Biện pháp rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho học sinh lớp 5 thông qua hoạt động đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
HUỲNH NGỌC HUỆ
BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG GIAO
TIẾP
CHO HỌC SINH LỚP 5 THÔNG QUA HOẠT
ĐỘNG ĐỘI THIẾU NIÊN TIỀN PHONG
HỒ CHÍ MINH
CHUYÊN NGÀNH GIÁO DỤC HỌC (BẬC TIỂU HỌC)
Nghệ An, năm 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
HUỲNH NGỌC HUỆ
BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG GIAO
TIẾP
CHO HỌC SINH LỚP 5 THÔNG QUA HOẠT
ĐỘNG ĐỘI THIẾU NIÊN TIỀN PHONG
HỒ CHÍ MINH
CHUYÊN NGÀNH GIÁO DỤC HỌC (BẬC TIỂU HỌC)
Mã số: 60.14.01.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Nguyễn Thị Hường
Nghệ An, năm 2014
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến:
- Ban giám hiện trường Đại học Vinh và Đại học Sài Gòn,Hội đồng đào
tạo, Hội đồng khoa học trường Đại học Vinh, Khoa Giáo dục tiểu học, cán bộ
phòng tổ chức đại học Gài gòn.
- Tất cả các thầy cô đã trực tiếp tham gia quản lý, hướng dẫn và trực
tiếp giảng dạy trong suốt khóa học.
- Đặc biệt, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS
Nguyễn Thị Hường, người thầy hướng dẫn khoa học đã tận tâm bồi dưỡng

1.2.3. Biện pháp, biện pháp rèn kỹ năng giao tiếp cho học sinh lớp 5
15
1.3. Một số vấn đề về rèn luyện KNGT cho học sinh lớp 5 16
1.3.1. Đặc điểm giao tiếp của học sinh lớp 5 16
1.3.2. Tầm quan trọng của việc rèn luyện KNGT cho học sinh lớp 5 20
1.3.3. Các loại kỹ năng giao tiếp cần rèn luyện cho học sinh lớp 5 21
1.4. Vấn đề rèn luyện KNGT cho học sinh lớp 5 thông qua hoạt
động Đội TNTP Hồ Chí Minh 23
1.4.1. Khái quát về hoạt động Đội TNTP Hồ Chí Minh 23
1.4.2. Mục tiêu rèn luyện KNGT cho học sinh lớp 5 thông qua hoạt
động Đội TNTP HCM 24
1.4.3. Nguyên tắc rèn luyện KNGT cho học sinh lớp 5 thông qua hoạt
động Đội TNTP HCM 26
1.4.4. Nội dung rèn luyện KNGT cho học sinh lớp 5 thông qua hoạt
động Đội TNTP HCM 26
1.4.5. Phương pháp và hình thức rèn luyện KNGT cho học sinh lớp 5
thông qua hoạt động Đội TNTP HCM 27
* Kết luận chương 1 28
Chương 2: THỰC TRẠNG RÈN LUYỆN KỸ NĂNG GIAO TIẾP
CHO HỌC SINH LỚP 5 THÔNG QUA HOẠT ĐỘI
THIẾU NIÊN TIỀN PHONG HỒ CHÍ MINH 30
2.1. Khái quát về khảo sát thực trạng 30
2.2. Kết quả khảo sát thực trạng 31
2.2.1. Thực trạng nhận thức của CBQL, GV và TPT Đội về việc rèn
luyện kỹ năng giao tiếp cho học sinh lớp 5 thông qua các hoạt
động Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh 31
2.2.2. Thực trạng tổ chức rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho học sinh
lớp 5 thông qua các hoạt động Đội Thiếu niên tiền phong Hồ
Chí Minh 38
2.3 Đánh giá chung về thực trạng 46

Chữ viết tắt Chữ nguyên
CBQL Cán bộ quản lý
GV Giáo viên
TPT Tổng phụ trách
HS Học sinh
HSTT Học sinh tiểu học
KNGT Kỹ năng giao tiếp
GD Giáo dục
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Nhận thức của CBQL về việc rèn luyện KNGT cho học sinh
31
Bảng 2.2. Nhận thức của GV về việc rèn luyện KNGT cho hoc sinh 33
Bảng 2.3 Hành vi giao tiếp của HS 34
Bảng 2.4. Nhận thức của tổng phụ trách về việc rèn luyện KNGT cho
học sinh 37
Bảng 2.5: Mức độ tổ chức rèn KNGT cho HS thông qua các hoạt động
Đội TNTP HCM 38
Bảng 2.6: Chất lượng tổ chức rèn KNGT cho HS thông qua các hoạt
động Đội TNTP HCM 40
Bảng 2.7: Những khó khăn khi xây dựng kế hoạch 42
Bảng 2.8: Mức độ tổ chức thực hiện kế hoạch rèn KNGT cho HS thông
qua các hoạt động Đội 44
Bảng 2.9: Các hình thức tổ chức rèn KNGT cho học sinh thông qua
hoạt động Đội có khả năng nhất 44
Bảng 3.1 Thăm dò tính cần thiết và khả thi của các biện pháp 67

1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong xã hội hiện đại ngày nay, giao tiếp là một trong những kỹ năng

học sinh trong trường tiểu học. Giúp học sinh luôn tự tin, năng động, giao tiếp
ứng xử với mọi người xung quanh có chừng mực hơn.
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn về nhu cầu rèn kỹ năng giao tiếp của
học sinh trong trường tiểu học hiện nay, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề
tài: “ Biện pháp rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho học sinh lớp 5 thông qua
hoạt động Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh” với hy vọng nâng cao
hiệu quả giáo dục rèn kỹ năng giao tiếp cho học sinh tiểu học trong thành phố
Hồ Chí Minh.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn, đề xuất các biện pháp để
nâng cao hiệu quả rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho hoc sinh lớp 5 thông qua
các hoạt động Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh .
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Vấn đề rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho học sinh tiểu học.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho học sinh lớp 5 thông
qua hoạt động Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh.
4. Giả thuyết khoa học
3
Việc rèn luyện kỹ năng giao tiếp của học sinh lớp 5 sẽ có hiệu quả hơn
nếu đề xuất và thực hiện các biện pháp rèn luyện thông qua hoạt động Đội
Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh một cách khoa học và phù hợp với đặc
điểm tâm sinh lý của học sinh.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề rèn luyện kỹ năng giao tiếp
cho học sinh lớp 5 thông qua hoạt động Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí
Minh.
5.2. Nghiên cứu thực trạng của vấn đề rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho
học sinh lớp 5 thông qua các hoạt động Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí

lớp 5 thông qua các hoạt động Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh.
5
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu vấn đề
Một số chương trình hành động, tài liệu công trình nghiên cứu, tìm
hiểu,phân tích mà có thể kể đến các công trình như sau:
- Công trình nghiên cứu của Quỹ Nhi Đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF),
trước tiên là chương trình “giáo dục những giá trị sống” với 12 giá trị cơ bản
cần giáo dục cho thế hệ trẻ. Phần lớn các công trình nghiên cứu quan niện kỹ
năng sống theo nghĩa hẹp, đồng nhất với các kỹ năng của xã hội. Dự án do
UNICEF tiến hành ở các nước Đông Nam Á là những nghiên cứu có tính hệ
thống.
- Tại diễn đàn giáo dục thế giới Dakar trong khuôn khổ hợp tác giữa Viện
chiến lược và chương trình giáo dục với UNESCO tại Hà Nội. Kế hoạch hành
động Dakar về giáo dục cho mọi người ( Senegan 2000) yêu cầu mỗi quốc gia
cần đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình giáo dục kỹ năng sống
cho phù hợp và kỹ năng sống cần được coi như một nội dung quan trọng cấu
thành chất lượng giáo dục.
- Hội thảo Bali đã xác định mục tiêu giáo dục KNS trong giáo dục không
chính qui của các nước vùng Châu Á – Thái Bình Dương là: nhằm nâng cao
tiềm năng của con người có hành vi thích ứng và tích cực nhằm đáp ứng nhu
cầu, sự thay đổi và nâng cao chất lượng cuộc sống.
- Trong Tuyên bố về cam kết của Tiểu ban đặc biệt của Liên Hiệp Quốc về
HIV/AIDS (Nguồn: Unicef life skills )
Ở Việt Nam, một trong những cơ sở nghiên cứu đưa GDKNS vào giáo
dục đào tạo, trước hết là bậc tiểu học là “Trung tâm nghiên cứu giáo dục đạo
đức công dân”, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam. Giáo dục Việt Nam những
năm qua đã đổi mới cả mục tiêu, nội dung, phương pháp gắn với bốn trụ cột
6

hoạt động thực hành bên ngoài cuộc sống, nhằm giải phóng hình thức học tập
"giam hãm trong bốn bức tường" của hệ thống nhà trường giáo hội thời trung
cổ. Ông khẳng định "học tập không phải là lĩnh hội kiến thức trong sách vở
mà còn lĩnh hội kiến thức từ bầu trời, mặt đất, từ cây sồi, cây dẻ".
C.Mác và F.Anghen [2] đã xác định mục đích nền GD xã hội chủ nghĩa
là tạo ra "con người phát triển toàn diện". Quan điểm GD của hai ông là phát
triển nhân cách con người về mọi mặt theo "phương thức giáo dục kết hợp
với lao động sản xuất". Chính quan điểm này đã được Lênin kế thừa và phát
triển thành hiện thực nền GD xã hội chủ nghĩa. Theo quan điểm của C.Mác và
F.Anghen, kết quả của GD là con người có sức khoẻ, biết làm và có khả năng
thích ứng với sự biến đổi của nghề nghiệp. Trong những nghiên cứu về GD,
Lênin đã đánh giá rất cao vai trò của ngôn ngữ trong quá trình hình thành và
phát triển nhân cách con người mà trong đó KNGT chính là phương tiện dẫn
đến việc hình thành, phát triển nhân cách con người trong xã hội.
Một trong bốn trụ cột của nền GD toàn cầu trong thế kỷ XXI đã được
UNESCO đề xuất là “học để cùng chung sống” và được coi là một trong
những trụ cột quan trọng, then chốt của GD hiện đại. Câu hỏi đặt ra 5 là “Kỹ
năng nào là cần thiết cho mỗi con người để thành công trong công việc và
cuộc sống?”, một trong những kỹ năng toàn cầu đỏi hỏi ở mỗi con người hoàn
thiện là phải có “kỹ năng giao tiếp”. Chương trình GD các giá trị sống của
Unesco [23] được coi là đối tác của các nhà GD trên toàn cầu.
Từ những năm đầu của thế kỷ 20, có nhiều nhà triết học, tâm lý học, xã
hội học đã tiếp tục quan tâm đến lĩnh vực giao tiếp. Nhà triết học và tâm lý
học người Mỹ G.Mit, nhà bác học người Đức C.Giaspe, nhà triết học hiện
8
sinh Nhật Bản Mactin Babơ, nhà triết học người Pháp Gien Marơsen, nhà triết
học người Nga B.M. Beccheriev đã có những nghiên cứu trong lĩnh vực
này. Trong đó các nhà nghiên cứu khoa học đã chú ý đến nghiên cứu hiện
tượng tiếp xúc giữa con người với con người. Bắt đầu từ những năm 70 của
thế kỷ trước, hàng loạt các nhà tâm lý học hiện đại, với nhiều công trình

nhau. Cần thiết phải khai thác nội lực của chính hoạt động Đội TNTP Hồ Chí
Minh nhằm thực hiện có hiệu quả nội dung giáo dục KNGT cho học sinh ở
bậc tiểu học.
Việc rèn KNGT là việc đòi hỏi sự tham gia của rất nhiều lực lượng xã
hội bao gồm cả gia đình, nhà trường, và xã hội và bằng nhiều hình thức khác
nhau. Cần thiết phải khai thác nội lực của chính hoạt động Đội TNTP Hồ Chí
Minh nhằm thực hiện có hiệu quả nội dung giáo dục KNGT cho học sinh ở
bậc tiểu học

1. 2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Giao tiếp
Ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong lịch sử phát triển loài người. Nó
thúc đẩy sự phát triển của tư duy, là cơ sở của nhận thức xã hội và là phương
tiện để giao tiếp
Khổng Tử (551-497 TCN) [1] là một triết gia, một nhà giáo dục lỗi lạc của
Trung Quốc thời cổ đại đã có tư tưởng gắn GD với thực tiễn để tạo ta lớp
người "trị quốc bình thiên hạ". Ông khẳng định " Đọc thuộc ba trăm 4 thước
kinh thư giỏi, giao cho việc đi sứ không có khả năng đối đáp, học kiểu như
vậy chẳng có ích gì". Tư tưởng đó của Khổng Tử cho thấy người học ngoài
việc học kiến thức chuyên môn, kiến thức văn hóa còn phải học cách giao tiếp
để giao tiếp thành công và hiệu quả trong công việc chuyên môn và lao động
nghề nghiệp
10
Ngay từ thời cổ đại, các nhà giáo dục, triết học đã quan tâm đến các
vấn đề giao tiếp. Các hoạt động giáo dục (GD) lao động, GD sức khoẻ, GD
hình thành năng lực thực hành, năng lực hợp tác đã được coi trọng. Khái niệm
giao tiếp được các nhà triết học có tên tuổi như Platon (428 – 347 TCN),
Socrate ( 460 – 399 TCN). Họ coi đối thoại là sự giao lưu trí tuệ của những
người biết suy nghĩ. Nhà triết học duy vật cổ điển Đức Phơ bách ( 1804 –
1872) cho rằng: “ Bản chất con người chỉ biểu hiện trong giao tiếp, trong sự

tạo ấn tượng khó phai mờ. [20].
- A.N. Leochiep coi: “ Giao tiếp là một hệ thống những quá trình có
mục đích, có động cơ đảm bảo cho sự tương tác giữa người này với người
khác trong hoạt động tập thể, thực hiện các quan hệ xã hội và nhân cách, các
quan hệ tâm lý và sử dụng phương tiện đặt thù, mà trước hết là ngôn ngữ ”
[20]
- B.Đ.Parưghin – nhà tâm lí học người Nga định nghĩa: “ Giao tiếp là
một quá trình quan hệ tác động giữa các cá thể, là quá trình thông tin quan hệ
giữa con người với con người, là quá trình hiểu biết lẫn nhau và trao đổi cảm
xúc lẫn nhau.” [20]
-A.Ph.Lomov – nhà tâm lý học người Nga, trong cuốn “ Những vấn đề
giao tiếp trong tâm lý học ” coi giao tiếp là phạm trù cơ bản của tâm lý học
hiện đại” định nghĩa: Giao tiếp là quan hệ tác động qua lại giữa con người với
tư cách là chủ thể. [20]
Tuy nhiên trong tự điển tâm lý học Việt Nam giao tiếp được định
nghĩa:
Giao tiếp là quá trình thiết lập và phát triển tiếp xúc giữa các nhân xuất
phát từ nhu cầu phối hợp hành động. Giao tiếp bao gồm hàng loạt các yếu tố
12
như trao đổi thông tin, xây dựng chiến lược hoạt động thống nhất, tri giác và
tìm hiểu người khác
Dưới góc độ ngôn ngữ học, Diệp Quang Ban, Đinh Trọng Lạc cho
rằng; “ Giao tiếp là sự tiếp xúc với nhau giữa cá thể này với cá thể khác trong
một cộng đồng xã hội. Loài động vật nào cũng có thể làm thành xã hội vì
chúng sống có giao tiếp với nhau, như xã hội loài ong, xã hội loài kiến”.
Tuy nhiên có nhiều cách hiểu khác nhau về giao tiếp nhưng nhìn chung
ta có thể thống nhất giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa người với người và có
tính đa chiều trao đổi thông tin, tư tưởng tình cảm giữa người này với người
kia. Có yếu tố đặc trưng tâm lý cá nhân, xảy ra trong điều kiện không gian và
thời gian nhất định, văn hóa, xã hội qui định của cá nhân trong giao tiếp.

a) KNGT ngôn ngữ: chia thành 2 KNGT nói và KNGT văn bản
- KNGT nói phân thành kỹ năng lắng nghe và kỹ năng diễn đạt
+ Kỹ năng lắng nghe: là kỹ năng nghe thấy và nắm bắt được toàn bộ nội
dung thông tin mà người nói phát đi. Kỹ năng này thể hiện ở sự chú ý lắng
nghe, không suy nghĩ việc riêng khi nói chuyện với người khác.
+ Kỹ năng diễn đạt: là kỹ năng phát thông tin sao cho người nghe hiểu
được chính xác nội dung của thông điệp. Biểu hiện bên ngoài của kỹ năng này
là nói trôi chảy (không ngắc ngứ, không nói lắp, nói nhịu), diễn đạt dễ hiểu,
ngắn gọn, chính xác những vấn đề định nói
- KNGT bằng văn bản: được gọi là kỹ năng viết văn bản, được chia
thành 3 kỹ năng cơ bản:
+ KN phân tích tình huống: là kỹ năng cần thiết để viết văn bản phù hợp
với người đọc, tạo tâm thế tích cực cho người đọc và duy trì sự quan tâm của
người đọc đối với văn bản.
14
+ KN tổ chức thông tin của người viết được thể hiện ở việc chọn lựa
thông tin vào văn bản.
+ KN trình bày văn bản của người viết được thể hiện ở cách hành văn,
cách tiếp cận vấn đề.
b) KNGT phi ngôn ngữ ít được cá nhân tự ý thức và rèn luyện hơn so
với KNGT nhôn ngữ. Có rất nhiều thành phần giao tiếp phi ngôn ngữ mà con
người chỉ kiểm soát được phần nào. Những KNGT phi ngôn ngữ có thể kiểm
soát gồm:
+Kĩ năng mặc thể hiện ở việc biết mặc đẹp phù hợp với hoàn cảnh giao
tiếp và có kiến thức về thẩm mĩ.
+Kĩ năng kiểm soát tư thế, cử chỉ gồm kĩ năng kiểm soát có ý thức cơ
thể của mình, không để bản thân có tư thế, cử chỉ vô thức.
+ Kĩ năng kiểm soát biểu hiện nét mặt và cái nhìn bao gồm việc kiểm
soát cách biểu lộ cảm xúc và tình cảm trên mặt cũng như che dấu chúng.
+ Kĩ năng kiểm soát lĩnh vực phi ngôn ngữ của lời nói là kỹ năng kiểm

thể. Trong giáo dục biện pháp thường quan niệm là yếu tố hợp thành của các
phương pháp phụ thuộc vào phương pháp nhưng trong tình huống cụ thể
phương pháp và biện pháp có thể chuyển hóa lẫn nhau. Các biện pháp được
xây dựng trên cơ sở tính kế thừa, tính phù hợp, tính khả thi, tính thực tiễn và
tính hiệu quả công tác Đội được thực hiện thông qua các biện pháp của quản
lý, tổng phụ trách đội và giáo viên đối với học sinh sao cho sự tác động đó tạo
ra sự thay đổi của học sinh giúp học sinh tự tin, năng động trong giao tiếp có
chừng mực hơn với mọi người xung quanh
* Biện pháp rèn kỹ năng giao tiếp cho học sinh lớp 5
Nhiều nhà tâm lí học cho rằng giao tiếp như một dạng đặc biệt của hoạt
động: giao tiếp cũng diễn ra bằng các hành động và có cả thao tác cụ thể, sử

Trích đoạn Tầm quan trọng của việc rèn luyện KNGT cho học sinh lớp 5
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status