Tổng quan về tế bào gốc doc - Pdf 11

I.tổng quan về tế bào gốc
1.1 khái niêm tế bào gốc
Tế bào gốc là tế bào có khả năng phát triển thành nhiều loại tế bào khác nhau trong cơ thể. Là một công cụ
trong "hệ thống sửa chữa" của cơ thể, khi được đưa vào các bộ phận khác nhau, tế bào gốc có thể phân chia
không giới hạn để lấp đầy những thiếu hụt tế bào của bộ phận đó chừng nào cơ thể còn sống. Tế bào gốc có
thể trở thành tế bào cơ, hồng huyết cầu, tế bào não
Tế bào gốc có 2 đặc điểm quan trọng tạo nên sự khác biệt với các loại tế bào khác. Thứ nhất, tế bào gốc là
loại tế bào không chuyên dụng nên có thể tự tái tạo trong một thời gian dài nhờ quá trình phân chia. Thứ hai,
trong môi trường sinh lý hoặc thí nghiệm nhất định, tế bào gốc có thể biến đổi trở thành tế bào chuyên dụng
như tế bào gây đập của cơ tim hoặc tế bào sản sinh insulin của tuyến tụy.
1.3 phân loại tế bào gốc
a. Theo tiềm năng biệt hóa:
- Tế bào toàn năng(totipotent cell):hợp tử, hay Blastomere
Là tế bào có khả năng phân chia và biệt hoá thành tất cả các tể bào của cơ thể, có khả năng biệt hoá thành cơ
thể hoàn chỉnh.
Vd: -Một cành cây có thể phát triển thành một cây hoán chỉnh.
-Ở người,Tinh trùng thụ tinh với trứng tạo thành một totipotent cell(hợp tử),vài giờ đầu sau khi thụ tinh , tế
bào này phân chia tạo thành những totipotent giống hệt nhau.
_ Tế bào Vạn năng(Pluripotent cell): khối tế bào bên trong của Blastocyst
Là tể bào có khả năng bịêt hoá thành tẩt cả các tể bào ngoại trừ tế bào phôi.
_ Tế bào đa năng (multipotent): Tế bào gốc tạo máu
Tương tự như tế bào Vạn năng, thật sự khó có cơ chế chính xác phân biểt hai loại tế bào này
_ Ngoài ra còn có một số tế bào gốc vài năng , cũng như đơn năng
vd : tế bào gốc tuỷ xương tạo ra các loại tế bào máu.
Cơ chất dưỡng bào( Mast cell precursor) chỉ bịêt hoá cho ra dưỡng bào.
b. Theo nguồn gốc :
_ Tế bào gốc phôi( Embryonic stem cell): được thu nhận từ phôi giai đọan blastocyst. Chúng là khối tế bào
bên trong của Blastocyst còn gọi là lớp sinh khối bên trong(ICM_Inner mass cell).
Nó tương ứng với tế bào vạn năng theo cách phân loại( 1)
_ Tế bào mầm(Embryonic germ cell):
Là những tế baò gốc được thu nhận từ rãnh sinh dục, vị trí là tiển thân của cơ quan sinh dục sau này, các tế

- Sản xuất dòng tế bào gốc:
+ Thu tế bào gốc: từ phôi hoặc từ tổ chức trưởng thành.
+ Nuôi cấy các tế bào gốc này trong labo nhằm nhân lên về mặt số lượng.
- Với tế bào gốc phôi, cần nuôi cấy nhân tạo trong các điều kiện môi trường lý hóa thích hợp để định
hướng biệt hóa thành các tế bào mong muốn.
- Ghép tế bào gốc, đưa các tế bào gốc này vào các khu vực tổn thương cần sửa chữa.
2.1.2 Ứng dụng tế bào gốc trưởng thành trong điều trị:
Trên lâm sàng, tế bào gốc trưởng thành đã được sử dụng trong điều trị các bệnh tự miễn, tai biến mạch
máu não, suy giảm miễn dịch, thiếu máu, nhiễm Estein-barr virus, tổn thương giác mạc, các bệnh máu
và bệnh gan, tạo xương không hoàn chỉnh, tổn thương tủy sống, liền vết thương da, điều trị ung thư (kết
hợp với hóa chất và tia xạ), u não, u nguyên bào võng mạc, ung thư buồng trứng, các khối u đặc, ung
thư tinh hoàn, đa u tủy, lơ-xê-mi, ung thư vú, u nguyên bào thần kinh, u lympho Non-Hodgkin,
carcinoma tế bào thận, tái tạo cơ tim sau cơn đau tim, đái đường type I, tổn thương xương và sụn, bệnh
Parki
2.1.3 Ứng dụng tế bào gốc phôi trong điều trị
Tuy có nhiều triển vọng, hiện nay các tế bào gốc phôi chưa được dùng trong tế bào gốc trị liệu trên
người. Các bệnh có thể được điều trị bằng ghép các tế bào có nguồn gốc từ tế bào gốc phôi người bao
gồm bệnh Parkinson, đái đường, chấn thương tủy sống, suy tim… Vấn đề là khi điều trị cho các bệnh
này yêu cầu các tế bào gốc phôi phải được định hướng biệt hóa thành các chủng loại tế bào đặc thù
trước khi ghép.
Một ưu điểm của dùng tế bào gốc phôi so với tế bào gốc trưởng thành là các tế bào gốc phôi có khả
năng tăng sinh không giới hạn trên in vitro và có khả năng sinh ra nhiều chủng loại tế bào hơn khi được
định hướng biệt hóa. Ưu thế này sẽ tăng lên nếu như trong quá trình ghép tế bào/mô, các tế bào gốc
phôi không gây kích hoạt quá trình thải ghép do miễn dịch. Có thể tránh tính sinh miễn dịch của các tế
bào phát triển từ tế bào gốc phôi người bằng chuyển gen cơ thể nhận vào các tế bào gốc phôi làm cho
chúng mang các phân tử kháng nguyên hòa hợp tổ chức (MHC) lớp I của cơ thể nhận, hoặc bằng kỹ
thuật chuyển nhân để tạo ra các tế bào gốc phôi đồng nhất về gen với người nhận mô ghép.
Nhược điểm của dùng tế bào gốc phôi cho ghép trị liệu là dễ hình thành các khối u teratoma. Điều này
làm cho tế bào gốc phôi chưa được sử dụng trong ghép tế bào gốc trị liệu trên lâm sàng. Hiện đã có một
2

lẽ sẽ mô phỏng tốt hơn đáp ứng của các tế bào/mô trong cơ thể với thuốc và như vậy cũng cung cấp các mô
hình sàng lọc thuốc an toàn, kinh tế và hiệu quả hơn.
- Sàng lọc các chất có khả năng gây độc. Lý do sử dụng tế bào gốc phôi người trong sàng lọc độc chất
cũng giống như lý do dùng chúng vào việc thử thuốc như đã nêu trên. Độc chất thường có tác dụng khác
nhau trên các loài động vật khác nhau, điều này nói lên tầm quan trọng cần có các mô hình in vitro phù hợp
nhất cho đánh giá tác dụng của độc chất trên các tế bào người.
- Nghiên cứu các phương pháp mới về công nghệ gen (genetic engineering). Hiện tại việc chỉnh sửa
gen cho các tế bào gốc phôi chuột trên in vitro có thể được thực hiện một cách dễ dàng nhờ các kỹ thuật
như kỹ thuật tái tổ hợp gen. Đây là một phương pháp thay thế hoặc thêm các đoạn gen, bằng cách này các
phân tử DNA mong muốn được đưa vào bộ gen và sau đó đặc tính được biểu hiện. Dùng phương pháp
này có thể đưa vào dòng tế bào gốc phôi các gen định hướng tế bào gốc phôi biệt hóa thành các tế bào đặc
thù hoặc các gen giúp cho tế bào bộc lộ các sản phẩm protein mong muốn. Về cơ bản, nếu các kỹ thuật đó
có thể phát triển với các tế bào gốc phôi người, nó có lẽ là cuộc cách mạng trong công nghệ gen và tế bào
gốc trị liệu.2.4 Tế bào gốc tạo máu
Tế bào gốc tạo máu được xếp vào loại tế bào gốc trưởng thành. Đây là các tế bào được tách ra từ máu hoặc tủy
xương, chúng có khả năng tự tái tạo (self renew), có thể biệt hóa thành các tế bào đặc thù, có thể di chuyển từ tủy
xương vào máu, và có thể trải qua quá trình apoptosis để loại bỏ đi các tế bào không cần thiết.
3
Các nghiên cứu cơ bản về tế bào gốc tạo máu nở rộ vào những năm 1960. Trong thời gian này các
nghiên cứu thực nghiệm cho thấy có hai loại tế bào gốc tạo máu. Hai loại này về thực chất chính là hai
giai đoạn biệt hóa khác nhau của tế bào gốc tạo máu:
- Các tế bào gốc tạo máu dài hạn (long-term hematopoietic stem cells): đây là các tế bào gốc tạo máu ít biệt hóa
hơn, nói cách khác là “non” hơn, có khả năng tự tái tạo và tính đa năng cao. Trên thực nghiệm các tế bào này có thể
khôi phục hoàn toàn chức năng tạo máu của chuột bị chiếu xạ liều chí tử sau vài tháng. Một ví dụ về tế bào gốc tạo
máu dài hạn là các tế bào gốc tạo máu mang CD34+, tế bào này có thể biệt hóa thành tất cả các chủng loại tế bào máu
khác nhau. Trong điều kiện bình thường, các tế bào gốc tạo máu dài hạn có khả năng tự tái tạo trong suốt đời sống cá
thể. Hiện nay thuật ngữ “tế bào gốc tạo máu” thường được dùng để đề cập tới loại tế bào gốc tạo máu dài hạn này.
- Các tế bào định hướng/tiền thân ngắn hạn (short-term progenitor or precursor cell): đây là các tế bào tạo máu đã
khá trưởng thành, không mang CD34, là tiền thân của các tế bào đã biệt hóa đầy đủ của cùng một loại dòng tế bào
máu, ví dụ tế bào định hướng dòng hồng cầu, tế bào định hướng dòng lympho, mẫu tiểu cầu…. Các tế bào định

các tế bào mầm đơn bội , có nghĩa là họ thực hiện chỉ một nửa số lượng nhiễm sắc thể cần thiết để tạo ra một
sinh vật. Khi các tế bào mầm từ hai người khác nhau đáp ứng, đơn bội vật liệu di truyền của họ kết hợp để
tạo ra các tế bào lưỡng bội có thể tự nhân bản thông qua phân chia tế bào, cuối cùng là xây dựng một em bé.
4
Các tế bào không mang dòng tinh của một sinh vật được gọi là tế bào soma . Phần lớn các tế bào trong cơ thể
của bạn là tế bào soma. Các tế bào soma là lưỡng bội, có chứa tất cả các thông tin cần thiết để làm cho một
sinh vật, và nhiều người trong số họ có nhiệm vụ đặc biệt. Sai sót trong các tế bào soma như ung thư có thể
không được thông qua ngày cho con cái, bởi vì các tế bào soma không tham gia vào sinh sản.
- Tế bào mầm có một điều đáng quan tâm khác lên tay áo của họ, ngoài việc là đơn bội. Họ cũng bất tử về
mặt kỹ thuật, có khả năng sao chép bản thân vô cùng, không giống như các tế bào soma, mà chỉ có thể tự
nhân đôi một số giới hạn của thời gian trước khi họ bắt đầu biến đổi, chia đơn giản là không. Tuy nhiên,
nghiên cứu đã chỉ ra rằng mặc dù các tế bào mầm là bất tử về mặt kỹ thuật, họ là dễ bị sai sót trong quá trình
sao chép như tuổi tác, điều này giải thích lý do tại sao trẻ em sinh ra với người lớn tuổi dễ bị các khuyết tật về
di truyền gây ra bởi các vấn đề với nhân rộng.
Tế bào mầm được tham gia ở tất cả các bước của quá trình sinh sản. Họ tạo ra các giao tử có tiềm năng để
tham gia với các giao tử khác để tạo ra một quả trứng đã thụ tinh, và họ điều chỉnh sao chép tế bào cho phép
một quả trứng đã thụ tinh để trở thành một bào thai và cuối cùng là một đứa trẻ. Nhiều nhà nghiên cứu rất
quan tâm đến các tế bào mầm, vì họ có một số ứng dụng tiềm năng trong nghiên cứu và điều trị y tế. Tuy
nhiên, nghiên cứu của các tế bào mầm là đôi khi gây tranh cãi bởi vì họ thường gắn liền với bào thai, một chủ
đề nóng trong xã hội do niềm tin về khi nào, chính xác, cuộc sống bắt đầu cho con người.
Tế bào mầm là các tế bào trong một bào thai đang phát triển và cuối cùng sản xuất tinh trùng ở nam giới và
trứng ở phụ nữ. Những tế bào bình thường phát triển theo những gì được gọi là "đường giữa" của một bào
thai (thường là nơi dạ dày và các cơ quan nội tạng khác sẽ nằm) trước khi giải quyết cuối cùng vào vị trí
trong các cơ quan sinh sản.
Nhóm bất thường của các tế bào mầm cụm lại với nhau, khối u trở thành, có xu hướng phát triển trong buồng
trứng hoặc tinh hoàn.Đôi khi, mặc dù, bởi vì các tế bào mầm có thể giải quyết ở những nơi khác dọc theo con
đường của họ đến các cơ quan sinh sản, khối u có thể hình thành trong các khu vực khác.
Các trang web phổ biến nhất cho các khối u tế bào mầm bên ngoài của đường sinh dục là trung thất (một
phần ngực giữa ngực và xương sống), xương cụt, bụng và xương chậu. Một số cũng có thể phát triển trong hệ
thống thần kinh trung ương.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status