Bài thảo luận: Phân tích ảnh hưởng của môi trường kinh doanh quốc tế của Mỹ đến hoạt động kinh doanh quốc tế của các doanh nghiệp pot - Pdf 11

class="bi x0 y0 w1 h1"
Bài thảo Luận
Đề tài:
Phân tích ảnh hưởng của môi trường kinh doanh quốc tế của Mỹ đến hoạt
động kinh doanh quốc tế của các doanh nghiệp
Cùng với xu thế “toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập quốc tế” đang phát triển mạnh
mẽ chưa từng thấy, hoạt động kinh doanh quốc tế cũng ngày càng trở nên đa dạng, phong
phú và có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với mỗi quốc gia trong nền kinh tế toàn cầu.
Mỗi quốc gia đều tìm cách thâm nhập vào thị trường nước ngoài nhằm tận dụng lợi thế so
sánh để mở rộng hoạt động kinh doanh và phát triển kinh tế.
Nói đến môi trường kinh doanh quốc tế (KDQT) ta phải nhắc đến bốn môi trường
chính có sức quyết định hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp: Môi trường chính
trị, môi trường kinh tế, môi trường luật pháp, môi trường văn hóa. Người ta nói: “Nhập
gia tùy tục”, bất kỳ một doanh nghiệp nào khi muốn xâm nhập vào một thị trường mới
trên thế giới đều phải tìm hiểu thật kỹ các môi trường kinh doanh quốc tế tại nước sở tại
để xây dựng chiến lược phát triển kinh doanh phù hợp nhất. Mỹ là một trong những thị
trường có sức tiêu thụ lớn nhất thế giới, rất nhiều các quốc gia muốn xâm nhập vào thị
trường này và ngay cả Mỹ cũng muốn mở rộng hoạt động kinh doanh quốc tế. Vậy môi
trường kinh doanh quốc tế ở đây có đặc điểm gì? Nó ảnh hưởng thế nào đến hoạt động
kinh doanh quốc tế của các doanh nghiệp? Từ những câu hỏi nêu trên, nhóm 6 quyết
định chọn đề tài: “Phân tích ảnh hưởng của môi trường kinh doanh quốc tế Mỹ đến hoạt
động kinh doanh quốc tế của các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế”
Bài thảo luận gồm 3 phần:
Chương 1: Môi trường KDQT và tác động của nó đối với hoạt động KDQT
Chương 2: Ảnh hưởng của môi trường KDQT Mỹ đến hoạt động KDQT của
doanh nghiệp
Chương 3: Một số bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp Việt Nam KDQT tại
Mỹ
Mặc dù đã cố gắng hết sức nhưng do hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm, nên bài
thảo luận của nhóm không tránh khỏi những thiếu sót. Nhóm rất mong nhận được sự góp
ý của cô giáo và các bạn.

doanh nghiệp kinh doanh nội địa.
1.1.3. Sự cần thiết phải nghiên cứu môi trường kinh doanh
Tại mỗi quốc gia cững như từng khu vực lãnh thổ của quốc gia mà doanh nghiệp
đang và sẽ hoạt động đều có những đặc trưng khác nhau về môi trường kinh doanh. Các
nhân tố, điều kiện của môi trường kinh doanh rất phong phú, đa dạng và luôn biến đổi
khá phức tạp. Chính vì vậy, các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế phải có sự am hiểu về
môi trường kinh doanh và đưa ra cách ứng xử cho phù hợp, nhằm đạt được hiệu quả cao
trong kinh doanh.
Sự thành công nhiều hay ít trong hoạt động kinh doanh quốc tế của các nhà kinh
doanh của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào sự nhận thức và hiểu biết của họ về môi
trường kinh doanh mà họ vận hành các hoạt động của mình. Vì vậy, việc nghiên cứu môi
trường kinh doanh quốc tế là sự cần thiết cho mọi người, trước hết là cho những ai hoạt
động trong lĩnh vực kinh doanh quốc tế. Nó trang bị kiết thức cơ bản để các cán bộ hoạt
động trên lĩnh vực kinh doanh quốc tế có thể đưa ra được những quyết định tác nghiệp
hợp lý nhằm tối đa hoá mong muốn của họ.
Môi trường kinh doanh quốc tế tác động chi phối đến mục đích, hình thức và kết
quả hoạt động của doanh nghiệp. Hiểu biết tốt về môi trường kinh doanh mà mình hoạt
động sẽ cho phép các nhà quản lý, các nhà kinh doanh có được những đánh giá một cách
hệ thống các ý tưởng kinh doanh. Kiến thức về địa lý, về sự phân bố dân cư, hiểu biết về
lịch sử sẽ gợi mở cho các nhà kinh doanh quốc tế hiểu rõ hơn chức năng hoạt động cuả
mình. Kiến thức chính trị, luật pháp trong nước và quốc tế, những đánh giá về kinh tế
đang có vai trò đặc biệt quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Việc
nghiên cứu môi trường cạnh tranh cũng hết sức cần thiết, môi trường này đang tác động
trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp, buộc doanh nghiệp phải có sự
điều chỉnh linh hoạt, thay đổi các biện pháp, các chức năng hoạt động của mình cho
thích ứng với các điều kiện mới.
1.2. MÔI TRƯỜNG KDQT VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN HOẠT ĐỘNG
KDQT
1.2.1.Môi trường chính trị
1.2.1.1 Khái niệm môi trường chính trị

các doanh nghiệp, công ty ở trong và ngoài nước hay không
1.2.2 Môi trường luật pháp
1.2.2.1 Khái niệm môi trường luật pháp
Hệ thống pháp luật cung cấp khung pháp chế các quyết định và các quy tắc chỉ thị,
cho phép hoặc hạn chế mối quan hệ giữa người với người và các tổ chức, đưa ra hình
phạt cho những hành vi vi phạm quy định, quy tắc
1.2.2.2 Hệ thống pháp luật trên thế giới
 Luật án lệ
 Luật dân sự
 Luật tôn giáo
 Luật XHCN
 Các hệ thống luật hỗn hợp
1.2.2.3 Ảnh hưởng của môi trường luật pháp đến hoạt động kinh doanh quốc tế
• Rủi ro quốc gia nảy sinh từ môi trường pháp lý ở nước ngoài
Chính phủ của nước chủ nhà có thể áp đặt rất nhiều quy tắc luật pháp đối với
doanh nghiệp nước ngoài đang hoạt động kinh doanh tại nước mình.
Pháp luật đầu tư nước ngoài. Những bộ luật này có ảnh hưởng lớn đối với chiến
lược gia nhập thị trường của một doanh nghiệp, cũng như đối với cơ cấu và hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp đó.
• Kiểm soát cơ cấu tổ chức và hoạt động kinh doanh.
Chính phủ các nước thường ban hành các bộ luật cũng như nguyên tắc mà dựa
trên đó các doanh nghiệp điều tiết các hoạt động sản xuất, quảng bá, và phân phối của
mình trong phạm vi lãnh thô nước đó.
• Quy định về Marketing và phân phối.
Các bộ luật này chỉ rõ hoạt động quảng cáo, khuyến mãi, phân phối như thế nào là
hợp pháp. Ví dụ, chính phủ các nước Phần Lan, Pháp, Nga và New Zealand cấm quảng
cáo thuốc lá trên TV.
• Quy định về chuyển lợi nhuận về nước mẹ.
Chính phủ đặt ra các bộ luật hạn chế việc lưu chuyển dòng tiền như thế. Hành
động này là nhằm bảo tồn những ngoại tệ mạnh trong nội địa, như đồng Euro, đô la Hoa

 Kinh tế hỗn hợp
Hầu hết do thị trường quyết đinh, sở hữu tư nhân là phổ biến nhưng vẫn có sự can
thiệp của Nhà nước.
Hầu hết các nền kinh tế có thể coi là kinh tế hỗn hợp. có nghĩa là rơi vào khoảng
cách giữa thang phân cực kinh tế tư bản chủ nghĩa – kinh tế XHCN.
1.2.3.3 Các chỉ số phân tích môi trường kinh tế
Tổng thu nhập quốc gia
Tổng thu nhập quốc gia (Gross National Income - GNI) là thu nhập tạo bởi tất cả
các hoạt động sản xuất trong nước và quốc tế của các công ty một quốc gia. GNI là giá trị
của mọi hoạt động sản xuất của nền kinh tế nội địa cộng với thu nhập ròng (như tiền thuê
lợi nhuận, thu nhập nhân công) từ nước ngoài trong vòng 1 năm.
Tổng sản phẩm nội địa (GDP)
GDP là tổng giá trị của mọi hàng hóa dịch vụ được sản xuất trong biên giới của
một quốc gia trong vòng 1 năm, không phân biệt các chủ thể kinh tế nội địa hay nước
ngoài.
Tính toán các chỉ số trên đầu người: Cách phổ biến nhất là chia GNI cũng như
nhiều chỉ báo kinh tế khác theo số người sống trong một quốc gia để tìm ra chỉ số
GNI/GDP… dựa trên đầu người. Chỉ số này và các chỉ số khác cho thấy hiệu năng của
nền kinh tế trên cơ sở số người sống trong một nước. Ví du, Luxembourg, một nước có
nền kinh tế nhỏ nhất thế giới, giá trị tuyệt đối GNI khá thấp, nhưng GNI trên đầu người
lại cao nhất thế giới.
Tỉ lệ thay đổi: các chỉ số như GNI, GDP, các chỉ số trên đầu người cho chúng ta
biết kết quả hoạt động trong năm của một quốc gia, nhưng không cho biết sự biến động
của các chỉ số này. Việc nghiên cứu tình hình hiện tại và dự đoán hiệu quả kinh tế tương
lại đòi hỏi xác định tỉ lệ của các thay đổi.
Sức mua tương đương (Purchasing Power Parity - PPP): Các nhà quản lý khi so
sánh giữa các thị trường thường chuyển đổi chỉ số GNI của nước ngoài về đồng tiền của
nước họ. Về mặt tính toán, PPP là số đơn vị tiền tệ của một quốc gia cần thiết để mua
cùng một khối lượng hàng hóa dịch vụ trong thị trường nội địa của một nước khác.
Mức độ phát triển con người (Human development Index – HDI). Chỉ số phát

những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng.
Văn hoá là những giá trị có thể học hỏi, chia sẻ và liên hệ mật thiết với nhau, nã
cung cấp những định hướng cho các thành viên trong xã hội. Những định hướng này
cung cấp những giải pháp cho những vấn đề mà xã hội cần giải quyết.
Văn hoá được hiểu là tổng thể phức tạp, bao gồm ngôn ngữ, niềm tin, nghệ thuật,
đạo đức, luật pháp, phong tục và tất cả khả năng khác mà con người có được. Văn hoá
quy định hành vi của mỗi con người, thông qua mối quan hệ giữa người với người trong
tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Do có sự khác nhau về nền văn hoá đang tồn tại giữa các quốc gia, cho nên các
nhà kinh doanh phải sớm có những quyết định có hay không tham gia kinh doanh ở môi
trường đó. Điều này trong một chõng mực nhất định tuỳ thuộc vào sự chấp nhận của
doanh nghiệp đối với môi trường văn hoá nước ngoài. Sự khác nhau về văn hoá dẫn đến
sự khác nhau trong mô hình quản lý của các doanh nghiệp.
1.2.4.2 Các yếu tố văn hóa
 Ngôn ngữ
Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư duy và phong cách tư duy. Nó là sản phẩm
của văn hoá và là một nhân tố cấu thành của văn hoá. Nó cung cấp cho các nhà sản xuất
kinh doanh một phương tiện quan trọng để giao tiếp trong quá trình kinh doanh quốc tế.
Đối với các công ty đa quốc gia, hoạt động kinh doanh muốn mở rộng, trước hết đòi hỏi
phải thống nhất việc sử dụng ngôn ngữ. Thông thường hoạt động kinh doanh quốc tế tất
yếu liên quan hoặc đòi hỏi sử dụng nhiều ngôn ngữ khác nhau. Để giải quyết tình trạng
sử dụng nhiều ngôn ngữ khác nhau trong giao tiếp kinh doanh, chóng ta có thể thuê phiên
dịch và nhà giao dịch hoặc thuê cố vấn hay các chuyên gia.
 Tôn giáo
Tôn giáo cũng có liên quan và ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động hàng ngày
của các cá nhân, tổ chức trong xã hội. Vì vậy, các doanh nghiịep kinh doanh quốc tế cần
phải hiểu biết về các tôn giáo và vai trò của chúng trong xã hội, nơi mà các doanh nghiệp
tổ chức các hoạt động kinh doanh. Thông thường, các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế
phải quan tâm đến bốn vấn đề và tôn giáo, đó là:
+ Tôn giáo thống trị.

mà doanh nghiệp nghiên cứu sẽ giúp cho việc kinh doanh có hiệu quả.
Sự khác biệt về văn hoá sẽ ảnh hưởng đến cách thức giao dịch được tiến hành, loại
sản phẩm mà khách hàng sẽ mua và những hình thức khuếch trương có thể được chấp
nhận.
Giữa các nền văn hoá cũng có sự khác biệt về quản lý nhân lực, chính sách
Marketing và phương thức đàm phán giao tiếp. Nhân tố văn hoá có ảnh hưởng rất lớn đến
hoạt động kinh doanh quốc tế bởi nó tác động trực tiếp đến suy nghĩ và tính cách của
doanh nhân - chủ thể của hoạt động kinh doanh quốc tế.
Chương 2
ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG KDQT MỸ ĐẾN HOẠT ĐỘNG KDQT CỦA
MỘT DOANH NGHIỆP
2.1. ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ MỸ ĐẾN HOẠT ĐỘNG
KDQT
2.1.1. Sự công bằng trong hệ thống pháp luật
Sự công bằng của hệ thống pháp luật Hoa Kỳ là một điểm mạnh của nước này. Kể
từ khi thành lập Hoa Kỳ, đất nước này đã có một vai trò độc đáo và uy tín giữa các quốc
gia. Đây là quốc gia đầu tiên được sáng lập dựa trên nguyên tắc tự trị hạn chế. Bác bỏ chế
độ quân chủ, những người sáng lập đã tạo ra một chính phủ liên bang với 3 chi nhanh
riêng biệt: hành pháp, lập pháp, tư pháp. Mỗi chi nhánh trong khi thực hiện chức năng
được giao thì vẫn chịu sự kiểm tra, giám sát của hai chi nhánh còn lại
Cả hai công ty trong và ngoài nước đều được đối xử bình đẳng tại Hoa Kỳ và phải
tuân theo cùng các định luật, quy tắc, và các thủ tục để có được hoặc quản lý một khoản
đầu tư. Các nhà đầu tư nước ngoài được hưởng lợi từ một môi trường đầu tư thông
thoáng, minh bạch và không phân biệt đối xử. Tại Hoa Kỳ, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ
tìm thấy tự do chuyển nhượng vốn, lợi nhuận, cơ sở hạ tầng vật chất và tài chính tiên tiến,
và truy đòi hợp pháp, không phân biệt đối xử trong trường hợp có tranh chấp liên quan
đến đầu tư. Ngoài ra, không có cơ quan kiểm tra bắt buộc để xem xét và phê duyệt đầu tư
nước ngoài tại Hoa Kỳ. Không giống như các nước khác, không có quy định "đầu tư tối
thiểu cần thiết" hoặc các quy định khác tại Hoa Kỳ.
2.1.2. Sự ổn định về chính trị

Ông John Gilmour, giáo sư về chính sách công tại Đại học William and Mary ở
Virginia, cho biết các triết lý về chính quyền của hai phe đã thay đổi qua thời gian: "Đảng
Dân chủ từ lâu vẫn hậu thuẫn các chương trình lớn như các bảo hiểm xã hội, an sinh xã
hội và Medicare, là các chương trình cung cấp tiền hưu cho người già, hoặc bảo hiểm y tế
cho người cao niên, hoặc chương trình chăm sóc sức khỏe cho người nghèo. Trong khi đó
thì các thành viên của đảng Cộng hòa tương đối cũng có ủng hộ các chương trình này, thế
nhưng bây giờ có lẽ ít hơn lúc trước."
Cả ba học giả được trích dẫn ở trên đã chỉ ra: những thay đổi pháp lý và xã hội ở
Hoa Kỳ trong nửa thế kỷ qua đã góp phần tạo ra những khác biệt giữa hai đảng, ít khi
chồng lấn với nhau. Phong trào dân quyền trong những năm 1960 ở miền nam Hoa Kỳ đã
đẩy nhiều thành viên bảo thủ trong đảng Dân chủ về phía đảng Cộng hòa. Thành phần
cấp tiến ủng hộ sự bình đẳng giới tính và quyền phá thai thì thường gia nhập đảng Dân
chủ; trong khi những người ủng hộ các giá trị bảo thủ xã hội, giảm thuế và ít can thiệp
của chính quyền thường gia nhập nhóm người có đồng quan điểm trong đảng Cộng hòa.
Tóm lại, Mỹ là một quốc gia có nền chính trị khá ổn định, rất ít bạo loạn.Tuy có sự
khác nhau về triết lý của hai đảng Dân chủ và Cộng hòa nhưng mỗi đảng lại đi theo con
đường riêng nên ít xung đột nhau nên các doanh nghiệp nước ngoài có thể khá yên tâm
khi tiến hành thâm nhập thị trường lớn mạnh này.
2.2. ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG LUẬT PHÁP MỸ ĐẾN HOẠT ĐỘNG
KDQT
Trước trào lưu hội nhập, các doanh nghiệp đã có nhiều cơ hội để phát triển song
cũng gặp không ít khó khăn. Một doanh nghiệp muốn đứng vững trên thị trường quốc tế
phải đối mặt với vô số những yếu tố nằm ngoài tầm kiểm soát của mình. Một trong
những yếu tố nan giải nhất là pháp luật. Sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp
trong kinh doanh quốc tế phụ thuộc phần lớn vào doanh nghiệp có am hiểu các chính
sách, các luật lệ của nước sở tại hay không. Cho dù doanh nghiệp đóng ở đâu cũng bị ảnh
hưởng của hệ thống luật pháp và các chính sách của chính phủ nước đó.
Thất bại trong việc nghiên cứu yếu tố môi trường pháp luật và các ảnh hưởng của
nó đến các hoạt động kinh doanh của mình sẽ dẫn đến những hậu quả không lường trên
thị trường quốc tế. Trên thực tế đã có nhiều bài học đau đớn xảy ra đối với các doanh

lấy chứng nhận của Công ty giám định Việt Nam VINACONTROL.
Ví dụ về những bài học thất bại nêu trên của các doanh nghiệp Việt Nam cho
chúng ta thấy tầm quan trọng của yếu tố pháp luật trong kinh doanh quốc tế. Việc nghiên
cứu và hiểu rõ môi trường pháp luật trong nước, môi trường pháp luật ngoài nước, môi
trường pháp luật quốc tế và đặc biệt là việc nghiên cứu ảnh hưởng của nó đến các hoạt
động kinh doanh quốc tế trở nên cấp thiết đối với các nhà hoạt động kinh doanh muốn
thành công trên thương trường quốc tế.
Nói đến Mỹ, một quốc gia có hệ thống luật pháp nghiêm ngặt với các quy định
khắt khe. Không chỉ có bộ luật chung mà Mỹ còn có các bộ luật của từng bang. Vì thế để
có thể thâm nhập vào thị trường này việc hiểu biết về pháp luật là yếu tố tối quan trọng.
Các doanh nghiệp cần phải quan tâm đặc biệt đến điều này. Dưới đây là một số luật của
Mỹ ảnh hưởng trực tiếp đến kinh doanh quốc tế của các doanh nghiệp tại đây.
2.2.1. Luật thành lập doanh nghiệp tại Mỹ
Ở Hoa Kỳ không có quy định chung cho việc thành lập doanh nghiệp áp dụng cho
tất cả các bang. Quy định này ở mỗi bang một khác. Luật của các bang về các loại hình
doanh nghiệp có thể không hoàn toàn giống nhau; tuy nhiên, ở tất cả các bang đều tồn tại
bốn loại hình doanh nghiệp cơ bản. Hầu hết các bang đều không yêu cầu vốn tối thiểu để
thành lập doanh nghiệp.
2.2.1.1 Thủ tục đăng ký và công chứng giấy tờ
Công ty nước sở tại phải có đầy đủ giấy tờ thành lập công ty tại nước mình: điều
lệ thành lập công ty, danh sách cổ đông, sáng lập viên, giấy phép hành nghề.
Có các giấy tờ kèm theo: xác nhận hoạt động kinh doanh tốt, có hiệu quả do các
công ty kiểm toán độc lập, có uy tín cấp, do các ngân hàng có uy tín cấp, do các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền cấp (những giấy tờ này do mỗi bang yêu cầu khác nhau).
Mỗi bang có những yêu cầu công chứng giấy tờ khác nhau.
2.2.1.2 Lệ phí nộp đơn xin thành lập công ty
Tại Hoa Kỳ, quy định thu lệ phí khi nộp đơn không thực hiện thống nhất, có bang
không thu lệ phí khi nộp đơn như ở Washington DC, hoặc lệ phí 225USD như ở New
York nhưng cũng thường phát sinh một số chi phí khác. Tổng lệ phí thường không vượt
quá 500USD.

Sau khi có giấy phép kinh doanh tại Hoa Kỳ, doanh nghiệp phải đăng ký với các
sở Tài chính, sở thuế và các sở phụ trách chuyên ngành nếu hoạt động trong lĩnh vực có
quản lý chuyên ngành.
Những yêu cầu về đăng ký kinh doanh cho các bang quy định và công bố danh
mục mặt hàng phải có giấy phép kinh doanh mới được hành nghề. Người nước ngoài đầu
tư ở Hoa Kỳ chiếm trên 10% cổ phần của công ty phải báo cáo cho Vụ kinh tế Bộ
Thương mại và phải tuân thủ quy định 22 USC 3101-3108 về thương mại và dịch vụ, 15
CFR nếu vi phạm quy chế báo cáo sẽ bị phạt từ 2500-25000 USD. Có bang không cho
phép người nước ngoài được sở hữu một số loại tài sản cố định như đất đai nông nghiệp,
rừng v.v…
2.2.1.6 Thành lập các công ty mới ở bang khác
Công ty nước ngoài được thành lập tại một bang mà muốn mở thêm công ty mới
tại bang khác, phải làm thủ tục như khi bắt đầu từ nước ngoài vào bang đó. Tuy nhiên thủ
tục sẽ đơn giản hơn (Công ty Hoa Kỳ từ bang này muốn thành lập công ty/chi nhánh ở
một bang khác cũng có những luật lệ riêng áp dụng cho họ).
2.2.1.7 Thủ tục nhập cảnh cho thương nhân
Thị thực nhập cảnh vào Hoa Kỳ có thể cấp cho một năm, nhiều lần; tuy nhiên việc
gia hạn tiếp tại Hoa Kỳ chưa có tiền lệ hoặc thoả thuận cụ thể giữa chính phủ 2 nước.Thị
thực thương được xếp loại B1. Nếu có công ty chi nhánh tại Hoa Kỳ thì loại thị thực là
L1và thời hạn tới 3 năm. Tuy nhiên việc xin thị thực cho lãnh đạo công ty, cán bộ đến
Hoa Kỳ làm việc thương khó khăn phức tạp về thủ tục, giấy tờ do chính sách quản lý
nhập cảnh chung, chính sách quản lý hoạt động và nhân sự của Hoa Kỳ. Thông thường
nếu thuê luật sư để xin thị thực thì chi phí rất lớn; từ 1500 đến 3000USD cho việc hoàn
thiện hồ sơ xin thị cho tới lúc được cấp (phí nộp cho chính quyền chỉ khoảng hơn
100USD 1 thị thực).
2.2.1.8 Thuế dịch vụ tư vấn luật, thuế, mở tài khoản ngân hàng và lệ phí
Không nhất thiết phải có luật sư giúp khai thủ tục và nộp đơn. Phí thuê luật sư để
thành lập công ty không đắt, nhưng trong quá trình hoạt động có những vướng mắc thì sẽ
được tính theo giờ, vụ việc và tổng chi phí thường là khá cao và tuỳ theo uy tín của các
công ty luật và trình độ ,thâm niên của chính luật sư làm việc với khách hàng.

lương tối thiểu được đưa ra, yêu cầu toàn bộ các doanh nghiệp phải trả lương bằng hay
trên mức tối thiểu này. Mức lương tối thiểu hiện nay ở Mỹ do chính phủ liên bang quy
định là $5.151 giờ (tính từ năm 1997), và ở tiểu bang California hiện nay là $6.751 giờ.
Theo chương trình tăng lương của Mỹ đến năm 2007, mức lương của liên bang sẻ là
$7.25, còn của California là $8.001 giờ.
Theo luật lao động liên bang Mỹ, một tuần người công nhân làm việc 40 tiếng là
tiêu chuẩn. Sau số giờ này, thì những giờ còn lại sẽ tính phụ trội. Luật Lao động
California quy định bắt buộc về việc trả lương phụ trội cho những công nhân làm việc
trên 8 tiếng không cần biết số giờ của cả tuần là bao nhiêu. Ở những cơ xưởng đòi khỏi
phải tăng ca, họ có thể yêu cầu công nhân làm việc 3 ngày liên tục với mỗi ngày 12 tiếng
và cuối tuần thì trả tiền theo giá 36 tiếng cơ bản. Nhưng ở California nếu làm như vậy thì
8 tiếng đầu là trả theo cơ bản, 4 tiếng còn lại, thì trả gấp rưỡi. Như vậy 1 tuần làm 3 ngày
12 tiếng, ở California sẽ phải trả 42 tiếng tiền công. Ngoài ra, nếu công nhân làm việc
trên 60 tiếng 1 tuần, thì từ tiếng thứ 61 trở đi, họ được trả gấp đôi mức lương cơ bản.
Điều khoảng trả gấp đôi lương cơ bản này còn dược ứng dụng khi làm việc vào những
ngày lễ lớn. Còn khi làm vào cuối tuần thì thông thường được trả gấp rưỡi lương cơ bản.
2.2.3 Một số luật bảo vệ người tiêu dùng
Mỹ có rất nhiều luật để bảo vệ người tiêu dùng. Những luật này được áp dụng cho
gần như mọi sản phẩm sản xuất, phân phối hay bán trên thị trường này. Các công ty kinh
doanh tại Mỹ cần nắm được điều này để hiểu rõ trách nhiệm của mình đối với sản phẩm
hay dịch vụ cung cấp và tránh các rắc rối pháp lý.
Thị trường Mỹ với kim ngạch nhập khẩu khổng lồ lên đến trên 1300 tỷ USD là rất
hấp dẫn với bất cứ nước nào.
2.2.3.1 Luật trách nhiệm đối với sản phẩm
Theo thông luật bảo vệ người tiêu dùng (Common Law Consumer Protection) hay
còn gọi là Luật về trách nhiệm đối với sản phẩm (Products Liability Law), cơ quan luật
pháp Hoa Kỳ yêu cầu các nhà sản xuất, phân phối và bán lẻ phải có trách nhiệm đối với
thương tật và thiệt hại do những khuyết tật của sản phẩm gây ra cho người sử dụng hoặc
những người ở gần sản phẩm đó. Trách nhiệm sản phẩm thường dựa trên các nguyên tắc
pháp lý về sự bất cẩn, vi phạm bảo hành hoặc trách nhiệm tuyệt đối.

Ngày 17 tháng 3 năm 2004, CPSC và nhà sản xuất ở Chicago, bang Illinois đã ra
thông báo số 04-098 thu hồi 150.000 lò sưởi điện do hãng này sản xuất đã được tiêu thụ ở
Hoa Kỳ với giá từ 30 đến 40 USD/chiếc trong giai đoạn từ tháng 8 năm 1996 đến tháng 2
năm 2004.
Mặc dù chưa có trường hợp tai nạn nào liên quan đến sản phẩm này được phản
ảnh, song CPSC và Công ty đã quyết định thu hồi sản phẩm sau khi phát hiện các mối nối
điện bên trong lò sưởi có thể bị lỏng dẫn đến các bộ phận kim loại của lò sưởi có thể bị
nhiễm điện gây nguy hiểm cho người dùng. Người tiêu dùng được khuyến cáo không nên
tiếp tục dùng sản phẩm này, và liên hệ với Công ty để được sửa chữa miễn phí hoặc thay
thế sản phẩm mới.
2.2.4 Một số quy định về hàng nhập khẩu vào Mỹ
2.2.4.1 Quy định về xuất sứ hàng nhập khẩu đưa vào Mỹ
Việc xác định xuất sứ rất quan trọng vì hàng nhập khẩu ở những nước đang phát
triển hoặc những nước đã ký kết hiệp định thương mại với Mỹ sẽ được hưởng thuế xuất
thấp hơn.
Xuất sứ của mặt hàng được xác định theo nguyên tắc biến đổi phần lớn về giá trị
và được định nghĩa như sau: sản phẩm được xác định vào nước gốc là nơi cuối cùng sản
xuất ra sản phẩm với du lịch sản phẩm đã biến dạng để mang tên mới và có đặc tính sử
dụng mới. Ví dụ khi Việt Nam nhập khẩu vải để may thành áo xuất khẩu sang Mỹ thì sản
phẩm mang xuất xứ Việt Nam, vì khi ấy tên của sản phẩm mới là áo và để mặc khác với
sản xuất đặc tính ban đầu của vải. Hoặc Việt Nam nhập khẩu da về may mũ giày, rồi đưa
đi nước khác để gắn với đế thành giầy hoàn chỉnh, trường hợp này xuất xứ của sản phẩm
được ghi là Việt Nam .
Khi xuất khẩu vào Mỹ, muốn được hưởng thuế xuất ưu đãi theo nước xuất xứ, luật
Mỹ quy định trên sản phẩm phải ghi nhãn của nước xuất xứ. Sản phẩm xuất xứ từ Việt
Nam thì phải ghi “made in Việt Nam”. Quy định này chỉ bắt buộc với sản phẩm hoàn
chỉnh, khi nhập vào Mỹ có thể bán thẳng cho người tiêu dùng.
Có một quy định đặc biệt là hàng hoá gốc từ Mỹ đưa sang nước khác để sắp xếp
lại, gia công thêm và đóng gói khi nhập khẩu trở lại Mỹ sẽ không phải đóng thuế nhập
khẩu cho phần nguyên liệu có gốc từ Mỹ. Dựa vào quy định này, các doanh nghiệp có thể

2.2.5 Luật thuế
Mỹ có hệ thống luật pháp chặt chẽ, chi tiết và phức tạp hàng đầu thế giới. Luật
pháp được xem là một vũ khí thương mại lợi hại của Mỹ. Người ta nói rằng có hiểu biết
về luật pháp xem như bạn đã đặt được một chân vào thị trường Mỹ. để bảo hộ nền sản
xuất trong nước, Mỹ đặt ra rất nhiều quy định về thương mại tạo ra rào cản rất lớn với
các doanh nghiệp nước ngoài mà tiêu biểu là 3 luật thuế đối kháng, thuế chống bán phá
giá và thuế bù giá
2.2.6.1. Luật thuế đối kháng
Mục đích của luật này là làm vô hiệu hoá ưu thế cạnh tranh không bình đẳng của
nhà sản xuất/xuất khẩu nước ngoài đối với nhà sản xuất/xuất khẩu Hoa Kỳ nhờ có trợ cấp
của nước họ. Thuế đối kháng đúng bằng trị giá tịnh của phần trợ cấp và được thu khi
nhập khẩu vào Hoa Kỳ
Phần A Chương VII Luật thuế quan 1930, bổ sung bằng Luật Hiệp định thương
mại 1979, bổ sung bằng Luật thuế quan và thương mại 1984, OTCA 1988 và luật về các
hiệp định thương mại vòng đàm phán Uruguay 1994 nêu rõ: ngoài các lọai thuế, phí
khác, thuế đối kháng sẽ được đánh tương đương với trợ giá tịnh của phần trợ cấp, nếu
thoả mãn hai điều kiện: một là Bộ Thương mại Hoa Kỳ- cần phải làm rõ là có trợ cấp đối
kháng, trực tiếp hay gián tiếp, liên quan đến sản xuất, xuất khẩu của nhóm/loại hàng nhập
khẩu hoặc được bán vào Hoa Kỳ và phải xác định trị giá của phần trợ cấp tịnh. Hai là, ủy
ban Thương mại quốc tế Hoa Kỳ-ITC-phải xác định được là ngành công nghiệp Hoa Kỳ
bị thiệt hại vật chất, hoặc có nguy cơ bị thiệt hại vật chất, hoặc việc hình thành một ngành
công nghiệp Hoa Kỳ bị đẩy lùi, vì lý do nhập khẩu mặt hàng đó hoặc việc bán (hoặc
tương tự như bán) hàng đó vào Hoa Kỳ- gọi là việc kiểm tra thiệt hại-injury test. Luật
được áp dụng cho nhập khẩu từ các nước WTO (theo Hiệp định trợ cấp và các biện pháp
chống đối kháng-gọi là HD trợ cấp, hoặc với các nước mà Hoa Kỳ có hiệp định MFN vô
điều kiện. Hiệp định trợ cấp quy định các loai trợ cấp bị cấm-trợ cấp vi phạm- “đèn đỏ”
như: 1- trợ cấp dựa trên năng lực xuất khẩu, 2- trợ cấp dựa trên sử dụng nhiều hàng nội
hơn hàng nhập.
Hiệp định cho phép 3 loại trợ cấp “đèn xanh”-không gây phản ứng đối kháng: 1-
một số trợ cấp nghiên cứu (ngoại trừ trợ cấp cho ngành hàng không, 2- trợ cấp cho khu

2.3. ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG KINH TẾ MỸ ĐẾN HOẠT ĐỘNG
KDQT
2.3.1. Vài nét về nền kinh tế Mỹ
Mỹ là một trong những cường quốc kinh tế, khoa học, công nghệ và quân sự hàng
đầu thế giới, đồng thời cũng là một trong ba trung tâm kinh tế và tài chính quốc tế lớn
nhất thế giới.
Với diện tích 9.363.364 km
2
, với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa
dạng (dầu mỏ, khí đốt, than, quặng Uran, thủy điện ) nước Mỹ đã đạt tới trình độ của
một quốc gia phát triển về công nghiệp. Những ngành mũi nhọn của Mỹ là chế tạo hàng
không , điện tử, tin học, nguyên tử , vũ trụ , hoá chất. Ngoài ra, công nghiệp luyện kim,
dệt, chế tạo xe hơi cũng đạt trình độ phát triển cao. Ngành nông nghiệp Mỹ có trình độ
phát triển cao với ưu thế chính về cơ giới hoá, kỹ thuật canh tác tiên tiến, giống có năng
suất cao, sử dụng hiệu quả phân bón, hệ thống thuỷ lợi hoàn hảo.
Ngành dịch vụ Mỹ (dịch vụ đời sống, vận tải, thông tin, thương mại, ngân hàng,
tài chính, bảo hiểm ) rất phát triển chiếm tới 70% thu nhập quốc dân và thu hút 70% lao
động cả nước.
Hệ thống giao thông vận tải Mỹ hiện đại với hơn 3 triệu người làm việc. Cả nước
có gần 150 triệu chiếc xe ô tô (gấp 2 lần ở Nhật Bản ), có tổng chiều dài đường sắt là
310.000 km, khối lượng vận tải đường không chiếm 40% tổng khối lượng vận tải hàng
không thế giới.
Mỹ là nước có trình độ khoa học và công nghệ tiên tiến trong hầu hết các lĩnh vực
và luôn luôn có nhu cầu và khả năng trao đổi khoa học, kỹ thuật và chuyển giao công
nghệ. Lực lượng nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ có tới 95 vạn người, chưa
kể số nhân viên kỹ thuật.
Mỹ có nền đại học đa dạng, với 1200 cơ sở đào tạo trong đó có 891 trường đại
học, đặc biệt có 35 trường đại học nổi tiếng nhất đào tạo cả cho người nước ngoài.
Về ngoại thương, Mỹ là nước nhập siêu. Năm 1999, tổng kim ngạch nhập khẩu là
1.156,106 tỷ USD, năm 2000 là 1.314,493 tỷ USD chủ yếu từ các nước Canada, Nhật

luật về thương mại. Các doanh nghiệp khi thâm nhập vào thị trường này cần phải nhờ đến
sự trợ giúp của các chuyên gia và luật sư.
Một điểm đáng chú ý đối với các doanh nghiệp khi xâm nhập vào thị trường Mỹ
đó là những chính sách ưu đãi. Bởi nếu được hưởng ưu đãi này thì hàng hoá sẽ có sức
cạnh tranh lớn hơn rất nhiều so với khi không được hưởng. Các chính sách ưu đãi như
sau:
o Quy chế tối huệ quốc (MFN: Most Favoured Nations ) là chính sách thương mại truyền
thống quan trọng của Mỹ. Chính sách này cho phép hàng hoá của bạn hàng nhập vào Mỹ
được hưởng tỷ lệ thuế thấp hơn so với mức thuế của các bạn hàng không được hưởng quy
chế này và ngược lại họ cũng phải giành cho hàng hoá của Mỹ những ưu đãi tương tự.
o Chế độ thuế quan phổ cập (GSP : Generalised System of Preferences) là chế độ ưu đãi
thuế quan mà Mỹ và 17 nước công nghiệp phát triển dành cho các nước đang phát triển,
nếu đạt được sẽ còn có lợi hơn cả quyền được hưởng MFN. Hầu hết các nước được
hưởng đều là thành viên của WTO. Nội dung chính của GSP là miễn thuế hoàn toàn hoặc
ưu đãi thuế thấp cho các mặt hàng nhập từ các nước đang phát triển được họ cho hưởng
GSP mà không có điều kiện có đi có lại và mặt hàng được hưởng ưu đãi GSP phải đáp
ứng tiêu chuẩn mà Mỹ đề ra.
2.3.2. Một số chỉ số đặc điểm của môi trường kinh tế Mỹ tác động đến hoạt động
KDQT
2.3.2.1. Môi trường kinh tê có tính mở cao.
Hoa Kỳ là quốc gia tiên phong trong việc ủng hộ tự do hóa thương mại vì vậy các
quy chế xuất nhập khẩu mà quốc gia này đã và đang áp dụng đều phù hợp với những
nguyên tắc cơ bản của WTO, đây là quốc gia nhập khẩu với khối lượng lớn các mặt hàng
có hàm lượng lao động cao: dệt may, giày dép…trong đó có nhiều mặt hàng tiêu dùng
thông thường mà Hoa Kỳ hầu như không sản xuất. Một thực tế là sự phát triển của nền
kinh tế Hoa Kỳ đã liên tục đóng góp cho sự phát triển toàn cầu nhờ duy trì chính sách mở
cửa thị trường. Thông qua chính sách mở cửa của mình, các nhà sản xuất cũng như người
tiêu dùng Hoa Kỳ có thể tiếp cận với hàng hóa dịch vụ từ nước ngoài với những điều kiện

Trích đoạn Cấu trúc thuế ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG VĂN HÓA MỸ ĐẾN HOẠT ĐỘNG KDQT BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM KDQT TẠI MỸ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status