TỔNG QUAN VỀ CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI - Pdf 71

TỔNG QUAN VỀ CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.1. Tổng quan về cho vay trung và dài hạn của NHTM
1.1.1. Khái niệm cho vay trung và dài hạn
Cho vay là “một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho
khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định
theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”
1
. Nghiệp vụ cho vay có
thể phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau: căn cứ vào tài sản thế chấp, căn cứ
vào hạn mức tín dụng, căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay, căn cứ vào thời gian
vay. Theo tiêu thức thời gian vay, cho vay được chia ra thành: cho vay ngắn hạn
(cho vay theo đặc điểm tuần hoàn và luân chuyển của vốn) thường để bổ sung cho
cho vốn lưu động của khách hàng; ngược lại cho vay trung và dài hạn là để bổ
sung cho tài sản cố định của người đi vay nhằm phát triển sản xuất theo chiều rộng
và chiều sâu.
Cho vay trung và dài hạn của ngân hàng là các khoản cho vay có thời hạn
trên 01 năm nhưng không dài hơn thời gian sử dụng còn lại của tài sản hình thành
bằng vốn vay. Việc phân định cụ thể thời gian của cho vay trung hạn và dài hạn
tuỳ thuộc vào quy định của mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, theo “Quy chế cho vay của
tổ chức tín dụng đối với khách hàng”
2
thì: “Cho vay trung hạn là các khoản vay có
1 Điều 3, quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN
2 Điều 8, quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN
thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng; Cho vay dài hạn là các khoản cho
vay có thời hạn cho vay từ trên 60 tháng trở lên”.
1.1.2. Vai trò của cho vay trung và dài hạn
1.1.2.1. Vai trò của cho vay trung và dài hạn đối với NHTM
 Mang lại lợi nhuận cao hơn cho vay ngắn hạn

cho vay trung và dài hạn còn góp phần đảm phát triển các khoản cho vay ngắn hạn
và các dịch vụ khác của ngân hàng . Mối quan hệ này được tạo lập dựa trên quá
trình thẩm định kỹ càng khách hàng do đó sẽ đảm bảo tính an toàn cho những
khoản vay. Như vậy thông qua cho vay trung và dài hạn NHTM tạo sự gắn bó với
khách hàng, tạo ra nhóm khách hàng trung thành của NHTM, là cơ sở nâng cao
chất lượng tín dụng và hạn chế rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của
ngân hàng.
Như vậy, một mặt thì do nhu cầu khách quan của nền kinh tế, mặt khác để
đạt được mục tiêu phát triển cho chính mình thì đối với các NHTM cho vay trung
và dài hạn luôn là mảng kinh doanh đầy tiềm năng.
1.1.2.2. Đối với nền kinh tế
Cho vay trung và dài hạn của NHTM góp phần giảm gánh nặng cho ngân
sách Nhà nước cũng như nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Nó là công cụ tài trợ cho
các ngành kinh tế kém phát triển và ngành kinh tế mũi nhọn. Thông qua hệ thống
ngân hàng, Nhà nước tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển bằng việc cho
vay ưu đãi với lãi suất thấp, thời gian dài, mức vốn lớn. Bên cạnh đó Nhà nước còn
có thể tài trợ cho những ngành kinh tế mũi nhọn - các ngành này phát triển sẽ tạo
cơ sở cho các ngành kinh tế khác phát triển theo. Bên cạnh đó, khi cho vay thì một
trong những yêu cầu đầu tiên mà ngân hàng đặt ra là phải đảm bảo được tính an
toàn. Chính vì vậy mà ngân hàng luôn có các biện pháp kiểm tra, giám sát chặt chẽ
trước, trong và sau khi cho vay đối với mọi dự án. Và cũng không giống như
nguồn vốn cấp phát từ ngân sách Nhà nước, nguồn vốn từ ngân hàng được cấp dựa
trên nguyên tắc có hoàn trả cả gốc lẫn lãi, vì vậy người đi vay sẽ phải đảm bảo
thực hiện đúng tiến độ, sử dụng vốn sao cho có hiệu quả nhất. Đây chính là điểm
ưu việt của nguồn vốn vay trung và dài hạn của NHTM so với nguồn từ ngân sách
Nhà nước.
Trong điều kiện kinh tế nước ta hiện nay, nguồn vốn trung và dài hạn là một
nhân tố quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH.
Thêm vào đó, nó là công cụ đòn bẩy thúc đẩy mạnh mẽ phát triển kinh tế hàng hoá,
hình thành và góp phần ổn định nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, thị trường tài

động dài hạn (trái phiếu, tiền gửi dài hạn); huy động ngắn hạn; vay nước ngoài;
vốn nhận uỷ thác và vốn tài trợ để cho vay theo chương trình hoặc dự án đầu tư của
Nhà nước, của tổ chức kinh tế - tài chính - tín dụng - xã hội ở trong và ngoài nước
Vốn chủ sở hữu hình thành do vốn góp hay do tích luỹ được trong quá trình
kinh doanh có vai trò rất quan trọng. Nó góp phần xác định quy mô và cơ cấu của
ngân hàng, tăng khả năng mở rộng cho vay và đầu tư, đặc biệt là trung và dài hạn.
Số vốn này thuộc về sở hữu của NHTM nên dùng để cho vay trung và dài hạn là
khá an toàn. Tuy nhiên vốn chủ sở hữu lại chiếm tỷ trọng nhỏ, thường chỉ từ 5%
đến 7% nên không dễ dàng mở rộng cho vay.
Nguồn hình thành từ hoạt động phát hành trái phiếu của ngân hàng và huy
động tiền gửi dài hạn của khách hàng: Nguồn từ phát hành trái phiếu không có tính
4 Điều 8, quyết định 367/1995/QĐ-NHNN
thường xuyên và cũng chỉ chiếm từ 4% đến 6,7% lượng vốn mà NHTM huy động
được. Còn nguồn từ tiền gửi dài hạn của khách hàng tại ngân hàng thì còn hạn chế
về cả khối lượng và thời gian gửi. Hơn nữa lãi mà ngân hàng phải trả cho tiền huy
động dài hạn lại cao hơn khi huy động ngắn hạn. Do đó nguồn này được xem là
khan hiếm và đắt đỏ.
Nguồn do huy động ngắn hạn chiếm tới 70% tổng lượng vốn huy động của
NHTM do đó có thể xem đây là một nguồn dồi dào. Và với công cụ chuyển hoán
kỳ hạn thì nguồn ngắn hạn có thể dùng để cho vay trung và dài hạn. Tuy nhiên
NHNN cũng quy định một tỷ lệ tối đa cho việc chuyển hoán này nhằm hạn chế rủi
ro trong hoạt động cho vay của NHTM.
Vay nợ nước ngoài: việc vay nợ nước ngoài để có nguồn vốn cho vay trung
và dài hạn phổ biến ở các ngân hàng trên Thế giới. Nguồn này có khối lượng lớn,
lãi suất phù hợp, chất lượng vốn cao nhưng đối với các nước đang phát triển như
nước ta do trình độ quản lý còn thấp nên hiệu quả sử dụng vốn không cao sẽ dễ dẫn
tới tình trạng không trả được nợ.
Nguồn vốn nhận uỷ thác và vốn tài trợ để cho vay theo chương trình hoặc dự
án đầu tư là nguồn chỉ có tính chất thời điểm.
Tóm lại, nguồn vốn cho vay trung và dài hạn của các NHTM hiện nay còn

6
. Do mục
đích của các khoản vay như đã trình bày thì thời gian để khách hàng có thể hoàn
vốn là rất dài đồng thời khối lượng vốn vay lại rất lớn. Trong thời gian đó nhiều
biến động không mong muốn có thể xảy ra như khách hàng làm ăn thua lỗ, dự án
không được hoàn thành, lãi suất thị trường tăng cao trong khi lãi suất cho vay đã
được cố định từ trước trong hợp đồng tín dụng, … đều có thể gây thiệt hại trực tiếp
hoặc gián tiếp cho hoạt động của NHTM.
5 Điều 11 quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN
6 Điều 10 Quyết định 1627/QĐ-NHNN
 Tính rủi ro của các khoản cho vay trung và dài hạn còn thể hiện ở chỗ đây là
những tài sản kém thanh khoản, khó có thể chuyển nhượng hay thế chấp được. Do
đó một khi ngân hàng đã đồng ý cho vay thì đồng nghĩa với việc phải chấp nhận sự
rủi ro trong suốt thời hạn tín dụng cam kết trên hợp đồng.
 Thêm vào đó, việc chuyển hoán kỳ hạn nguồn ngắn hạn để cho vay trung và
dài hạn của NHTM cũng được cảnh báo là tiềm ẩn nhiều rủi ro. Theo quyết định
457/2005/QĐ-NHNN về các tỷ lệ đảm bảo an toàn hoạt động của tổ chức tín dụng
do NHNN ban hành, các NHTM được phép dùng tối đa 40% tổng nguồn vốn ngắn
hạn của mình để sử dụng cho vay trung và dài hạn.
Tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng cho vay trung và dài hạn
7
:
Giá trị nguồn vốn ngắn hạn dùng cho vay trung và dài hạn
Tn =
Dư nợ cho vay dài hạn
Sở dĩ phải quy định tỷ lệ chuyển hoán này bởi vì đặc trưng hoạt động của
NHTM là dùng tiền huy động được để cho vay. Vốn huy động không kỳ hạn có thể
bị khách hàng rút ra bất cứ lúc nào; vốn huy động dưới 01 năm nếu dùng quá nhiều
để cho vay trung và dài hạn thì khi đáo hạn khách hàng đến rút tiền ngân hàng sẽ
không thể chi trả. Việc chuyển hoán kỳ hạn nguồn ngắn để cho vay trung và dài

chiếm từ 50% vốn điều lệ trở xuống. DNNQD bao gồm:
_ Các hợp tác xã (trừ hợp tác xã nông, lâm nghiệp, thuỷ sản)
_ Doanh nghiệp tư nhân
8 Quản trị doanh nghiệp (Nguyễn Hải Sản – NXB Thống kê)
_ Công ty hợp danh
_ Công ty trách nhiệm hữu hạn tư nhân (kể cả công ty trách nhiệm hữu hạn có
vốn Nhà nước từ 50% trở xuống)
_ Các công ty cổ phần tư nhân
_ Các công ty cổ phần có vốn Nhà nước từ 50% vốn điều lệ trở xuống”
1.2.2. Đặc điểm của DNNQD tại Việt Nam
1.2.2.1. Quy mô nhỏ
Khu vực DNNQD với 96% số doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ (có vốn
đăng ký kinh doanh dưới 10 tỷ đồng, có số lao động thường xuyên làm việc dưới
300 người). Các DNNQD bình quân chỉ có 40 lao động, 7 tỷ đồng vốn. Trong khi
đó với DNQD, con số này là 421 lao động và 167 tỷ đồng vốn. Với doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài, con số tương ứng là 299 lao động, 152 tỷ đồng vốn
9
.
Quy mô nhỏ, năng lực tài chính thấp làm doanh nghiệp chỉ có thể tiến hành sản
xuất kinh doanh manh mún, nhỏ lẻ. DNNQD rất cần vốn để mở rộng sản xuất kinh
doanh nhưng đối với họ thì muốn thu hút thêm vốn đầu tư cũng khó khăn vì không
có đủ uy tín trên thị trường và với ngân hàng. Do đó “khát vốn” hiện vẫn đang là
vấn đề cấp thiết đối với khối DNNQD.
1.2.2.2. Kỹ thuật, công nghệ sản xuất lạc hậu
Các DNNQD bị giới hạn trong các ngành nghề nhỏ lẻ đòi hỏi ít vốn, thời
gian thu hồi vốn nhanh và lao động giản đơn. Các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm
xuất khẩu cũng chủ yếu là hàng nông sản, may mặc, thủ công mỹ nghệ, … là
những ngành nghề chủ yếu sử dụng lao động thủ công. Vốn ít đã khiến các
DNNQD ít có khả năng trang bị công nghệ tiên tiến, với mức đầu tư trung bình cho
tài sản cố định trên một lao động chỉ có 43 triệu đồng so với 137 triệu đồng đối với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status