CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI - Pdf 64

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CHO VAY TRUNG VÀ DÀI
HẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH TẠI
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Tổng quan về cho vay trung và dài hạn của NHTM
1.1.1. Khái niệm cho vay trung và dài hạn
Cho vay là “một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho
khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất
định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”
1
. Nghiệp vụ cho
vay có thể phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau: căn cứ vào tài sản thế chấp,
căn cứ vào hạn mức tín dụng, căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay, căn cứ vào
thời gian vay. Theo tiêu thức thời gian vay, cho vay được chia ra thành: cho vay
ngắn hạn (cho vay theo đặc điểm tuần hoàn và luân chuyển của vốn) thường để
bổ sung cho cho vốn lưu động của khách hàng; ngược lại cho vay trung và dài
hạn là để bổ sung cho tài sản cố định của người đi vay nhằm phát triển sản xuất
theo chiều rộng và chiều sâu.
Cho vay trung và dài hạn của ngân hàng là các khoản cho vay có thời hạn
trên 01 năm nhưng không dài hơn thời gian sử dụng còn lại của tài sản hình
thành bằng vốn vay. Việc phân định cụ thể thời gian của cho vay trung hạn và
dài hạn tuỳ thuộc vào quy định của mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, theo “Quy chế
cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng”
2
thì: “Cho vay trung hạn là
các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng; Cho vay dài
hạn là các khoản cho vay có thời hạn cho vay từ trên 60 tháng trở lên”.
1 Điều 3, quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN
2 Điều 8, quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN
1.1.2. Vai trò của cho vay trung và dài hạn
1.1.2.1. Vai trò của cho vay trung và dài hạn đối với NHTM
 Mang lại lợi nhuận cao hơn cho vay ngắn hạn

của một khoản vay mà là nhiều khoản vay khác nữa sau đó. Hơn thế nữa, thì
việc phát triển cho vay trung và dài hạn còn góp phần đảm phát triển các khoản
cho vay ngắn hạn và các dịch vụ khác của ngân hàng . Mối quan hệ này được
tạo lập dựa trên quá trình thẩm định kỹ càng khách hàng do đó sẽ đảm bảo tính
an toàn cho những khoản vay. Như vậy thông qua cho vay trung và dài hạn
NHTM tạo sự gắn bó với khách hàng, tạo ra nhóm khách hàng trung thành của
NHTM, là cơ sở nâng cao chất lượng tín dụng và hạn chế rủi ro tín dụng trong
hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Như vậy, một mặt thì do nhu cầu khách quan của nền kinh tế, mặt khác
để đạt được mục tiêu phát triển cho chính mình thì đối với các NHTM cho vay
trung và dài hạn luôn là mảng kinh doanh đầy tiềm năng.
1.1.2.2. Đối với nền kinh tế
Cho vay trung và dài hạn của NHTM góp phần giảm gánh nặng cho ngân
sách Nhà nước cũng như nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Nó là công cụ tài trợ
cho các ngành kinh tế kém phát triển và ngành kinh tế mũi nhọn. Thông qua hệ
thống ngân hàng, Nhà nước tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển bằng
việc cho vay ưu đãi với lãi suất thấp, thời gian dài, mức vốn lớn. Bên cạnh đó
Nhà nước còn có thể tài trợ cho những ngành kinh tế mũi nhọn - các ngành này
phát triển sẽ tạo cơ sở cho các ngành kinh tế khác phát triển theo. Bên cạnh đó,
khi cho vay thì một trong những yêu cầu đầu tiên mà ngân hàng đặt ra là phải
đảm bảo được tính an toàn. Chính vì vậy mà ngân hàng luôn có các biện pháp
kiểm tra, giám sát chặt chẽ trước, trong và sau khi cho vay đối với mọi dự án.
Và cũng không giống như nguồn vốn cấp phát từ ngân sách Nhà nước, nguồn
vốn từ ngân hàng được cấp dựa trên nguyên tắc có hoàn trả cả gốc lẫn lãi, vì vậy
người đi vay sẽ phải đảm bảo thực hiện đúng tiến độ, sử dụng vốn sao cho có
hiệu quả nhất. Đây chính là điểm ưu việt của nguồn vốn vay trung và dài hạn
của NHTM so với nguồn từ ngân sách Nhà nước.
Trong điều kiện kinh tế nước ta hiện nay, nguồn vốn trung và dài hạn là
một nhân tố quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-
HĐH. Thêm vào đó, nó là công cụ đòn bẩy thúc đẩy mạnh mẽ phát triển kinh tế

Tín dụng trung, dài hạn hình thành từ 5 nguồn: vốn chủ sở hữu; vốn huy
động dài hạn (trái phiếu, tiền gửi dài hạn); huy động ngắn hạn; vay nước ngoài;
vốn nhận uỷ thác và vốn tài trợ để cho vay theo chương trình hoặc dự án đầu tư
của Nhà nước, của tổ chức kinh tế - tài chính - tín dụng - xã hội ở trong và ngoài
nước
Vốn chủ sở hữu hình thành do vốn góp hay do tích luỹ được trong quá
trình kinh doanh có vai trò rất quan trọng. Nó góp phần xác định quy mô và cơ
cấu của ngân hàng, tăng khả năng mở rộng cho vay và đầu tư, đặc biệt là trung
và dài hạn. Số vốn này thuộc về sở hữu của NHTM nên dùng để cho vay trung
và dài hạn là khá an toàn. Tuy nhiên vốn chủ sở hữu lại chiếm tỷ trọng nhỏ,
thường chỉ từ 5% đến 7% nên không dễ dàng mở rộng cho vay.
Nguồn hình thành từ hoạt động phát hành trái phiếu của ngân hàng và
huy động tiền gửi dài hạn của khách hàng: Nguồn từ phát hành trái phiếu không
có tính thường xuyên và cũng chỉ chiếm từ 4% đến 6,7% lượng vốn mà NHTM
huy động được. Còn nguồn từ tiền gửi dài hạn của khách hàng tại ngân hàng thì
còn hạn chế về cả khối lượng và thời gian gửi. Hơn nữa lãi mà ngân hàng phải
trả cho tiền huy động dài hạn lại cao hơn khi huy động ngắn hạn. Do đó nguồn
này được xem là khan hiếm và đắt đỏ.
Nguồn do huy động ngắn hạn chiếm tới 70% tổng lượng vốn huy động
của NHTM do đó có thể xem đây là một nguồn dồi dào. Và với công cụ chuyển
hoán kỳ hạn thì nguồn ngắn hạn có thể dùng để cho vay trung và dài hạn. Tuy
nhiên NHNN cũng quy định một tỷ lệ tối đa cho việc chuyển hoán này nhằm
hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của NHTM.
4 Điều 8, quyết định 367/1995/QĐ-NHNN
Vay nợ nước ngoài: việc vay nợ nước ngoài để có nguồn vốn cho vay
trung và dài hạn phổ biến ở các ngân hàng trên Thế giới. Nguồn này có khối
lượng lớn, lãi suất phù hợp, chất lượng vốn cao nhưng đối với các nước đang
phát triển như nước ta do trình độ quản lý còn thấp nên hiệu quả sử dụng vốn
không cao sẽ dễ dẫn tới tình trạng không trả được nợ.
Nguồn vốn nhận uỷ thác và vốn tài trợ để cho vay theo chương trình hoặc

kỳ sản xuất kinh doanh, thời gian thu hồi vốn của phương án, dự án đầu tư, khả
năng trả nợ của khách hàng và nguồn vốn cho vay của TCTD. Đối với các pháp
nhân Việt Nam và nước ngoài, thời hạn cho vay không quá thời gian hoạt động
còn lại theo quyết định thành lập hoặc theo giấy phép hoạt động tại Việt Nam”
6
.
Do mục đích của các khoản vay như đã trình bày thì thời gian để khách hàng có
thể hoàn vốn là rất dài đồng thời khối lượng vốn vay lại rất lớn. Trong thời gian
đó nhiều biến động không mong muốn có thể xảy ra như khách hàng làm ăn
thua lỗ, dự án không được hoàn thành, lãi suất thị trường tăng cao trong khi lãi
suất cho vay đã được cố định từ trước trong hợp đồng tín dụng, … đều có thể
gây thiệt hại trực tiếp hoặc gián tiếp cho hoạt động của NHTM.
 Tính rủi ro của các khoản cho vay trung và dài hạn còn thể hiện ở chỗ đây
là những tài sản kém thanh khoản, khó có thể chuyển nhượng hay thế chấp
được. Do đó một khi ngân hàng đã đồng ý cho vay thì đồng nghĩa với việc phải
chấp nhận sự rủi ro trong suốt thời hạn tín dụng cam kết trên hợp đồng.
 Thêm vào đó, việc chuyển hoán kỳ hạn nguồn ngắn hạn để cho vay trung
và dài hạn của NHTM cũng được cảnh báo là tiềm ẩn nhiều rủi ro. Theo quyết
định 457/2005/QĐ-NHNN về các tỷ lệ đảm bảo an toàn hoạt động của tổ chức
tín dụng do NHNN ban hành, các NHTM được phép dùng tối đa 40% tổng
nguồn vốn ngắn hạn của mình để sử dụng cho vay trung và dài hạn.
Tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng cho vay trung và dài hạn
7
:
Giá trị nguồn vốn ngắn hạn dùng cho vay trung và dài hạn
6 Điều 10 Quyết định 1627/QĐ-NHNN
7 Nghiệp vụ ngân hàng (Trường ĐH Kinh tế TPHCM – NXB Thống kê 2005
Tn =
Dư nợ cho vay dài hạn
Sở dĩ phải quy định tỷ lệ chuyển hoán này bởi vì đặc trưng hoạt động của

đã đưa ra một khái niệm được xem là đầy đủ
nhất về DNNQD. Theo đó thì:
“DNNQD là các doanh nghiệp vốn trong nước, mà nguồn vốn thuộc sở
hữu tập thể, tư nhân một người hay một nhóm người hoặc có sở hữu Nhà nước
nhưng chiếm từ 50% vốn điều lệ trở xuống. DNNQD bao gồm:
_ Các hợp tác xã (trừ hợp tác xã nông, lâm nghiệp, thuỷ sản)
_ Doanh nghiệp tư nhân
_ Công ty hợp danh
_ Công ty trách nhiệm hữu hạn tư nhân (kể cả công ty trách nhiệm hữu hạn
có vốn Nhà nước từ 50% trở xuống)
_ Các công ty cổ phần tư nhân
_ Các công ty cổ phần có vốn Nhà nước từ 50% vốn điều lệ trở xuống”
1.2.2. Đặc điểm của DNNQD tại Việt Nam
1.2.2.1. Quy mô nhỏ
Khu vực DNNQD với 96% số doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ (có
vốn đăng ký kinh doanh dưới 10 tỷ đồng, có số lao động thường xuyên làm việc
dưới 300 người). Các DNNQD bình quân chỉ có 40 lao động, 7 tỷ đồng vốn.
Trong khi đó với DNQD, con số này là 421 lao động và 167 tỷ đồng vốn. Với
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, con số tương ứng là 299 lao động, 152
tỷ đồng vốn
9
. Quy mô nhỏ, năng lực tài chính thấp làm doanh nghiệp chỉ có thể
tiến hành sản xuất kinh doanh manh mún, nhỏ lẻ. DNNQD rất cần vốn để mở
8 Quản trị doanh nghiệp (Nguyễn Hải Sản – NXB Thống kê)
9 Niên giám Thống kê năm 2007 (NXB Thống kê)
rộng sản xuất kinh doanh nhưng đối với họ thì muốn thu hút thêm vốn đầu tư
cũng khó khăn vì không có đủ uy tín trên thị trường và với ngân hàng. Do đó
“khát vốn” hiện vẫn đang là vấn đề cấp thiết đối với khối DNNQD.
1.2.2.2. Kỹ thuật, công nghệ sản xuất lạc hậu
Các DNNQD bị giới hạn trong các ngành nghề nhỏ lẻ đòi hỏi ít vốn, thời


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status