cận nhanh với khoa học, công nghệ và tìm đến nhiều cơ hội học tập
làm việc, tạo đà vươn ra khỏi biên giới quốc gia. Tiếng Anh giữ vai trò rất quan
trọng trong việc giúp người học có được sự tự tin để khẳng định năng lực của
bản thân. Đó là một công cụ không thể thiếu trong quá trình mỗi người học tập
và làm việc. Bộ môn Tiếng Anh đã được Bộ GD – ĐT đưa vào chương trình
giảng dạy từ bậc Tiểu học, THCS, THPT đến Đại Học. Chúng ta đã đào tạo ra
nhiều người học có trình độ Tiếng Anh cao, giao tiếp tốt. Tuy nhiên xét trên mặt
bằng chung thì việc sử dụng kỹ năng giao tiếp bằng Tiếng Anh của người học
còn vô cùng hạn chế. Xuất phát từ thực trạng chung của nhiều sinh viên còn yếu
ở các kỹ năng giao tiếp Tiếng Anh đề tài này nghiên cứu về biện pháp rèn luyện
kỹ năng giao tiếp tiếng Anh cho sinh viên khoa Quản lý- Học viện Quản lý giáo
nhằm hình thành, củng cố cho sinh viên kỹ năng giao tiếp tiếng Anh.
Cùng với trình độ tin học, khả năng giao tiếp Tiếng Anh là một trong
những yếu tố tạo nên năng lực của nhà quản lý trong thế kỷ 21. Tuy nhiên kỹ
năng giao tiếp Tiếng Anh của sinh viên Học viện Quản lý nói chung và khoa
Quản lý nói riêng chưa tốt. Chính vì vậy chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu “Biện
pháp rèn luyện kỹ năng giao tiếp Tiếng Anh cho sinh viên khoa quản lý - Học
viện quản lý giáo dục”.
3. Mục tiêu đề tài
Đề xuất biện pháp rèn luyện kỹ năng giao Tiếng Anh cho sinh viên khoa

ngoài của hiện tượng giao tiếp.
13
Cũng có nhiều ý kiến phản đối những cách hiểu trên, chẳng hạn như nhà
nghiên cứu người Ba Lan Sepanski đưa ra sự phân biệt giữa tiếp xúc xã hội và
tiếp xúc tâm lý (không được phép đồng nhất giữa liên lạc và ảnh hưởng lẫn
nhau). Đồng quan điểm với ông có một số nhà nghiên cứu khác như P.M.Blau,
X.R.Scott…Các nhà tâm lý học Liên Xô cũ cũng rất quan tâm tập trung vào
nghiên cứu hiện tượng giao tiếp. Có một số khái niệm được đưa ra như giao tiếp
là sự liên hệ và đối xử lẫn nhau (Từ điển tiếng Nga văn học hiện đại tập 8, trang
523 của Nxb Matxcơva); giao tiếp là quá trình chuyển giao tư duy và cảm xúc
(L.X.Vgôtxki). Còn X.L.Rubinstein lại khảo sát giao tiếp dưới góc độ hiểu biết
lẫn nhau giữa người với người.
Trường phái hoạt động trong tâm lý học Xô Viết cũng đưa ra một số khái
niệm về giao tiếp như là một trong ba dạng cơ bản của hoạt động con người,
ngang với lao động và nhận thức (B.G.Ananhev); giao tiếp và lao động là hai
dạng cơ bản của hoạt động của con người (A.N.Lêônchep); và giao tiếp là một
hình thức tồn tại song song cùng hoạt động (B.Ph.Lomov).
Một nhà tâm lý học nổi tiếng khác, Fischer cũng đưa ra khái niệm về giao
tiếp của mình: Giao tiếp là một quá trình xã hội thường xuyên bao gồm các dạng
thức ứng xử rất khác nhau: Lời lẽ, cử chỉ, cái nhìn; theo quan điểm ấy, không có
sự đối lập giữa giao tiếp bằng lời và giao tiếp không bằng lời: giao tiếp là một
tổng thể toàn vẹn.
Theo “Từ điển Tâm lý học” của Vũ Dũng: Giao tiếp là quá trình thiết lập
và phát triển tiếp xúc giữa cá nhân, xuất phát từ nhu cầu phối hợp hành động.
Giao tiếp bao gồm hàng loạt các yếu tố như trao đổi thông tin, xây dựng chiến
lược hoạt động thống nhất, tri giác và tìm hiểu người khác. Giao tiếp có ba khía
cạnh chính: Giao lưu, tác động tương hỗ và tri giác.
Theo “Từ điển Tâm lý học” của Nguyễn Khắc Viện: Giao tiếp là quá trình
truyền đi, phát đi một thông tin từ một người hay một nhóm cho một người hay
một nhóm khác, trong mối quan hệ tác động lẫn nhau (tương tác). Thông tin hay

15
+ Đối thoại: Là loại giao tiếp có tính chất trò chuyện, trao đổi của hai
phía chủ thể và đối tượng. Trong đối thoại luôn có sự thay đổi vị trí người nói,
nhờ đó hai bên hiểu được đối tượng của mình, kịp thời điều chỉnh hành vi, cử
chỉ, cách nói cho phù hợp. Đối thoại thể hiện qua các hình thức như trò chuyện,
phỏng vấn, bàn luận…
+ Độc thoại: Là loại giao tiếp trong đó chỉ có người nói, mà không có sự đáp
lại của các đối tượng trong giao tiếp như diễn thuyết, nghe giảng. Độc thoại đòi
hỏi người nói phải có trình độ hiểu biết về vấn đề trình bầy, phải có khả năng
biểu cảm tốt và phải nắm vững các yếu tố làm nên hiệu quả của giao tiếp.
- Giao tiếp gián tiếp: Là giao tiếp được thực hiện qua các phương tiện trung gian
như điện thoại, thư tín, sách báo, tivi…Ưu điểm của giao tiếp gián tiếp là tính
nhanh chóng, thuận lợi hơn so với giao tiếp trực tiếp. Tuy vậy nó có một số hạn
chế như phải phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác, kém sinh động, kém hiệu quả
hơn. Trong loại giao tiếp này, hình thức giao tiếp phi ngôn ngữ không đóng vai
trò quan trọng.
b. Căn cứ vào mục đích giao tiếp
- Giao tiếp chính thức: Là giao tiếp giữa các cá nhân đại diện cho nhóm, hoặc
giữa các nhóm mang tính hình thức, được thực hiện theo các lễ nghi nhất định,
được quy định bởi các nhóm chuẩn mực xã hội hoặc pháp luật. Trong giao tiếp
chính thức, nội dung thông báo rõ ràng, khúc triết, ngôn ngữ đóng vai trò chủ
đạo, thể hiện ở hình thức hội họp, bàn luận, ký kết…Giao tiếp chính thức nhằm
giải quyết những vấn đề cụ thể, mang tính thiết thực. Ví dụ các cuộc thăm viếng
chính thức của những nguyên thủ Quốc gia, cuộc họp chính thức của hội đồng
quản trị một công ty…
- Giao tiếp không chính thức: Là giao tiếp không mang tính hình thức, không có
sự quy định về lễ nghi. Các hình thức giao tiếp cũng như cách phục trang, địa
điểm, hoàn cảnh giao tiếp…thường không bị lệ thuộc, không gò bó. Đó là giao
tiếp giữa các cá nhân hoặc nhóm mang tính chất cá nhân, không đại diện cho ai
hay tổ chức, nhóm nào cả. Mục đích giao tiếp thường nhằm làm thoả mãn nhu

17
Ví dụ như những báo cáo, bài giảng về các chính sách, đường lối đối nội, đối
ngoại của một chế độ xã hội.
b) Giao tiếp định hướng - nhóm
Chủ thể giao tiếp không đại diện quyền lợi của một nhóm xã hội nhằm
giải quyết những vấn đề trong nhóm đặt ra trong học tập, sản xuất, kinh doanh,
chiến đấu.
c) Giao tiếp định hướng - cá nhân
Chủ thể giao tiếp không đại diện quyền lợi cho nhóm xã hội nào cả, mà
hoàn toàn vì mục đích cá nhân xuất phát từ động cơ, nhu cầu, hứng thú, sở
thích…của cá nhân.
Mặc dù giao tiếp theo cách nào thì các loại giao tiếp nói trên luôn tác
động qua lại, bổ sung cho nhau, làm cho mối quan hệ giao tiếp của con người vô
cùng phong phú đa dạng.
1.1.3. Phương tiện giao tiếp
Giao tiếp là một quá trình xã hội thường xuyên bao gồm các ứng xử rất đa
dạng và phong phú, thể hiện qua ngôn ngữ nói và viết: qua nét mặt, cử chỉ, tư
thế, giọng nói, trang phục, cách sử dụng không gian trong giao tiếp… Đó là một
hệ thống toàn vẹn, không có sự tách rời giữa biểu hiện ngôn ngữ và phi ngôn
ngữ trong giao tiếp.
Các phương tiện giao tiếp là cách thức để biến những mục đích giao tiếp
thành hiện thực trong thực tế.
a) Giao tiếp ngôn ngữ
Giao tiếp ngôn ngữ là sự giao tiếp được tiến hành thông qua hệ thống tín
hiệu thứ hai: lời nói và chữ viết.
Đây là hình thức giao tiếp đặc trưng cơ bản nhất trong hệ thống giao tiếp
xã hội bởi nó có những chức năng: chức năng thông báo, chức năng diễn cảm và
chức năng tác động.
18
Giao tiếp ngôn ngữ có thể được biểu hiện qua nhiều hình thức. Trong giao

cách hợp lý thành những hệ thống đáp ứng được những đặc điểm khái quát trong
hoàn cảnh khách quan của việc hình thành kỹ năng. Trong những trường hợp
như vậy, trong quá trình tự động hóa và hoạt động của kỹ năng, con người giữ
nguyên khả năng kiểm tra những hành động của mình một cách có ý thức, và khi
cần thiết có thể điều chỉnh những hành động đó một cách tương đối dễ dàng.
Kỹ năng có mặt trong tất cả các hình thức hoạt động bên ngoài( ví dụ như
kỹ năng vận động) cũng như bên trong( ví dụ những hoạt động trí óc có tính chất
máy móc).
Kỹ năng không những là kết quả mà còn là điều kiện hoạt động sáng tạo
của con người.
Như vậy theo quan điểm triết học, kỹ năng có cả ở người và động vật. Cơ
chế tâm lý của sự hình thành kỹ năng ở người và động vật là hoàn toàn tương tự
nhau. Tuy nhiên kỹ năng của con người là có ý thức còn kỹ năng của động vật là
không có ý thức. Về bản chất, quan điểm triết học đã xem xét kỹ năng về kỹ
thuật của hành động, đó là những động tác máy móc do được lặp đi lặp lại nhiều
lần mà thành. Động thời họ cũng khẳng định kỹ năng chính là kết quả của hành
động và có liên quan chặt chẽ với năng lực, là điều kiện của hoạt động sáng tạo
của con người.
b) Quan điểm tâm lý học về kỹ năng
Theo từ điển Tiếng Việt: kỹ năng như là khả năng vận dụng những kiến
thức thu nhận được từ một lĩnh vực nào đó vào thực tế.
Theo từ điển Le Petit Robert (1996): kỹ năng là khả năng thành công
trong các công việc dự định tiến hành, trong việc giải quyết các vấn đề thực tế;
khả năng kinh nghiệm trong việc thực hiện một hoạt động trí tuệ hay nghệ thuật.
Theo Đại từ điển bách khoa Việt Nam: kỹ năng là giai đoạn trung gian
giữa tri thức và kỹ xảo trong quá trình nẵm vững một phương thức hành động.
Đặc điểm đòi hỏi sự tập trung chú ý cao, sự kiểm soát chặt chẽ của thị giác,
20
hành động chư bao quát, còn có động tác thừa, được hình thành do luyện tập
hoặc bắt chước.

một mục đích nhất định. Quá trình con người tiến hành hành động là quá trình
thực hiện một hệ thống các thao tác theo một trình tự nhất định. Để hành động
có kết quả, con người phải có những tri thức cần thiết về mục đích, về cách thức
hoạt động để đi đến kết quả và về những điều kiện nhất định để triển khai hành
động đó. Tuy nhiên, nếu chỉ có tri thức cần thiết thì chưa đủ để hành động, con
người phải cần thiết vận dụng những tri thức đó để hành động thì hành động đó
mới có kết quả. Như vậy muốn có kỹ năng về một hành động nào đó mỗi con
người cần có đầy đủ 3 yêu cầu cơ bản là:
+ Có tri thức về hành động đó, nghĩa là nắm được mục đích, cách thức,
các điều kiện để thực hiện hành động.
+ Tiến hành hành động theo đúng yêu cầu
+ Đạt kết quả hành động không chỉ trong điều kiện quen thuộc mà cả
trong điều kiện thay đổi nhất định.
Với cách nhìn nhận như trên, chúng tôi đã khái quát cách hiểu về kỹ năng
như sau: Kỹ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng
cách vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã có để thực hiện hành động phù
hợp với những điều kiện nhất định. Kỹ năng không chỉ đơn thuần là mặt kỹ
thuật của hành động mà còn là biểu hiện về năng lực của chủ thể hành động.
1.2.2. Các mức độ của kỹ năng
Từ sự phân tích về kỹ năng chúng tâ thấy rằng sẽ có các mức độ khác
nhau của kỹ năng (từ mức độ thấp đến mức độ cao).
Theo quan niệm của Bloom thì kỹ năng có 4 mức độ sau:
- Bắt chước: quan sát và lặp lại hành động (lặp lại theo mẫu)
- Thao tác: ở mức độ cao hơn, chủ thể thực hiện hành động theo sự hướng
dẫn bằng lời chứ không còn bằng hành động mẫu nữa.
- Hành động chuẩn xác: mức độ thực hiện đúng, chuẩn xác hành động,
thao tác mà không cần quan sát mẫu hoặc nghe người khác chỉ dẫn. Tất nhiên nó
đòi hỏi sự nỗ lực có gắng cao của chủ thể hành động
- Hành động tự nhiên: mức độ thuần thục, thành thạo của hành động, thao
tác mà không cần sụ cố gắng nhiều về thể lực cũng như trí lực.

23
đích, biết cách đi đến kết quả và hiểu những điều kiện cần thiết để thực hiện
cách thức đó). Mà đã là hoạt động thì phải có đối tượng. Kiến thức và đối tượng
là hai phạm trù khác nhau. Kiến thức là kết quả của sự phản ánh đối tượng (sự
vật, hiện tượng), là tồn tại khách quan, cho nên muốn tác động đến đối tượng
phải có kiến thức hướng dẫn. Sự vận dụng kiến thức để khám phá, biến đổi (tất
nhiên đó là quá trình thu được thông tin mới) chính là kỹ năng.
Theo một số tác giả như Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan và Nguyễn Văn
Thàng thì thực chất của việc hình thành kỹ năng (chủ yếu là kỹ năng học tập) là
hình thành cho người học nắm vững một hệ thống phức tạp các thao tác nhằm
làm biến đổi và sáng tỏ những thông tin chứa đựng trong bài tập, trong nhiệm vụ
và đối chiếu chúng với những hành động cụ thể.
Qua các nghiên cứu của nhiều nhà khoa học đã chỉ rõ: để hình thành kỹ
năng, trước hết phải dựa trên cơ sở lý thuyết, đó là những kiến thức cần thiết;
đồng thời những kiến thức đó phải được tồn tại trong ý thức người thực hiện với
vai trò là công cụ của hoạt động. Sau đó là quá trình vận dụng kiến thức đó vào
thực tiễn nhằm hình thành những thao tác hành động cụ thể. Muốn vậy, qua trình
rèn luyện kỹ năng cần được tổ chức thực hiện một cách khoa học, theo một qui
trình chặt chẽ dưới sự hướng dẫn của người dạy hoặc nhà nghiên cứu. Từ sự
phân tích trên đây chúng tôi cho rằng có thể khái quát quá trình hình thành kỹ
năng gồm các bước cơ bản sau:
Bước 1: Nhận thức về mục đích, cách thức, điều kiện hoạt động.
Bước 2: Quan sát mẫu và lặp lại theo mẫu.
Bước 3: Làm thứ tự theo sự hướng dẫn.
Bước 4: Luyện tập.
Bước 5: Kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh.
Việc phân chia các bước như trên cũng chỉ có tính chất tương đối. Trong
thực tế giữa các bước luôn có sự đan xen, liên kết với nhau. Chẳng hạn khâu
kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh sẽ phải hiện diện ở tất cả các bước. Qui trình 5
bước đó hoàn toàn phù hợp, có tính logic chặt chẽ và rất thuận tiện cho quá trình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status