TỔNG QUAN VỀ TÁI BẢO HIỂM VÀ TÁI BẢO HIỂM CHÁY
I) NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TÁI BẢO HIỂM
1. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ VAI TRÒ CỦA TÁI BẢO HIỂM
1.1.Bản chất của tái bảo hiểm
Mặc dù ra đời từ rất lâu trên thế giới nhưng bản chất thực tế của tái bảo hiểm không phải ai cũng hiểu rõ .
Tái bảo hiểm “ Một dịch vụ giá trị gia tăng, một loại hàng hoá hay một công cụ tái cơ cấu tài chính ?”
Đứng trên quan điểm lịch sử thì câu trả lời cho câu hỏi này không có gì là khó bởi tái bảo hiểm về cơ bản là một
dịch vụ giá trị gia tăng ( nó làm tăng thêm khả năng tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm gốc )Ban đầu, tái bảo
hiểm đã được sử dụng như một công cụ quản lý rủi ro bảo vệ công ty bảo hiểm gốc khỏi những tổn thất lớn không
lường trước bằng việc nhà nhận tái bảo hiểm nhận những rủi ro đó từ nhiều công ty bảo hiểm gốc và giảm bớt sự
đột biến bất thường trên nguyên tắc “số đông bù số ít ”. Chính vì vậy có thể hiểu về bản chất tái bảo hiểm là
sự“bảo hiểm cho những rủi ro đã được bảo hiểm”.
Tuy nhiên cho đến nay, ở những thị trường trưởng thành hơn như thị trường Anh, Đức và nhất là thị trường Bắc
Mỹ, tái bảo hiểm có xu hướng trở thành hàng hoá và đang dần theo cơ cấu tái tài chính vì các công ty bảo hiểm trên
thị trường này đã phát triển tới một quy mô cho phép họ có các mức giữ lại lớn, bên cạnh đó các tái bảo hiểm cạnh
tranh với nhau để giành dịch vụ do đó các công ty bảo hiểm gốc ít chú ý đến những dịch vụ có giá trị gia tăng mà
chú ý đến giá cả cho nên giá cả trở thành động lực chủ yếu quyết định việc lựa chọn nhà tái bảo hiểm .
1.2.Vai trò và tác dụng cơ bản của tái BH
Tái bảo hiểm có vai trò và tác dụng sau :
Phân tán rủi ro, góp phần ổn định tài chính cho công ty BH gốc, đặc
biệt là trong những trương hợp xảy ra các sự cố thảm họa hay tích luỹ rủi
ro;
Tăng cường khả năng nhận BH của công ty BH gốc đối với những rủi
ro vượt quá khả năng tài chính của nó;
Góp phần ổn định thu chi của ngân sách Nhà nước và tăng thu ngoại tệ
cho Nhà nước;
Giúp các công ty BH nhỏ, mới thành lập ổn định và phát triển nhờ tư
vấn về nghiệp vụ từ các công ty tái BH;
Giúp các công ty BH sửa chữa tính bất thường, đột biến của rủi ro –
khả năng sai lệch giữa thực tế và dự đoán mà mà người BH có được nhờ
năm1864, nó trở thành thị trường tái BH quan trọng nhất trên thế giới. Thời
gian này cũng đã chứng kiến sự xuất hiện của các nghiệp vụ tái BH khác như
tái BH cháy,… với hình thức tái BH duy nhất được áp dụng trong thời kỳ này
là tái BH tuỳ ý lựa chọn cho từng rủi ro riêng biệt.
b. Giai đoạn từ giữa thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX
Trong giai đoạn này, những thành tựu khoa học kỹ thuật đã được ứng
dụng vào sản xuất làm nền kinh tế của các nước TBCN đã có những bước tiến
nhảy vọt, quan hệ giao lưu hàng hoá giữa các nước ngày càng được mở rộng .
Đây chính là điều kiện thuận lợi cho thị trường tái bảo hiểm trưởng thành và
phát triển .Tuy nhiên các công ty bảo hiểm vừa hoạt động bảo hiểm gốc vừa
hoạt động tái bảo hiểm tạo ra những hạn chế nhất định, đặt ra yêu cầu cần phải
có công ty tái bảo hiểm chuyên nghiệp. Năm 1843, công ty tái BH nội bộ đầu
tiên ra đời là Weceler Re (Đức). Tuy nhiên, nó chỉ là công ty con của một công
ty BH địa phương, chủ yếu nhận các phần dôi của công ty mẹ.
Năm 1852, công ty tái BH độc lập đầu tiên được thành lập mang tên
Cologe Re. Sau đó là sự ra đời hàng loạt của các công ty tái BH chuyên nghiệp
có tên tuổi như :
- Swiss Re - công ty tái BH đầu tiên của Thuỵ Sỹ, thành lập năm 1863;
- London Gurantee Reinsurance Co.Ltd (Luân Đôn) – 1869;
- Munich Re (Đức), thành lập năm 1880.
Ở Anh, công ty tái BH đầu tiên là The Reinsurance Company Ltd, thành
lập năm 1867 và vào thời gian đó, trên thế giới mới chỉ tồn tại 10 công ty tái
BH. Tuy nhiên, công ty này đã đóng cửa vì phá sản vào năm 1871. Một số
công ty tái BH khác đã được thành lập nhưng không tồn tại được lâu. Năm
1907, công ty tái BH Vương quốc Anh thành lập, mang tên Mercantile &
General Reinsurance. Một năm sau, năm 1908, công ty tái BH Bristish &
European ra đời.
Ở Mỹ, công ty tái BH đầu tiên được thành lập năm 1912 với tên The
First Reinsurance Company of Hartford khi mà các công ty tái BH nước ngoài
đã hoạt động tại Mỹ một số năm trước đó.
bảo hiểm và tái bảo hiểm .Tuy nhiên những năm đầu của thế kỷ XX thị trường
tái bảo hiểm quốc tế phải đối mặt lớn với thảm hoạ và rủi ro do thiên nhiên và
con người gây ra
Năm 2001, với thảm họa khủng bố giáng xuống nước Mỹ ngày 11/9, các
công ty BH, tái BH phải gánh chịu những khoản tổn thất nặng nề chưa từng có
với tổng tổn thất được BH lên tới 40,2 tỷ USD. dẫn tới sự phá sản tụt hạng của
một số công ty tái BH hàng đầu thế giới (Hannover Reinsurance từ AA+ xuống
AA, Swiss Reinsurance từ AAA xuống AA+,…
Và đến nay với hàng loạt tổn thất do thiên tai gây ra đặc biệt là tổn thất
nặng nề do sóng thần vào thời điểm cuối năm 2004 tại các nước Nam á làm
cho tình hình thị trường tái bảo hiêm quốc tế trở lên phức tạp
2. CÁC HÌNH THỨC TÁI BẢO HIỂM
2.1. Tái bảo hiểm tuỳ ý lựa chọn (Facultative)
Đây là hình thức tái BH cơ bản và cổ điển nhất. Theo hình thức này,
công ty nhượng toàn quyền lựa chọn toàn bộ hay một số rủi ro cần phải tái đi
và công ty nhận (nhà tái BH) có quyền nhận hay từ chối toàn bộ hay mọt số rủi
ro đó.
Quy trình để thực hiện tái BH tuỳ ý lựa chọn gồm có các bước:
- Công ty nhượng thông báo cho nhà tái BH một dịch vụ nào đó mà họ cần tái đi dưới hình thức một bản để
nghị( hay bản chào tái ), trong đó ghi rõ các đặc điểm chính của rủi ro được tái BH chẳng hạn như:
+ Tên và địa chỉ của người được BH;
+ Tính chất của rủi ro được BH;
+ Ngày bắt đầu và ngày chấm dứt;
+ Số tiền BH, phí BH, phần giữ lại của công ty nhượng;
+ Thủ tục phí tái BH,…
+ Phương thức tái ,thủ tuc thanh toán ,bồi thường
+.....
- Sau khi nhận được đề nghị, nhà tái BH có quyền lựa chọn nhận toàn bộ hay một phần tỷ lệ nào đó hay
một số tiền cố định trên cơ sở rủi ro được đề nghị. Nhà tái BH xác nhận phần tham gia của mình vào một phiếu đề
nghị và gửi lại cho công ty nhượng. đồng thời, nhà tái BH có thể yêu cầu cung cấp thêm thông tin cần thiết. Chỉ khi
phải nhượng cho nhà tái BH tất cả các đơn vị rủi ro gốc ma hai bên đã thoả thuận từ trước. Ngược lại, nhà tái BH
cũng buộc phải chấp nhận toàn bộ các đơn vị rủi ro đó.
Ở đây, công ty nhượng toàn quyền trong việc chấp nhận BH gốc, định phí,… mà không phải thông qua ý kiến
của nhà tái BH. Công ty nhượng đơn phương thanh toán các vụ tổn thất có liên quan đến những rủi ro được BH với
mục đích bảo vệ quyền lợi chung của công ty nhượng và nhà tái BH. Ngược lại, nhà tái BH chia sẻ rủi ro với công
ty nhượng và sẽ chấp nhận thanh toán tổn thất thuộc phạm vi hợp đồng tái BH đã thoả thuận mà công ty nhượng
thay mặt họ giải quyết.
Như vậy, hình thức tái BH bắt buộc là thoả thuận ràng buộc các bên với nhau một cách chặt chẽ hơn là hình
thức tái BH tuỳ ý lựa chọn.
-Ưu điểm của hình thức này là:
+ Công ty nhượng được toàn quyền quyết định phí BH cho nên hợp đồng sẽ ký kết rất nhanh;
+ Các nhà tái BH hoàn toàn chia sẻ vận may rủi với công ty nhượng đồng thời rất thoải mái chấp nhận rủi
ro một cách tự nguyện bởi vì đến lượt mình họ cũng có quyền làm như vậy;
+ Đây là hình thức rất chặt chẽ bởi vì mọi thoả thuận đã được thảo luận từ trước khi ký kết hợp đồng, vì
vậy phí BH mà các bên thu được cũng cao nhất;
- Nhược điểm:
+ Đối với những nghiệp vụ BH mới triển khai, các nhà tái BH không lường hết được mức độ rủi ro cũng
như xác suất rủi ro vì vậy, việc ký kết hợp đồng ít nhiều còn mang tính mạo hiểm;
+ Vì mọi rủi ro đều phải tái đi cho nên, đứng về phía công ty nhượng, những đơn vị rủi ro có số tiền BH
nhỏ vẫn phải đem đi tái trong khi khả năng tài chính của họ vẫn có thể đảm đương được;
2.3. Tái bảo hiểm kết hợp tuỳ ý lựa chọn- bắt buộc
Đây là hình thức tái BH mà công ty nhượng không bắt buộc phải nhượng tất cả các dịch vụ mà mình nhận
BH nhưng công ty nhận bắt buộc phải nhận các dịch vụ mà công ty nhượng đưa vào thoả thuận này với điều kiện là
những dịch vụ đó phải phù hợp với nội dung điều khoản đã quy ước của hợp đồng tái BH thoả thuận.
Như vậy, so với hình thức tái BH tuỳ ý lựa chọn, nhà tái BH bất lợi hơn vì không có quyền từ chối những rủi
ro mà họ không muốn nhận.
Ưu điểm trong hình thức tái BH này
+ công ty nhận tái BH có điều kiện thu nhập nguồn phí tái BH lớn hơn và có phần thăng bằng hơn so với hình
thức tái BH tuỳ ý lựa chọn. Ở đây, công ty nhượng không được lợi dụng hình thức này để lựa chọn tái đi những rủi
ro có khả năng xảy ra tổn thất lớn với mục đích đẩy phần bất lợi cho nhà tái BH. Để đề phòng trường hợp này xảy
vị rủi ro được bảo hiểm được phân bổ theo tỷ lệ tham gia của mỗi bên trên cơ
sở số tiền bảo hiểm. Vì lẽ đó các dịch vụ tái bảo hiểm theo số tiền bảo hiểm
còn được gọi là tái bảo hiểm theo tỷ lệ ( propotional reinsurance ).
Phương pháp tái bảo hiểm tỷ lệ được chia làm hai dạng chính :
+ Tái bảo hiểm Số Thành.
+ Tái bảo hiểm Mức Dôi.
3.1.1.Tái bảo hiểm số thành
Theo phương thức này, Công ty nhượng giữ lại cho mình một tỷ lệ nhất
định so với số tiền bảo hiểm, phần còn lại tái đi. Vì vậy phí bảo hiểm và số tiền
bồi thường cũng được phân bổ giữa Công ty nhượng và nhà tái bảo hiểm theo
tỷ lệ tương ứng.
Phương pháp này có một số ưu điểm :
+ tính toán đơn giản, dễ xử lý, chi phí hành chính và cách quản lý đơn
giản, ít tốn kém;
+ đối với nhà tái bảo hiểm, dạng tái bảo hiểm này có tính cân đối và dễ
chấp nhận hơn so với dạng tái bảo hiểm mức dôi, có khả năng phân tán rủi ro
tốt hơn so với các loại tái bảo hiểm khác. Nhà tái bảo hiểm có điều kiện tham
gia vào mọi rủi roầm công ty nhượng nhận bảo hiểm, đồngthời công ty nhượng
có thể yên tâm nhận mọi rủi ro có giá trị nằm trong phạm vi hạn mức khống
chế tối đa đã qui ước vì mọi rủi ro này đều được chia sẻ cho nhà tái bảo hiểm
cùng hưởng và cùng chịu với công ty nhượng. Điều này đảm bảo cân đối thu
chi cho cả hai bên : công ty nhượng và nhà nhận tái bảo hiểm.
+ thủ tục phí tái bảo hiểm của dạng này cao nhất, ngoài ra các điều kiện
về phí tạm giữ cũng có tỷ lệ cao, nhờ đó công ty nhượng có điều kiện sử dụng
vốn nà(HND) rỗi để đầu tư vào các việc khác.
Nhược điểm của phương pháp này :
+ công ty nhượng phải tái đi mọi đơn vị rủi ro bảo hiểm gốc theo một tỷ lệ
định trước nên không khai thác hết khả năng của công ty;
+ đồng thời công ty nhượng không khống chế được tỷ lệ bồi thường đối
với mức giữ , không có khả năng làm giảm hệ số biến thiên của phần tổn thất