Thống nhất vị trí đặt dấu thanh điệu
1.2. Thực trạng về vị trí đặt dấu thanh điệu trong chữ quốc ngữ hiện nay
1.2.1. Quan sát chung
Nếu quan sát các khuôn vần tiếng Việt ở dạng chữ quốc ngữ, ta có thể thấy:
10 khuôn vần gồm có 1 chữ cái (1)
77 khuôn vần gồm có 2 chữ cái (2)
80 khuôn vần gồm có 3 chữ cái (3)
20 khuôn vần gồm có 4 chữ cái (4)
Phân tích:
- PT1. Ở trường hợp (1) thì không có gì phải bàn cãi vì dấu thanh điệu sẽ được đặt
lên chữ cái duy nhất ở phần vần.
- PT2. Ở trường hợp (2). Chúng ta có các kiểu vần sau đây:
a. Thứ nhất, có 03 vần có nguyên âm đôi và âm cuối /zero/. Theo nguyên tắc biểu
trưng ngữ âm, kết hợp với nguyên tắc thẩm mĩ, dấu thanh điệu sẽ được đặt ở chữ
cái thứ nhất.
b. Thứ hai, có 77 vần có nguyên âm đơn. Trong đó:
b1. 70 vần không có âm đệm và âm cuối có một chữ cái. Theo nhận xét về nguyên
tắc chung thì dấu thanh điệu sẽ được đặt ở chữ cái thứ nhất, ứng với nguyên âm.
b2. 07 vần có âm đệm và âm cuối /zero/. Cụ thể là các vần: “oa, ua, oe, ue, uê, uơ,
uy”. Như vậy, không như các vần ở hai trường hợp trên, trong các vần này, chữ cái
thứ hai mới là thành tố biểu diễn cho âm chính.
c. Một điểm cần chú ý nữa là ở đây có 2 vần cùng được biểu diễn bằng tổ hợp chữ
cái “ua”. Một là cho vần [uo] (nguyên âm đôi /uo/), và một cho vần [wa].
- PT3. Ở trường hợp (3). Chúng ta có các kiểu vần sau đây:
a. Thứ nhất, có 23 vần có nguyên âm đôi và âm cuối được biểu diễn bằng một chữ
cái. Theo nguyên tắc biểu trưng ngữ âm kết hợp với nguyên tắc thẩm mĩ, dấu
thanh điệu sẽ được đặt trên chữ cái thứ hai.
b. Thứ hai, có 57 vần có nguyên âm đơn, âm cuối khác /zero/. Trong đó:
b1. 17(-1) vần không có âm đệm, âm cuối được biểu diễn bằng một chữ cái. Riêng
vần “ooc”, nếu xét về mặt âm vị thì nó là một vần có âm chính là nguyên âm đơn,
khái quát hoá thành một mô hình khá cân đối như sau:
Với “luật” này, người làm bộ gõ cũng sẽ sẽ dễ dàng hơn trong việc tìm giải thuật
bỏ dấu thanh điệu.
Nhận xét 2. Có thể thấy việc bỏ dấu thanh điệu tiếng Việt lấy quy tắc biểu
trưng ngữ âm làm nguyên tắc chính. Điều này tương ứng với việc dấu thanh
điệu được đặt vào chữ cái biểu diễn cho âm chính của âm tiết. Trong trường hợp
nguyên âm đôi (âm chính được biểu diễn bằng hai chữ cái) thì chữ quốc ngữ sử
dụng thêm nguyên tắc thẩm mĩ. Cụ thể là:
o Với các âm tiết [-khép] (phụ âm cuối /zero/) thì dấu thanh điệu được
đặt trên chữ cái thứ nhất trong tổ hợp chữ cái biểu diễn nguyên âm chính. Ví
dụ: chĩa, úa, chùa, vựa, ừa
o Còn trong các âm tiết [+khép], dấu thanh điệu được đặt trên chữ cái
thứ hai trong tổ hợp chữ cái biểu diễn nguyên âm chính. Ví dụ: thuyền, yến,
muộn, uốn, mường